tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
24.01.2016
Lưu Văn Khuê
Mạc Đăng Dung

  9. Mùa xuân năm Tân sửu (1541), khoa thi cử nhân diễn ra, về bề ngoài vẻ như vẫn yên ổn như mọi khoa, thực ra sĩ tử xôn xao về việc dự thi Hội, thi Đình năm nay rất ít người Thanh Hoa, Nghệ An! Chuyện của Lương Hữu Khánh khoa trước tưởng nhỏ hoá thành lớn, khiến sĩ tử mạn trong kẻ thì bất bình người thì sợ hãi nên những người đang theo học ngoài Bắc là còn đi thi chứ theo học trong đó thì không ai ra dự thi! Vả lại, ai dẫu muốn ra thi cũng không được vì nhà Lê trung hưng đã chiếm được Diễn Châu và một phần ái Châu, chặn mất đường Hạ đạo, con đường bộ duy nhất còn thuận tiện để thông thương Bắc - Nam.


   Lương Hữu Khánh sau khi trốn thoát vào Thanh Hoa đã tìm đường theo nhà Lê trung hưng. Được Nguyễn Kim hỏi về việc nhà Mạc, Hữu Khánh nói:


   - Tuy hiện chỉ để mất có Diễn Châu và một phần ái Châu nhưng trước sau  họ Mạc cũng sẽ mất hết cả một nửa đất nước từ ái Châu trở vào vì đất đai của họ không còn đoạn giữa khiến rất khó khăn trong việc giữ phần đất mạn trong là hai châu Thuận, Hoá và đạo Quảng Nam (*). Mọi việc, từ di chuyển quân đội, cung ứng lương thảo cho tới tấu, biểu, chiếu, chỉ đều phải theo đường biển, dễ gặp phải sóng gió bất thường. Nhưng cũng không có nghĩa phần đất mạn trong ấy sẽ dễ   


 _______________


(*) Các châu phía Nam thời Lê - Mạc đại thể tương ứng với các địa phương ngày nay: ái: Thanh Hoá; Diễn: Nghệ An, Hà Tĩnh; Hoan: Quảng Bình; Ô, Lý (tức Thuận, Hoá): Quảng Trị, Thừa Thiên; đạo Quảng Nam: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.


dàng thuộc về triều Lê vì họ Mạc đã cho hai thân vương là Mạc Nhân Phủ và Mạc Quang Khải toàn quyền. May sao hai người này đều bất tài nên khó mà giữ được đất lâu dài. Nếu như họ Mạc cho Mạc Kính Điển vào đấy thì thật khó cho ta. Xem ra đất ấy còn dễ bị người Chiêm Thành chiếm lại. Nhưng Chiêm Thành giờ không còn mạnh như trước nên chẳng có gì phải lo xa. Đất Thuận Hoá và Quảng Nam tuy phần  nhiều là rừng núi, dân cư thưa thớt, hiện tại dẫu được hay mất cũng không quan trọng lắm nhưng vì nó trải dài tới tận đèo Cù Mông và là nơi từ đó để


mở mang đất nước sau này nên cần phải mau chóng chiếm lấy.


   Nguyễn Kim mừng lắm:


   - Nhà Mạc để mất một người như tướng quân, nhà Lê thì được một người như tướng quân, thật là lòng trời đã ngả về Nam triều. Đăng Dung lâu nay đau ốm luôn, vậy ta còn lo gì nữa.


   - Nhưng Bắc triều có một người nếu vua Mạc nghe theo thì sự nghiệp trung hưng của Nam triều khó có thể thành.


- Ai vậy?


   - Thưa, đó là Trình Tuyền hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy dạy của hạ dân. Hạ dân bỏ thi Đình đã là trọng tội, lại theo Nam triều tội càng nặng nữa, làm sao mà thầy dạy lại không liên đới cơ chứ, thế mà Trình Tuyền hầu chỉ bị trách móc, qua đó đủ biết được nhà Mạc kính nể đến chừng nào.


   - Ta cũng có nghe nói đến Trình Tuyền hầu. Chỉ là một hầu tước mà được kính nể như vậy thì thật lạ. Ngươi có thể ra Bắc mời ông ấy về với Nam triều được không?


   - Quốc công bảo thì tôi phải đi nhưng không chắc mời được vì dẫu sao Trình Tuyền hầu vẫn nặng hai chữ “trung quân”. Tuy thế vẫn có thể khéo léo hỏi những việc lớn được.


   Nhân hai con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cùng con rể là Trịnh Kiểm ở đấy, Nguyễn Kim nói với họ:


   - Các con nhớ đấy, sau này có việc gì lớn thì phải tìm hỏi Trình Tuyền hầu.


   Nguyễn Kim thưởng cho Lương Hữu Khánh rất hậu và phong ngay cho tước bá.


                                                               *


   Vốn đã không bằng lòng với việc các giám khảo khoa thi Hội cách đây ba năm đánh tụt Lương Hữu Khánh xuống một bậc chỉ vì Hữu Khánh là người Thanh Hoa, nay lại nghe đồn Hữu Khánh được Nam triều trọng dụng, Thượng hoàng Mạc Đăng Dung bực đến


mức sai ngay người mang chỉ về kinh trách mắng nhà vua không biết dùng người. Nhận chỉ rồi, vua Mạc sai người viết biểu tạ lỗi, nhân tiện hỏi thăm sức khoẻ của Thái thượng hoàng. Sứ giả nói Thái thượng hoàng lâu nay thường buồn rầu và đau ốm luôn nên hay tức giận.   


   Vua Mạc liền sai Thái bảo Bàn Quốc công Đặng Văn Trị, Thái bảo Dương Quốc công Đặng Đôn Cẩn và Thiếu bảo Liêm Quận công Nguyễn Bỉnh Đức mang biểu tạ lỗi về Cổ Trai đồng thời hầu bệnh Thái thượng hoàng. Tới nơi, thấy sức khoẻ Thái thượng hoàng trở nên nguy ngập, họ liền cho người về kinh tâu với nhà vua. Vua Mạc vội xa giá cùng hoàng gia tôn thất và các đại thần về Cổ Trai.


   Đang thiêm thiếp, nghe quần thần nói nhà vua đã từ kinh đô về hầu bệnh,  Thái thượng hoàng bực quá mắng ngay nhà vua:


   - Ta có gọi đâu mà nhà ngươi lại về đây? Ta dù có chết thì cũng quan trọng gì! Phải biết lấy xã tắc làm trọng chứ! Ngươi phải lập tức quay lại kinh sư ngay, không được chậm trễ!


   Thái hoàng thái hậu nói:


   - Dẫu sao Hoàng tôn cũng đã về đây, Thượng hoàng có dặn gì thì dặn, nhỡ mai đây trăm tuổi có muốn cũng không được. Nghe rồi, Hoàng tôn có trở về kinh đô cũng không muộn.


Thượng hoàng Mạc Đăng Dung nghe ra và nói:


   - Ta xuất thân chỉ là kẻ áo vải mà làm nên nghiệp lớn. Xưa đức Thái Tổ nhà Lê cũng chỉ làm phụ đạo ở Khả Lam. Đó là bởi lòng giời. Cùng với lòng giời là lòng người. Nên điều ta muốn nói là phải lấy dân làm trọng. Cổ nhân có nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Dân quý nhất vì là gốc rễ, bởi có dân mới có xã tắc; có xã tắc nên mới sinh ra vua và cần có vua; thế nên vua là thứ yếu. Vả lại không vua này thì có vua khác, còn dân thì vạn đại. Nên phải nghĩ đến dân đến nước chứ đừng chăm chắm nghĩ đến cái ngôi của mình. Muốn vậy không những thương lấy dân mà phải có kế sách hay. Lại nữa, Y Doãn có dạy vua Thái Giáp: “Vô an quyết vị duy nguy” nên đừng coi ngôi vua là yên, cần phải nghĩ đến sự nguy mà lo trước. Đã lo thì phải chăm sửa mình, muốn sửa mình thì phải chân chính, thưởng phạt công bằng, chăm lo pháp trị, xa thanh sắc, tránh phường gian nịnh, anh em ruột thịt thương yêu nhau, lấy cái chuyện tệ hại ngày trước của thời Đoan Khánh, Hồng Thuận mà soi mình, lấy cái ngu dốt của Quang Thiệu, Thống Nguyên mà răn mình.


Mạc Đăng Dung nói với các quan:


   - Các ngươi theo ta đã lâu ngày, chẳng may Đại Chính mất sớm, Quảng Hoà đây kế vị vẫn còn trẻ tuổi, chưa quen việc nước, lại không may rơi vào thời buổi khó khăn, Bắc thì nhà Minh quấy nhiễu, Nam thì nhà Lê ra sức  trung hưng. Vậy các ngươi hãy vì ta và Đại Chính mà hết lòng giúp đỡ Quảng Hoà. 


Thượng hoàng vời Lê Bá Ly lại, hỏi:


   - Ngươi năm nay bao nhiêu tuổi rồi?


- Tâu Thượng hoàng, hạ thần năm nay 68.


   - Ngươi hơn ta những 9 tuổi mà vẫn còn khoẻ thế này. Đúng là con người ta chẳng biết thế nào, ngày trước, cái hồi ta đi thi võ và trúng đô lực sĩ, ngươi chỉ là anh thư sinh sức không mang nổi thanh đao của ta! Ngươi là bậc đệ nhất lão thần nên khoẻ là rất mừng cho xã tắc. Con trai ngươi lấy trưởng công chúa Cẩm Hương, con gái ngươi thì lấy Nguyễn Quyện, con trai Nguyễn Thiến, con thứ thì quản đội Cấm binh nên cả nhà ngươi đều là chỗ dựa của triều đình, vì vậy cần làm sao cho xứng đáng.


Mạc Đăng Dung lại vời Nguyễn Bỉnh Đức tới bên:


   - Ngươi thì ta không cần phải hỏi tuổi vì hồi xưa cùng học với ta, tuổi cũng trạc như ta. Ngày trước không có ngươi và Vũ Hộ thì ta làm sao thắng nổi Chiêu Tông.


   Lê Bá Ly và Nguyễn Bỉnh Đức cùng lậy tạ. Mạc Đăng Dung nói với tất cả:


   - Ta không thể nói riêng với từng người được, chỉ có hai câu dặn chung như thế này: Thứ nhất, hãy cẩn trọng trong mỗi việc làm, dẫu là việc quốc gia đại sự hay là việc của riêng mình; thứ hai, các ngươi đều là rường cột quốc gia, vậy nên cố gắng làm chỗ dựa vững chắc cho triều đình. Bây giờ bách quan hãy lui, ta có điều muốn nói riêng trong nhà.


   Mọi người lục tục ra ngoài, chỉ còn mươi người trong họ ở lại. Mạc Đăng Dung nói:


   - Việc ngoại giao ta đã tìm hết cách để giữ cho đất nước khỏi nạn binh đao. Ta không để mất một tấc đất nào cho nhà Minh, còn như 4 động thuộc đô Như Tích và Chiêm Lãng là tự thủ lĩnh của họ đem đến nước ta, được 13 năm, lại quay về với nhà Minh, đó là chuyện của họ. Lúc lên Nam Quan ta có cúi chào lá cờ có chữ “Minh”, đấy là chào sự quang minh chính đại chứ không phải chào triều kỳ nhà Minh. Ta cũng mới hứa suông với đám quan biên trấn nhà Minh là sẽ xưng thần và nhận lịch của họ nhưng tất cả đều chưa thành sự thật. Vả lại hai thứ đó suy cho cùng chỉ là điều hư nghĩa. Mai sau con cháu liệu tình thế mà khu xử, cốt sao cho quốc thái dân an nhưng cũng chớ để mất thể diện quốc gia, nhất là quyết không để mất tấc đất nào. Còn nhà Lê trung hưng, trước đây ta cũng xem thường vì nghĩ kẻ cố cùng là Nguyễn Kim cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Ta nhớ, hình như hắn hơn ta những 15, 16 tuổi. Nhưng nay đã bắt đầu thấy sợ vì xuất hiện Trịnh Kiểm! Không ngờ cái gã chuyên ăn trộm gà hàng xóm ấy lại giỏi giang đến thế. Y lại còn trẻ!


Thượng hoàng đăn chiêu một lúc rồi bảo:


   - Vả lại, nhà Mạc ta nay đứng trên thiên hạ, nhưng đừng nghĩ sẽ tồn tại vĩnh viễn. Từ trước đến nay trời cũng chỉ cho các họ khác trăm năm, vài trăm năm là cùng. Hiến thành hoàng thái hậu ngày trước có thuật lại với ta lời của kỳ lão nói về phần mộ ở bãi Sao Sa rằng đó là chỗ đất tốt, có thể để phúc được cho 10 đời con cháu. Ta không mê tín nhưng cứ cho rằng được như thế đi thì đã là quá tốt. Thế nên hãy dặn con cháu sau này nếu gặp họa thì phải tránh những nơi nguy hiểm, thay tên đổi họ để giữ lấy giòng giống. Nhưng phải thay đổi thế nào để về sau anh em con cháu còn nhận ra nhau. Ta thoáng nghĩ như thế này: Chữ Mạc trên đầu có bộ “thảo”, dưới chân có chữ “đại”, vậy hãy “khử túc bất khử thủ”, chỉ bỏ chân chứ không bỏ đầu, vì thế hãy đổi sang những họ nào cũng có “thảo đầu”, như Hoàng, Phạm, Phan, Hoa... Kể cả là họ Lê nữa, nhưng thêm chữ “Đăng” làm tên đệm, thành Lê Đăng để phân biệt với nhà Lê. Ngay như dùng họ Hoàng, họ Phan cũng có thể là Hoàng Đăng, Phan Đăng để khỏi lẫn với những họ khác. Cũng có thể đổi sang họ mẹ nhưng hãy giữ lấy chữ Đăng. Việc này tuyệt mật nên ta chỉ nói riêng trong nhà là vì vậy. Ngay các đại thần được ban quốc tính ta cũng không nói với. Thế thôi, ta không thể dặn hết mọi điều được. Ta sẽ không viết di chúc để lại. Khi ta mất không được làm đàn chay cúng Phật tốn kém và mỏi sức những kẻ hầu hạ. Bây giờ thì các ngươi hãy kíp về kinh sư để trấn an nhân tâm, lấy xã tắc làm trọng vì ta chưa đi ngay đâu.


   Ngay đó vua Mạc Phúc Hải trở về Đông Kinh, lưu một số cận thần ở lại hầu bệnh. Hôm đó là tháng 8, ngày Nhâm tuất. Nửa tháng sau, ngày 22, tức ngày ất hợi, Thái Thượng hoàng đòi kẻ hầu cho ra ngoài sân. Thượng hoàng ngắm trời đất khá lâu, đặc biệt, hướng về phía biển và dãy Đồ Sơn như muốn nhìn không chán mắt, sau đó vào nhà và qua đời!


   Thái thượng hoàng nhà Mạc thọ 59 tuổi, ở ngôi 3 năm rồi truyền ngôi, ra ở ngoài cung 12 năm. Ba ngày sau, kinh sư nhận được tin báo tang, vua Mạc dẫn quần thần về Cổ Trai, sai Sùng An vương Mạc Nhân Trí, Kỳ Quận công Mạc Ninh Nghệ, Lương Quận công Phạm Kim Bảng, Tổng thái giám Vũ Cảnh Hành lo việc tang lễ.


   Một tháng sau, Đông các đại học sĩ Thiếu bảo Liêm Quận công Mạc Ninh Bang (Nguyễn Bỉnh Đức) dâng tờ sách lên vua, xin đặt tên thuỵ Mạc Đăng Dung là Nhân minh Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thái Tổ. Thi hài được an táng tại Long Sơn, đặt mộ hiệu là An Lăng. Thượng thư Bộ Hình là Ngô Miễn Thiệu và Thị thư Giáp Hải được giao soạn văn bia.


   Thời thế tạo anh hùng và anh hùng tạo thời thế. Vậy là kết thúc sự nghiệp lẫy lừng của một người chỉ xuất thân từ bình dân ở một làng chài miền Cổ Trai, huyện Nghi Dương, xứ Hải Đông, mở đầu cho một triều đại trong lịch sử của một dân tộc.


 


Vĩ thanh


    1 


    Được tin Mạc Đăng Dung mất, Nguyễn Kim sai Trịnh Kiểm sang Ai Lao đón Lê Trang Tông về Nghệ An, quyết tâm sự nghiệp trung hưng nhà Lê.


   Thấy triều đình nhiều chuyện không còn được như trước, năm Nhâm dần (1542), Nguyễn Bỉnh Khiêm mượn cách dâng sớ xin chém mười mấy lộng thần, vua không nghe, để xin về an trí. Vua cho về với điều kiện có việc gọi thì phải về kinh. Đầu năm Quý mão (1543) Trang Tông thân chinh cầm quân, cùng Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim và Đại tướng quân Dực Quận công Trịnh Kiểm tiến ra Thanh Hoa. Hoằng vương Mạc Chính Trung không chống nổi phải chạy về Sơn Nam, tướng Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đường cùng nên đầu hàng nhà Lê. Trang Tông để ra hai năm củng cố những nơi đã lấy được, sau đấy vượt đèo Tam Điệp tiến đánh Sơn Nam Hạ. Từ đây chính thức bắt đầu cuộc chiến kéo dài 50 năm (1543 - 1592), sử gọi là nội chiến Nam - Bắc triều.


   Trong khi dừng lại đóng quân ở hạt Yên Mô thì Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất bỏ thuốc độc giết chết. Dương Chấp Nhất lại trở về với nhà Mạc. Nhân đó, quân Mạc tiến đánh quân Lê nhưng bị thua. Trịnh Kiểm cũng rút về Thanh Hoa.


   Trịnh Kiểm được phong làm Lượng Quốc công, Tiết chế quân thuỷ bộ, được độc quyền nắm giữ việc binh, tổng tài chính sự, trị dân dạy người, tuyên bố uy đức. Năm ất tị (1545) nhà Lê tiến quân vào mạn Nam đánh đất đai nhà Mạc trong đó, sự nghiệp trung hưng bắt đầu mạnh từ đây. Thấy vậy, hào kiệt nhiều nơi theo tìm đến. Học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Phùng Khắc Khoan cũng từ Bắc tìm đường vào với Nam triều.


   Để đề phòng giặc Minh xâm lược, Ninh vương Mạc Phúc Tư (con thứ hai của Mạc Đăng Doanh) từ khi được giao cai quản dải đất ven biển các huyện Thuỷ Đường, Nghi Dương, Đông Triều, đã chọn vùng sông Giá, sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng để lập đại bản doanh ở núi Phượng Hoàng, làm Đượng Voi, đắp Thành Dền, vừa làm thành vừa là đấu đong quân, rồi quai đê ngăn nước mặn, đắp đường, dựng lò gạch, đóng thuyền, luyện thuỷ quân...


   Trong khi thế và lực của nhà Mạc bắt đầu đi xuống thì vua Mạc Phúc Hải đột ngột qua đời khi tuổi mới ngoài 20, ở ngôi được 6 năm. Đó là năm Bính ngọ (1546). Triều đình đặt tên thuỵ cho nhà vua là Hiến Tông Hiển hoàng đế.


                                                             *


   Vua Mạc Phúc Hải mất, Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi bàn: “Hiện trong nước đương lúc nhiều nạn, nên lập vua lớn tuổi. Nay Hoằng vương Chính Trung là con thứ của vua Thái Tổ  đã nhiều phen cầm quân và thường thắng trận. Vậy xin dựng lên nối ngôi”. Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính không nghe, lập con trưởng Mạc Phúc Hải là Mạc Phúc Nguyên. Vua tuổi còn nhỏ nên bao nhiêu công việc lớn nhỏ đều uỷ thác vào người chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển.


   Phạm Tử Nghi liền làm phản, cùng Mạc Chính Trung chiếm cứ miền Hoa Dương, lập triều đình riêng. Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính mấy lần mang quân đánh Chính Trung và Tử Nghi không nổi vì Tử Nghi vốn là một kiện tướng, sức khoẻ hơn người, lại được quân sĩ hết lòng. Kính Điển phải điều thêm Lê Bá Ly, mấy mặt cùng lúc tiến đánh Mạc Chính Trung và Phạm Tử Nghi. Chính Trung, Tử Nghi bị thua, cùng người con của Mạc Đăng Dung là Định vương Mạc Phục Sơn chạy lên xứ An Quảng, sau đó chạy sang Khâm Châu.


   Năm Mậu thân (1548), ở Thanh Hoa vua Lê Duy Ninh tức Trang Tông cũng mất, thọ 34 tuổi. Con Duy Ninh là Duy Huyên lên nối ngôi, đó là Lê Trung Tông. Trịnh Kiểm thấy cần thêm thời gian để củng cố lực lượng nên cũng không tiến quân ra Bắc.


   Đầu năm Tân hợi (1551), nhà Mạc lại một lần nữa lục đục. Phạm Quỳnh vốn là kẻ hầu người hạ nhà Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly. Khi Mạc Kính Điển lên 2 tuổi, thường ốm đau nên Bá Ly sai vợ Phạm Quỳnh vào cung làm vú nuôi Kính Điển. Nghĩ đến công nuôi dưỡng ấy, sau này Kính Điển trọng dụng cả Phạm Quỳnh và con y là Phạm Dao, phong Phạm Quỳnh làm Vinh Quận công giữ quyền tiết chế Đông đạo, Phạm Dao làm Văn Quận công trấn thủ Sơn Nam, coi Nam đạo. Từ đó hai cha con họ có ý tranh giành với chính Lê Bá Ly. Con Bá Ly là Lê Khắc Thận đương tuổi thanh niên nên thích chơi bời ca hát và mua sắm kiệu son, lọng vàng, cất nhà cửa lộng lẫy, thấy vậy cha con Phạm Quỳnh liền gièm với Mạc Kính Điển rằng Khắc Thận có ý làm phản. Kính Điển nói: “Quốc gia trông cậy vào tướng phụ như quả núi cao, Khắc Thận lại là Phò mã, các ông không nên nói những lời như vậy”. Hai cha con họ lại đi gièm với nhà vua. Nhà vua ậm ừ cho qua.


   Thấy tình như vậy, đang đêm Phạm Quỳnh, Phạm Dao tự ý đem quân tiến đánh Lê Bá Ly và thông gia Bá Ly là Nguyễn Thiến. Nhưng chính Quỳnh, Dao bị thua và phải chạy tới chỗ nhà vua nương náu. Bá Ly đem quân chiếm cửa Chu Tước, đòi nhà vua nộp cha con Quỳnh, Dao. Vua Mạc Phúc Nguyên không những không nghe mà còn gọi quân các nơi về cứu giá. Lê Bá Ly chia quân chống cự và viết thư gọi các tướng tâm phúc mang quân tới. Quân nhà vua thua chạy. Lê Bá Ly vẫn đòi vua giao cho mình cha con họ Phạm, lúc đó sẽ bãi binh. Vua Mạc quyết không nghe.


   Lê Bá Ly uất ức, mắng nhiếc Mạc Phúc Nguyên rồi cùng thông gia là Thư Quận công Nguyễn Thiến, hai con là Lê Khắc Đôn, Phổ Quận công Lê Khắc Thận, con rể là Văn Thái hầu Nguyễn Quyện, em Nguyễn Quyện là Nguyễn Miễn mang 4 vạn quân vào Thanh Hoa theo nhà Lê. Lúc này Bá Ly đã 77 tuổi, là bậc kỳ lão có danh vọng nên vua Lê và Trịnh Kiểm đều rất kính trọng. Nghe tin Bá Ly vào Nam triều được trọng dụng, rất nhiều mưu thần mãnh tướng nhà Mạc cũng bỏ Bắc triều vào với nhà Lê, trong đó đáng kể có tướng Tây đạo là Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Khải Khang mang theo 3000 quân. Nhà Mạc bị mất chỗ dựa tin cậy và đột nhiên suy sụp chỉ vì bao che cho cha con một kẻ gian nịnh.


   Thấy vua Mạc bị bày tôi lìa bỏ, tháng 4 năm ấy, vua Lê sai Lê Bá Ly ra Sơn Nam, Nguyễn Khải Khang ra Sơn Tây, đồng thời cho người liên hệ với Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, phong cho y làm Gia Quốc công, ba mặt cùng tiến đánh nhà Mạc. Quân Mạc không chống nổi, Mạc Phúc Nguyên phải bỏ kinh đô, đang đêm qua sông Nhị Hà, chạy sang Kim Thành trấn Hải Dương; sai Mạc Kính Điển đóng quân ở Bồ Đề, đắp luỹ đất, quân thuỷ quân bộ đóng xen kẽ nhau phòng thủ nghiêm ngặt.


   Thấy nhà Mạc đã gần như mất hết đất đai, chỉ còn giữ được hai đạo Đông và Bắc, Lê Bá Ly và Nguyễn Khải Khang dâng biểu xin vua Lê ra Đông Kinh. Trịnh Kiểm lại cho rằng quân Mạc còn đông, lòng người nhiều nơi còn theo, dù có lấy được Đông Kinh cũng khó bề giữ nổi nên quyết định rút về Thanh Hoa. Quả nhiên ngay đó quân Mạc cho thuỷ quân vòng xuống đánh sau lưng quân Lê, may sao Trịnh Kiểm đã chuyển hậu quân thành tiền quân nên tránh được thiệt hại. Vũ Văn Mật cũng rút về Tuyên Quang, củng cố thành trì cố thủ.


   Mạc Phúc Nguyên trở lại Đông Kinh và thu hồi lại Sơn Tây, Sơn Nam.


   Lúc này tại miền cực Nam, châu Thuận, châu Hoá và đạo Quảng Nam vẫn thuộc nhà Mạc và Mạc Phúc Nguyên thường xuyên cho thuyền vượt biển vào liên hệ với những nơi ấy. Sợ đến một lúc nào đó quân Mạc sẽ từ hai ngả Bắc - Nam tiến đánh, nên nhân lúc nhà Mạc chưa thể cho quân uy hiếp Tây Kinh, năm Giáp dần (1554) Trịnh Kiểm mang đại quân tiến sâu vào mạn Nam. Quân Mạc ở đó không có viện binh nên nhanh chóng thua trận. Hai châu Thuận, Hoá thuộc về Nam triều. Quân Mạc rút sang bên kia đèo Hải Vân giữ đất Quảng Nam.


   Nghe tin mất vùng đất phía Nam, vua Mạc sai Mạc Kính Điển mang hơn 100 chiến thuyền vào đánh Thanh Hoa, bị các tướng cũ nhà Mạc là Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Quyện đánh cho thua trận. Kính Điển thu thập tàn quân chạy về Đông Kinh.


   Tháng Giêng năm Bính thìn (1556), Lê Trung Tông mất khi mới 22 tuổi, ở ngôi được 8 năm, không có con nối ngôi. Trịnh Kiểm muốn lên ngôi nhưng còn do dự. Biết Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ẩn dật ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, là người giỏi nho, lý, số, người đương thời coi là bậc tiên tri, Kiểm liền cho người bí mật ra Bắc hỏi nên như thế nào. Trạng Trình trả lời bằng cách bảo đầy tớ rằng: “Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống cũ mà gieo mạ!”. Sau đó lại sai đầy tớ ra chùa bảo chú tiểu quét chùa để ông ra chơi, tới chùa ông bảo chú tiểu: “Muốn ăn oản thì phải giữ chùa, thờ Phật”. Sứ về Thanh Hoa thuật lại đầu đuôi, Trịnh Kiểm nghe ra nên đưa người cháu 5 đời của Lam Quốc công Lê Trừ (anh Lê Lợi) là Mai Sơn hầu Lê Duy Bang lên ngôi, đó là Lê Anh Tông. Anh Tông chính là cháu gọi Dực nghĩa hầu Lê Duy Thiệu là ông.      


   Lê Bá Ly mất ở Thanh Hoa năm Đinh tị (1557), thọ 82 tuổi, được truy phong là Nghĩa Huân công. Năm đó Mạc Kính Điển vào đánh Thanh Hoa, bị thua phải nhảy xuống sông bơi vào hang núi trốn, nhịn đói tới 3 ngày, một đêm thấy cây chuối trôi qua cửa lạch mới ôm lấy bơi về, mấy ngày sau mới tới bến Trinh Nữ hạt Yên Mô và được một người đánh cá cứu sống!


   Cũng năm ấy, vào tháng 8 thông gia của Lê Bá Ly là Thư Quận công Nguyễn Thiến mất. Hai con của Nguyễn Thiến là Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn bàn nhau quay lại với nhà Mạc, được vua Mạc khôi phục chức cũ. Hai anh em Nguyễn Quyện đều là dũng tướng, lại ở Thanh Hoa 6 năm trời nên hiểu rõ tình hình Nam triều, vì vậy việc họ trở lại Bắc triều làm Trịnh Kiểm hết sức lo lắng nên Kiểm phải đích thân cầm quân đánh Nguyễn Quyện song bị thua to, chết mất vài chục tướng, bao nhiêu thuyền bè mất hết.


   Nguyễn Khải Khang sau đấy cũng bị quân Mạc trá hàng bắt sống. Người có công bắt Khải Khang là Mạc Ngọc Liễn, con Tây Quốc công Nguyễn Kính và là cháu gọi Khải Khang bằng cậu! Vua Mạc xử tử Khải Khang bằng cực hình: dùng xe kéo xé xác.


      Trịnh Kiểm từ đó chuyên quyền. Con trưởng Nguyễn Kim là Nguyễn Uông thấy anh rể mình như vậy có ý không bằng lòng và thường than thở với xung quanh rằng sự nghiệp trung hưng nhà Lê và cả sự nghiệp của Trịnh Kiểm là do cha mình gây dựng. Nghe được, Trịnh Kiểm liền tìm cớ giết Nguyễn Uông. Em Uông là Nguyễn Hoàng phải giả cách đau ốm nằm ở nhà để tránh nghi ngờ và cũng cho người ra Bắc hỏi Trạng Trình nên như thế nào. Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói sao, lẳng lặng dẫn sứ giả ra hòn non bộ ngoài sân và bảo: “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” (Hoành Sơn một dải, có thể dung thân) (*). Sứ giả về thưa lại, Nguyễn Hoàng hiểu ra, nói với chị là Ngọc Bảo (vợ lẽ Trịnh Kiểm), xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Nhận thấy miền đất ấy xa xôi, hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, là nơi “Ô Châu ác địa”, mặt Nam vẫn thuộc về nhà Mạc, quân Mạc có thể vượt qua đèo Hải Vân bất cứ lúc nào hoặc cùng thuỷ quân quân Mạc từ Bắc vào, phối hợp chiếm lại những đất đã mất; từ đó lập lại thế kẹp Nam triều vào giữa, nên Trịnh Kiểm bằng lòng cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, giao cho toàn quyền xử lý mọi việc ở hai nơi, thu thuế nộp về triều đình đúng kỳ hạn. Năm Mậu ngọ (1558) Nguyễn Hoàng đem người nhà và quân bản bộ vào Thuận Hoá, cùng đi còn có nhiều người Tống Sơn, dinh trại đầu tiên được lập ở ái Tử.


    Năm Kỷ mùi (1559) Trịnh Kiểm huy động 6 vạn quân, nói phao lên là 12 vạn, không theo đường Sơn Nam như mọi lần mà theo lối Thượng đạo là chỗ quân Mạc không hề phòng bị, xuyên rừng bất ngờ đột nhập đánh lên Sơn Tây, qua đò sông Thao, hội với quân Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, đánh sang Thái Nguyên, lên mạn Bắc chiếm thành Lạng Sơn, từ đó đánh xuống Kinh Bắc và đánh sang mạn Đông, hạ hết đồn luỹ các vùng Văn Giang, Chí Linh, Đông Triều, An


____________


(*) Sau nhà Nguyễn sửa là: “Vạn đại dung thân” (Dung thân muôn đời).


Dương. Nam triều luôn thiếu lương thực nên những  lần đánh ra Bắc trước đây thường chỉ một thời gian ngắn rồi rút về, lần này họ đến đâu gặt lúa thu thóc đến đấy nên lương thực dồi dào và có thể ở lại lâu dài nên Bắc triều bị một phen tan nát. Vua Mạc phải chia quân đóng đồn suốt một dải phía Tây Đông Kinh để phòng thủ và sai Mạc Kính Điển sang sông giữ Kinh Bắc. Nhà Mạc lúc này chỉ giữ được Đông Kinh và một số nơi xung quanh, cùng với phần lớn xứ Hải Đông, Sơn Nam còn thì bao nhiêu đất đai rơi hết vào tay Lê - Trịnh nên vua Mạc vô cùng kinh sợ!


   Có người hiến kế dùng cách xuất kỳ bất ý, ngầm mang quân đánh thẳng vào Thanh Hoa, nơi căn bản của nhà Lê thì đạo quân địch đang đánh Kinh Bắc, Hải Dương không cần đánh cũng sẽ tự lui; đó chính là kế “Đánh Nguỵ cứu Hàn” của Tôn Tử ngày xưa. Phúc Nguyên nghe theo, liền gọi Kính Điển từ Kinh Bắc về, sai mang quân vào đánh Thanh Hoa. Quân Lê ở đó không phòng bị nên thua to. Hay tin, Trịnh Kiểm vội điều binh về cứu Thanh Hoa, sau đó bản thân cũng lui về Tây Đô. Nhờ vậy nhà Mạc mới thoát được diệt vong và dần dần thu hồi lại những vùng đất vừa bị mất.


   Lần ra quân này của Trịnh Kiểm kéo dài tới hơn một năm rưỡi, các tướng nhiều người lập công nên Trịnh Kiểm tâu vua thăng thưởng rất hậu cho họ, mưu thần là Phùng Khắc Khoan được làm Ngự doanh ký lục tri Tứ vệ.


   Phùng Khắc Khoan từ Sơn Tây xuống Vĩnh Lại, Hải Dương theo học Trạng Trình. Tuy là học trò lớp sau Lương Hữu Khánh nhưng vì cùng ăn cùng ở, gắn bó mật thiết với Hữu Khánh nên cũng bị Bắc triều ghét lây, khoa thi Hương năm Nhâm tí (1552) đáng lẽ Khắc Khoan đỗ Hương cống thì bị đánh tụt xuống Sinh đồ. Bất bình, Khắc Khoan tìm đường vào Thanh Hoa theo nhà Lê. Tại Thanh Hoa, sau này Khắc Khoan thi Hương đỗ Giải nguyên, thi Hội, thi Đình đỗ Hoàng giáp. Phùng Khắc Khoan tài kiêm văn võ, theo Trịnh Kiểm ra Bắc giúp rất nhiều trong việc đánh các xứ Sơn Tây, Hưng Hoá. 


   Tháng 2 năm Giáp Tí (1564), vua Mạc Phúc Nguyên bị bệnh đậu mùa mất, ở ngôi được 19 năm. Triều đình truy tôn là Tuyên Tông Anh Nghị hoàng đế.


                                                              *


   Con Mạc Phúc Nguyên là Mạc Mậu Hợp mới tròn một tuổi nối ngôi. Hai người ông đằng chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển và ứng vương Mạc Đôn Nhượng làm phụ chính. Hay tin đó, Trịnh Kiểm tiến quân ra Sơn Nam song bị chặn lại ở sông Đáy; trong khi ấy Mạc Kính Điển lại cho thuyền chiến theo đường biển vào đánh Thanh Hoa khiến một lần nữa Trịnh Kiểm phải về cứu Thanh Hoa.   


   Sau trận chiến dịch lớn kéo dài hơn một năm trời vào năm Kỷ mùi, hai bên  nhận ra chưa thể thắng được nhau nên cùng nghỉ ngơi đến chục năm, có chăng chỉ diễn ra vài trận đánh nhỏ, có trận quân Nam triều ra Sơn Nam mục đích chỉ cốt cướp thóc lúa các huyện bên kia đèo Tam Điệp là Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn, Phụng Hoá mang về xứ Thanh vì mạn trong núi non nhiều, ruộng nương ít nên lương thực không bao giờ được dồi dào.


   Năm Kỷ tị (1569), Trịnh Kiểm được gia phong lên tước Thượng phụ thượng tướng Thái Quốc công; một năm sau, tháng 2 năm Mậu ngọ thì chết, thọ 68 tuổi, được vua Lê truy tôn làm Minh Khang thái vương. Tính ra từ khi Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm đã đích thân 10 lần cầm quân tiến ra Bắc, tất cả đều theo đường bộ, trong đó có hai trận đánh lớn vào các năm Tân hợi (1551) và Kỷ mùi (1559); Sơn Nam bên kia đèo Tam Điệp sát với Nam triều là nơi hứng chịu chiến tranh nhiều nhất. Phía Bắc triều ra quân ít hơn nhiều nên xem ra quân đội Nam triều có ưu thế song thực ra đây là thời kỳ giằng co ngang ngửa giữa đôi bên.


   Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng được giao nắm binh quyền. Trịnh Cối là con bà cả, Trịnh Tùng là con bà thứ Ngọc Bảo (con gái Nguyễn Kim) nên Trịnh Cối nắm quyền cao hơn. Song do Cối ham mê tửu sắc và làm nhiều điều thất nhân tâm nên chỉ hai tháng sau ngày Trịnh Kiểm mất, các tướng yêu cầu Trịnh Tùng lên thay Trịnh Cối. Trịnh Tùng bèn cùng các tướng đến Trường Yên tâu lên vua Lê tội trạng của Trịnh Cối. Biết chuyện, Trịnh Cối đem 1 vạn quân đánh Trịnh Tùng. Hai bên đánh nhau đến 7 ngày trời rồi cùng chia quân đóng giữ các nơi cầm cự nhau. Tướng nhà Lê là Lập Bạo thấy tình hình Nam triều rối ren liền dẫn con em đầu hàng nhà Mạc và kể hết sự tình mạn trong. Mạc Kính Điển rất mừng.


   Sau mấy tháng chuẩn bị, ngày 16 tháng 8 năm Canh ngọ (1570), Kính Điển mang 10 vạn quân cùng 700 chiến thuyền, sai Lập Bạo làm tiên phong tiến đánh Nam triều. Các mưu thần võ tướng tài ba nhất đều xung trận: Mạc Đôn Nhượng, Mạc Đĩnh Khoa giữ cửa biển Thần Phù; Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn chia làm 4 đội; Mạc Kính Điển thân giữ trung quân và lĩnh đội thứ 5. Chiến thuyền ào ạt rẽ sóng tiến vào các cửa sông miền Thanh Hoa, Nghệ An, như Linh Trường (Lạch Trường), Chi Long, Hội Triều (cửa Hội). Quân Mạc đổ lên bờ, đóng trại ở Hà Trung, khi nổi lửa thổi nấu, khói cuồn cuộn kéo dài tới chục dặm. Trịnh Cối tự liệu không thể địch nổi, dẫn hơn vạn quân cùng các bộ tướng đầu hàng. Mạc Kính Điển tổng động binh, đôi bờ sông Mã, sông Lam khói lửa ngất trời, bóng cờ rợp đất. Dân chúng Thanh Hoa cõng già dắt trẻ chạy vào núi, kêu khóc khắp đường.


   Đích thân vua Lê phải cầm một đạo quân giữ Đông Sơn. Trịnh Tùng đào hào đắp luỹ cố thủ. Khắp Thanh Hoa trở thành chiến trường. Hai bên đánh nhau đến nửa năm trời. Nam triều mạnh về quân bộ, Bắc triều mạnh về quân thuỷ. Binh mã Bắc triều tuy chịu lạnh giỏi nhưng nhiều người sống ở các miền đồng bằng nên không quen với rừng núi, sang tháng 12 trời bắt đầu trở lạnh, khí độc trong núi bốc ra, nước sông cạn thuyền tiến lên đã khó, muốn quay mũi còn khó hơn, lương thực thì cạn, thấy vậy Mạc Kính Điển rút quân ra Bắc. Đến lượt Nam triều thoát được hoạ diệt vong.


   Vua Anh Tông phong cho Trịnh Tùng làm Thái uý Trưởng Quốc công. Từ đó Trịnh Tùng chuyên quyền, bắt đầu lấn át vua Lê. Lê Cập Đệ muốn giết Trịnh Tùng để giành lại quyền cho vua Lê nên bày mưu mời Tùng xuống thuyền uống rượu ngắm trăng để giết, không ngờ Tùng biết nên chính Cập Đệ lại bị giết. Đang đêm vua Anh Tông đem 4 hoàng tử chạy vào Nghệ An. Trịnh Tùng lập con thứ 5 của Anh Tông là Duy Đàm khi đó mới 7 tuổi lên ngôi, đó là Lê Thế Tông. Sau đấy Trịnh Tùng cho người vào Nghệ An đem vua cũ về, đến Lôi Dương thì giết chết. Như vậy Lê Duy Bang ở ngôi được 16 năm. Từ đây quyền hành ở Nam triều hoàn toàn rơi vào tay họ Trịnh, vua Lê chỉ làm vì nên sử gọi là thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh.


   Cũng vào năm Canh ngọ (1570), Nguyễn Hoàng đánh chiếm Quảng Nam, hoàn thành việc thâu tóm miền đất phía Nam của nhà Mạc. Hai vương nhà Mạc là Nhân Phủ và Quang Khải phải phân tán lực lượng vào rừng núi rồi đổi thành họ Huỳnh để bảo toàn tông tộc, từ đó chỉ chủ trương vỡ hoang, lập ấp vì vậy lại có công với nhà Nguyễn, sau này được vua Gia Long sắc phong làm Huỳnh Quốc công.


   Về với Bắc triều Trịnh Cối được phong làm Trung Quận công, Lập Bạo làm Lập Quận công và trấn thủ Hải Dương. Lập Bạo tâu với vua Mạc rằng từ khi vào trấn thủ Thuận Hoá, Quảng Nam cho đến nay, Nguyễn Hoàng chỉ chú trọng khai hoang lập ấp chứ ít lo tới việc binh vì nghĩ nơi ấy xa xôi, cách trở, quân Mạc không thể nào tới được. Nay nên cho thuỷ quân vào đánh. Lấy lại được được hai nơi ấy rồi cùng lúc từ đấy đánh lên từ Bắc đánh xuống, chắc chắn Nam triều phải tan. Vua Mạc nghe theo, sai Trịnh Cối, Lập Bạo mang 70 chiến thuyền vào đánh Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng vào mạn trong chỉ chú tâm vào việc khai hoang, quân bộ không có bao nhiêu, chiến thuyền vỏn vẹn mươi chiếc nên không biết làm thế nào để đương đầu với quân Mạc. Lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng có nàng hầu xinh đẹp tên là Ngô Thị Lâm, nên liền nghĩ đến kế mỹ nhân và sai nàng mang lễ vật và tư thông với Lập Bạo. Sau đó Thị Lâm đánh lừa đưa Lập Bạo đến nơi Nguyễn Hoàng bố trí trận địa phục kích. Lập Bạo chỉ mang theo 30 lính hộ vệ nên không chống được quân mai phục và bị bắn chết khi định lên thuyền chạy trốn. Trịnh Cối nghe tin vội trở ra Bắc. Từ đó nhà Mạc không nghĩ đến chuyện cho quân vào đánh Thuận, Quảng nữa.


   Từ khi Trịnh Kiểm đau ốm rồi mất cho đến năm Canh thìn (1580), suốt hơn 10 năm trời Trịnh Tùng lo củng cố quyền lực nên tập trung vào việc phòng thủ vì vậy không tấn công ra Bắc. Trái lại, năm nào Mạc Kính Điển cũng dẫn quân vào đánh Thanh Hoa, Nghệ An. Các cuộc tấn công hầu hết bằng đường biển và thường vào mùa thu là lúc nước các con sông dâng cao, thuyền chiến dễ đi sâu vào trong nội địa. Động binh liên tục, tỏ ra có ưu thế nhưng Bắc triều không những không giành được thắng lợi nào to lớn, trừ trận năm Canh ngọ (1570) mà nhiều phen còn thua trận nên chỉ khiến cho sức người kiệt quệ. Thế nhưng vua Mạc lại nghĩ Nam triều không đủ sức đánh ra Bắc, đồng thời ỷ vào Mạc Kính Điển nên chỉ ham chơi bời, đắm say tửu sắc, không để ý đến việc nước. Thượng thư Bộ Hộ kiêm Đô ngự sử Giáp Hải lấy làm lo lắng, lại thấy liền trong hai tháng 9 và 11 năm Đinh sửu (1577) sao chổi xuất hiện ở tinh phận các sao Đẩu, Cơ, Ngưu, Nữ, đuôi kéo dài tới 40 trượng, lần đầu vài chục ngày mới tắt, lần sau đến tận tháng 12 mới tắt nên dâng sớ lên vua rằng: Sao chổi là loại sao yêu quái, sao chổi lần này khi xuất hiện vừa to vừa dài, tất trong nước sẽ có tai biến nặng nề. Đã thế, hiện nay chính sự càng ngày càng suy đồi, vì vậy nếu không tự răn mình lo sợ, thay đổi hết chính sự thối nát, thì ngày bại vong khó mà tránh được. Mạc Mậu Hợp đọc nhưng không xem là quan trọng.


   Năm sau, vào tháng 2 vua Mạc ở trong cung mà vẫn bị sét đánh liệt nửa người, chữa mãi mới khỏi.


   Tháng 10 năm Canh thìn (1580), Mạc Kính Điển chết. Kính Điển tước vị gồm cả tướng văn, tướng võ, giữ binh quyền tới 26 năm là người có uy vọng, đối đãi với quan lại chân thành, kính trọng, với quân sĩ có ân nghĩa; trước sau đích thân cầm quân vào đánh Nam triều tới 15 lần, trải qua không biết bao nhiêu nguy hiểm vẫn bền bỉ, trung thành. Kính Điển chết, cả Bắc triều xao động, người người hoang mang.


   Vua Mạc dùng ứng vương Mạc Đôn Nhượng làm Trung doanh tổng suý, thống lĩnh binh quyền. Giáp Hải (Giáp Trưng), Mạc Ngọc Liễn, Nguyễn Quyện cũng được thăng lên địa vị cao chỉ sau có Mạc Đôn Nhượng. Nhận trọng trách nhưng Đôn Nhượng không đủ tài để cáng đáng việc lớn. Thấy mọi sự đều xuống dốc nhưng nhà vua vẫn điềm nhiên như không, nhiều đại thần dâng sớ lên vua bày tỏ nỗi lo lắng về việc kỷ cương rối loạn, chính sự hững hờ, hình ngục oan uổng, pháp lệnh sai lầm, thiên tai lại luôn xảy ra; vua tôi trên dưới vui chơi ngạo nghễ, tự cho là thái bình vô sự. Thực ra rất đáng lo vì Bắc triều giỏi về thuỷ quân nhưng Nam triều đã trồng cọc gỗ ở các lòng sông, cửa sông nên có vào đánh cũng khó; Nam triều vốn chỉ mạnh về bộ binh, nay đã tập cả thuỷ chiến để có thể tiến ra Bắc. Bao nhiêu năm mải mê Nam chinh nên Bắc triều không có kế hoạch trong việc phòng thủ nếu bị địch tấn công, tướng chưa hoà hợp, binh chưa chỉnh tề. ứng vương giữ quyền phụ chính và nắm tổng soái nhưng trể nải công việc, không chăm lo đến việc binh và thường về Dương Kinh sống. Vua Mạc xem, khen là lời lẽ thích đáng. Nhưng rốt cuộc đâu vẫn hoàn đấy.


   Quan đại thần hết người nọ đến người kia xin từ chức nhưng vua Mạc  không cho một ai về. Có người đã 70 tuổi vẫn phải ở lại làm việc.


   Tháng 9 năm Nhâm ngọ (1582), do bị thúc ép, cuối cùng Mạc Đôn Nhượng cũng phải cầm quân vào đánh Thanh Hoa nhưng lại bị thua to, mất rất nhiều tướng sĩ. Năm sau quân Mạc lại cho chiến thuyền vào đánh Thanh Hoa và lại thua trận. Cuối năm đó bỗng nhiên vua Mạc Mậu Hợp bị chứng thong manh, mắt nhìn không rõ, các thầy thuốc giỏi trong nước đến chữa trong vài năm mới khỏi. Cũng năm ấy điện Giảng Học vừa mới hoàn thành lúc sáng đã bị cháy ngay tối hôm ấy do bữa dạ tiệc thắp đèn thắp đuốc. Các quan đại thần lại dâng sớ bày tỏ nỗi lo rằng đó là ý trời răn bảo vậy nên phải chú ý đề phòng. Mạc Mậu Hợp chỉ khen là lời nói phải.  


   Sau 15 năm không tiến ra Bắc, năm Quí mùi (1583) do mạn trong mất mùa, quân Nam triều ra Sơn Nam, cướp thóc lúa rồi về.


   Năm Giáp thân (1584), Trịnh Cối chết, vua Mạc cho người hộ tống lĩnh cữu về Thanh Hoa. Vua Lê cũng tha tội cho Cối, truy tặng cho chức Thái phó và an táng tử tế.


    Đầu năm Ất dậu (1585) quân Lê - Trịnh bí mật theo đường núi luồn ra đánh tận Mỹ Lương, Thạch Thất, An Sơn, tới Sài Sơn trấn Sơn Tây rồi trở về.


Tiến và thoái như vào chỗ không người. Cuối năm ấy Nguyễn Bỉnh Khiêm ốm nặng, được tin, vua Mạc sai người về Vĩnh Lại hỏi chuyện mai sau, Trạng Trình nói: “Cao Bằng tuy tiểu khả dung sổ thế” (Cao Bằng tuy nhỏ cũng dung được vài đời). Trạng Trình mất, thọ 95 tuổi. ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan về dự tang lễ và thay mặt vua truy tặng Trạng Trình tước Thái phó Trình Quốc công.


   Đến lượt Mạc Đôn Nhượng dâng sớ nói rằng mình bất tài và xin được về nghỉ. Vua Mạc không cho Đôn Nhượng về. Giáp Hải mấy lần dâng biểu xin về hưu trí không được, lần này dâng sớ lời lẽ rất thiết tha, khuyên vua lo việc trị an, gạt bỏ ham muốn, chăm chú việc binh; những nơi trọng yếu thì đắp luỹ cao đào hào sâu, đặc biệt là nơi kinh thành, phòng vệ trong ngoài chu đáo, chiến cụ đầy đủ... Sau đó Giáp Hải lấy cớ đã 70 tuổi nên khẩn thiết xin nghỉ. Vua Mạc đành cho nghỉ, được khoảng một tháng, lại gọi ra triều, Giáp Hải tạm đến rồi về ngay, mấy ngày sau thì qua đời.


   Nhận thấy lời khuyên của Giáp Hải có lý, vua Mạc cho tu bổ hoàng thành, đắp 3 luỹ đất bên ngoài thành Đại La và cắm chông gai bên ngoài; đắp luỹ đất ở Sơn Tây, Sơn Nam; trồng tre gai suốt từ sông Hát xuống sông Hoa Dinh dài chừng mây trăm dặm để lo việc phòng thủ.


   Lần ra Bắc cướp lương vào năm Quí mùi và cuộc tiến binh năm ất dậu của quân đội Nam triều chỉ là màn dạo đầu. Từ đó Nam triều liên tục tiến quân ra Bắc. Quân đội Bắc triều tuy đông hơn Nam triều nhưng không tinh nhuệ bằng, nhất là quân bộ, thế và lực kém hẳn nên chỉ lo phòng thủ. Cuối năm Tân mão (1591) 6 vạn quân Lê - Trịnh tấn công ra Bắc, quân Mạc huy động đến 10 vạn chống lại nhưng không nổi. Quân Lê - Trịnh đánh tới tận Đông Kinh, Nguyễn Quyện bị bắt sống, Mạc Mậu Hợp phải rút sang bên kia sông Hồng. Cho rằng đất căn bản của nhà Mạc là ở phía Đông Bắc, quân đội các nơi còn nhiều, nên sau 4 tháng chinh chiến, Trịnh Tùng quyết định rút về Thanh Hoa cho quân sĩ được nghỉ ngơi, chờ thời cơ. Trước khi rút, Trịnh Tùng cho san bằng luỹ đất xung quanh thành Đại La và lấp các hào rãnh khiến lúc quay lại kinh đô, quân Mạc lại phải mất công đào dắp lại!


   Khốn đốn vậy nhưng Mạc Mậu Hợp không những không biết lo xa mà còn ăn chơi hơn trước. Mồng 1 tháng 8 năm Nhâm thìn (1592) điềm xấu đã báo trước: sao sa xuống đất Bắc, sắc đỏ, dài chừng năm trượng, loè sáng như tia chớp, chiếu sáng rực cả nóc nhà, rơi xuống đất nổ to như sấm! 


    Nguyễn Quyện có hai con gái: người chị là Hoàng hậu của Mạc Mậu Hợp, người em tên là Nguyễn Thị Niên lấy Tổng trấn Sơn Nam là Sơn Quận công Bùi Văn Khuê. Nguyễn Thị Niên thường vào cung thăm chị, thấy Niên xinh đẹp, Mậu Hợp đem lòng yêu và muốn lấy nên nghĩ cách giết Bùi Văn Khuê để cướp vợ! Nguyễn Thị Niên là người chung thuỷ nên báo cho chồng việc ấy. Bùi Văn Khuê bèn đem quân bản bộ lui về giữ Gia Viễn, mấy lần Mậu Hợp gọi về kinh không về. Mậu Hợp liền sai tướng cất quân hỏi tội Văn Khuê. Văn Khuê đem binh chống giữ và sai con trai là Văn Nguyên vào Thanh Hoa dâng thư đầu hàng và xin quân cứu viện. Trịnh Tùng rất mừng vì Văn Khuê nắm giữ tới hơn một nửa số chiến thuyền và lực lượng thuỷ quân tinh nhuệ của Bắc triều! Tùng nói với các tướng: “Bắc triều đóng đồn ở Gia Viễn, mấy lần đánh không được. Trước đây do theo đường Thiên Quan (Thượng đạo) nên ra tới tận Đông Kinh nhưng sau đó phải kéo quân về vì sợ thuỷ quân đạo Đông và Nam của giặc lẻn vào đánh Tây Đô. Quân ta vốn chỉ mạnh về bộ binh và tượng binh, nay lại được thuỷ quân của Văn Khuê thì sao không thắng được”!  


  Trịnh Tùng liền mở cuộc tiến công bằng đường thuỷ vào sông Đáy, sông Hồng, đánh tan quân Mạc phòng thủ ở  ý Yên, thu 70 chiến thuyền rồi đánh lên Ninh Giang. Mạc Ngọc Liễn dàn thuyền chiến, trồng cọc gỗ dưới sông, đắp luỹ đất trên bờ chống cự không nổi phải bỏ chạy. Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành chạy về Kim Thành. Bùi Văn Khuê đem 300 thuyền chiến đánh Kim Thành. Mậu Hợp lại bỏ chạy. Nam triều thu được rất nhiều vàng bạc, đồ dùng và... con gái (!) Thái hậu nhà Mạc bị bắt sống đem giải về kinh, đến sông Bồ Đề thí nhảy xuống sông tự vẫn.


   Mạc Mậu Hợp dựng con trai là Mạc Toàn lên ngôi rồi chạy trốn. Thừa thắng, quân đội Nam triều toả ra đánh các vùng xung quanh. Các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn lửa cháy rực trời, quân Mạc kéo đến doanh trại Nam triều đầu hàng không biết bao nhiêu mà kể.


   Dân chúng cho quân Trịnh biết Mậu Hợp giả làm nhà sư đến ẩn ở chùa Mô Khuê, huyện Phượng Nhãn, Kinh Bắc đã 11 ngày nay. Quân Nam triều đến nơi thì thấy một sư ông điềm nhiên ngồi tụng kinh gõ mõ, ăn nói hoạt bát nên đoán là Mậu Hợp liền bắt lấy. Mậu Hợp đành thú thực và nói: “Mấy ngày nay tôi ẩn nấp trong rừng rậm, quá đói khát, dám xin một bình rượu uống cho đã”. Quân nhà Lê đem rượu cho Mậu Hợp uống rồi bắt đưa lên voi cùng hai kỹ nữ, đem về kinh đô. Sau đó vua nhà Mạc đáng lẽ bị xử lăng trì nhưng giảm xuống là treo sống 3 ngày rồi đem chém đầu tại bãi cát Bồ Đề bên kia kinh thành, thủ cấp đem về Thanh Hoa hiến vua Lê, đóng đinh vào hai mắt rồi đem bêu ở chợ. Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi, tuy chết mới có 31 tuổi nhưng lại là người ở ngôi lâu nhất: 29 năm!


   Mạc Toàn đóng quân ở Kim Thành, nghe tin vua cha bị thua ở Yên Dũng, vội mang quân đi tiếp ứng và đánh nhau với quân Trịnh một trận lớn ở Đồ Sơn nhưng bị thua phải tìm đường chạy lên Yên Tử. Sau Mạc Toàn cũng bị bắt và chết chém ngày 27/1 năm Quí tị (1593) tại bãi Thảo Tân (Bến Cỏ), nay là Bến tắm bãi Thảo ở Chí Linh, làm vua được 3 tháng.


   Sau, con cháu nhà Mạc tôn Mạc Mậu Hợp làm Hồng Minh hoàng đế, miếu hiệu là Mục Tông; Mạc Toàn làm Vũ An hoàng đế.


    Như vậy nhà Mạc từ vua Thái Tổ Đăng Dung đến vua Mục Tông Mậu Hợp, truyền ngôi được 5 đời thì mất, kể đến Mạc Toàn thì coi như 6 đời, tổng cộng được 65 năm, từ năm Đinh Hợi (1527) đến năm Nhâm thìn (1592). Suốt cả thời gian đó rất ít năm được yên ổn bởi ngay từ đầu đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của thế lực phù Lê, thế lực này thực sự mạnh từ khi có Trịnh Kiểm, nhất là khi Trịnh Kiểm nắm binh quyền. Nhà Mạc không phải không có cơ hội chiến thắng, ngay cả khi Mạc Kính Điển mất, nhà Mạc xuống dốc, quan đội Lê - Trịnh cũng chỉ chớp nhoáng đánh ra Bắc rồi phải kéo về. Nhưng cuối cùng, chỉ vì vua Mạc Mậu Hợp ham muốn một người đàn bà mà bỗng chốc mất hẳn chỗ dựa về thuỷ quân và mất nước chỉ trong vòng có ba tháng, từ tháng 10 đến tháng 12. Cái hoạ do việc đam mê sắc dục, bỏ bễ việc nước việc quân đã được Mạc Đăng Dung dặn dò và quần thần can gián nhưng nó vẫn đến như đã từng đến với Lê Uy Mục, Lê Tương Dực. Nó góp phần đưa Mạc Đăng Dung đến cơ hội lập nên nhà Mạc và sau đó cũng đưa nhà Mạc đến chỗ sụp đổ!


   Bao nhiêu cung điện đền đài nhà Mạc ở Cổ Trai, Trịnh Tùng cho quân về phá sạch.


  2   


   Vì bị săn lùng ráo riết, các hoàng thân quốc thích nhà Mạc và nhiều quan đại thần triều Mạc thấy phải cầm vũ khí mới có thể tồn tại nên nghe tin Đường An vương Mạc Kính Chỉ thu thập tàn quân và xưng vua ở vùng Chí Linh, đặt niên hiệu là Bảo Định, năm sau đổi là Khang Hựu, nhiều người đã tìm đến, đông tới 7 vạn người, riêng người trong họ trai gái lớn nhỏ cũng đã vài trăm. Mạc Kính Điển có 9 con trai và 9 con gái, Mạc Kính Chỉ là con trưởng. Nhưng Mạc Kính Chỉ chỉ cầm cự được có 3 tháng thì bị đánh bại, phải chạy ra Hoành Bồ và bị bắt ở đấy cùng với 60 người nữa, trong đó có rất nhiều thân vương. Tất cả đều bị đem về bãi Thảo Tân hành quyết, ngày 27 tháng Giêng năm Quý tị (1593). Năm sau thêm 3000 người nữa bị bắt và bị giết.


   Ninh vương Mạc Phúc Tư  thoát khỏi cuộc truy đuổi ở Hoành Bồ, trở về Thành Dền, trước tình thế không thể cứu vãn nổi đã cùng hai thân vương rủ nhau ra cánh đồng ven sông tự sát. Lúc này Ninh vương đã 69 tuổi. Dân chúng thương xót đem đi chôn và gọi phần mộ là “Mả Ba Vua Mạc”.


   Ứng vương Mạc Đôn Nhượng chạy lên Lạng Sơn và ốm chết ở đó.


                                                             *


   Trong khi ấy các thân vương còn lại của nhà Mạc, chủ yếu là con cháu Mạc Kính Điển vẫn giữ được khá nhiều nơi: Uy vương Mạc Kính Dụng giữ Thái Nguyên, Trang vương Mạc Kính Chương giữ An Quảng, Đôn hậu vương Mạc Kính Cung giữ Lạng Sơn, Cao Bằng, Mạc Kính Luân giữ Lục Ngạn, Khánh vương Mạc Kính Khoan giữ Đại Từ, Võ Nhai...


   Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn vốn họ Nguyễn, là con của Tây Quốc công Nguyễn Kính, vừa là Phò mã nhà Mạc vừa được ban quốc tính. Sau khi Mạc  Mậu Hợp bị giết và Mạc Kính Chỉ thất bại, Ngọc Liễn tìm được người con thứ bảy của Mạc Kính Điển là Đôn Hậu vương Mạc Kính Cung. Tháng 3 năm Quý tị (1593) Mạc Kính Cung xưng vua, đặt niên hiệu là Càn Thống. Tôn thất nhà Mạc vài mươi người, năm anh em Nguyễn Quyện, các con của Mạc Ngọc Liễn, Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn, văn thần võ tướng nhà Mạc đã đầu hàng nhà Lê nhiều người phản lại nhà Lê tìm đến với Mạc Kính Cung. Dân chúng vùng Đông Bắc theo rất đông. Họ chia thành từng nhóm nhỏ, chiếm cứ nhiều nơi, như Kiến Xương, Tân Hưng, Cẩm Giang, Khoái Châu, Tứ Kỳ, Sơn Dương, Thanh Ba, Thái Nguyên, Phổ Yên, Hữu Lũng... Lúc này quân Trịnh khoảng 12 vạn, quân Mạc khoảng 10 vạn, lực lượng chênh lệch nhau không nhiều nhưng quân Mạc tản mát khắp nơi nên không thể tập trung cho những trận đánh lớn.


   Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Quảng đã được 35 năm. Do chú trọng khai hoang lập ấp, lại không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh nên dân chúng trong đó nhanh chóng giàu có. Từ năm Qúy dậu (1573) vua Lê giao cho Nguyễn Hoàng hàng năm nộp thuế 400 cân vàng, 500 tấn thóc, Nguyễn Hoàng thường tìm cách để không nộp đủ nên lương thực tích luỹ ngày một nhiều, có năm còn đem tiền thóc ra giúp vua Lê. Tháng 5 năm Quý tị (1593), biết tin nhà Lê đã lấy được Đông Đô, Nguyễn Hoàng ra bái kiến vua Lê và ở lại miền Bắc tới 7 năm giúp vua Lê đánh Mạc Kính Cung. Con thứ hai là Nguyễn Hán tử trận ở Sơn Nam.


    Tháng 7 năm sau, Giáp ngọ (1594) Mạc Ngọc Liễn ốm nặng, trước khi mất viết thư cho Mạc Kính Cung dặn hãy lánh sang nước khác, nuôi dưỡng sức lực, chịu khuất chờ thời, đợi khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi được với đá; giặc tới thì cố thủ, chớ nên nhờ người Minh vào nước ta, để cho dân phải lầm than đó là cái tội không gì lớn hơn.


    Từ năm Giáp mùi (1595) đến năm Mậu tuất (1598), lần lượt Mạc Kính Dụng, Kính Chương, Kính Luân bị bắt.


   Nhà Minh nghe tin Đại Việt có biến, đòi vua tôi nhà Lê phải đến Trấn Nam Quan. Tháng 2 năm Đinh dậu (1597) vua Lê Thế Tông cùng Nguyễn Hoàng lên Nam Quan nhưng người Minh không mở cửa ải nên phải quay về, một năm sau vua Lê lại thân chinh lên lần nữa, mang theo 5 vạn quân, có cả voi ngựa để đề phòng bất trắc, sau đó sai Phùng Khắc Khoan đi sứ, Khắc Khoan đi về mất hai năm trời, mang theo sắc phong của vua Minh.


   Năm Canh tí (1600) Lê Thế Tông mất. Lê Kính Tông lên ngôi. Trịnh Tùng làm Đô nguyên soái tổng đốc chính, Thượng phụ Bình An vương. Tùng cho lập phủ chúa gồm đủ các bộ của triều vua, toàn quyền trong mọi việc, vua Lê chỉ còn làm vì.


   Các hàng tướng nhà Mạc là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga bất bình với Trịnh Tùng bèn phản lại họ Trịnh. Thấy tình hình đã khác, Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho con trưởng Trịnh Tùng là Trịnh Tráng, để con trai thứ năm là Nguyễn Hải ở lại làm con tin rồi giả cách xin đem quân đi đánh Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga, xuống thuyền trốn về Thuận Hoá, từ đấy không ra Bắc nữa, chính thức xây dựng giang sơn riêng cho họ Nguyễn. Dân chúng ngoài Bắc bị nạn binh đao và mất mùa đói kém vào Nam theo chúa Nguyễn khá đông. Trước việc Nguyễn Hoàng bỏ trốn và thế lực phù Mạc vẫn còn mạnh, Trịnh Tùng phải đem vua về Thanh Hoa.


   Bọn Phan Ngạn trở lại với nhà Mạc nhưng Phan Ngạn ngờ Bùi Văn Khuê có ý khác nên sai người giết chết. Vợ Văn Khuê kích động các tướng bắn chết Phan Ngạn báo thù cho chồng.


   Thấy Đông Kinh bỏ trống, mẹ của Mạc Mậu Hợp xưng là Quốc mẫu và trở về kinh đô đồng thời sai người đi đón Mạc Kính Cung. Quân Mạc lúc này đông tới vài vạn.


   Sau khi cho người mang chiếu thư vào Thuận, Quảng phủ dụ Nguyễn Hoàng để yên mặt Nam, Trịnh Tùng mới tiến quân ra Bắc. Mẹ Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị giết chết, Mạc Kính Cung chạy sang Kim Thành. Đông Kinh lại thuộc về nhà Lê. Quân Trịnh đánh sang Kim Thành. Mạc Kính Cung bỏ Hải Dương lên giữ Lạng Sơn, Cao Bằng, xây thành quách để phòng thủ.


   Năm  Quý sửu (1613) Nguyễn Hoàng chết, thọ 89 tuổi. Tuy có 10 con trai nhưng 4 người đầu đã chết, người thứ năm ở ngoài Bắc làm con tin nên con thứ sáu Nguyễn Kim là Nguyễn Nguyên nối ngôi, xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. Năm Kỷ mùi (1619) Trịnh Tùng đem quân vào đánh chúa Nguyễn. Từ đấy chúa Nguyễn không nộp cống nữa và chính thức cuộc chiến Đàng Trong - Đàng Ngoài.


   Lê Kính Tông và con thứ Trịnh Tùng là Trịnh Xuân mưu giết Trịnh Tùng không thành; Trịnh Xuân bị giam vào nội cung, Kính Tông bị bức thắt cổ  chết ngày 12 tháng 5 năm Kỷ mùi (1619). Năm Quý hợi (1623) Trịnh Tùng ốm nặng, triều thần đều tâu lấy Trịnh Tráng kế vị, Trịnh Xuân làm phó. Trịnh Xuân không bằng lòng, lại nổi loạn, đốt phá kinh thành, cùng em là Trịnh Khải đem vua mới chạy ra ngoài. Trịnh Tùng phải giả cách cho người gọi Trịnh Xuân về để trao quyền rồi bắt lấy, chặt chân cho chết. Tình hình không yên nên Trịnh Tráng phải rước vua về Thanh Hoa.


   Tháng 5 năm ất sửu (1625) quân Lê - Trịnh tiến đánh Cao Bằng, bắt được Mạc Kính Cung đem về kinh. Kính Cung xưng vua được 34 năm.


    Tại Cao Bằng, nhà Mạc nhiều năm tổ chức khoa cử và lần đầu tiên cũng là duy nhất một phụ nữ nước ta đã đỗ Trạng nguyên, đó là bà Nguyễn Thị Du. Thầy dậy bà chỉ đỗ thứ hai! Bà giả trai đi thi, sau bị phát hiện, không những không bị tội mà còn được Mạc Kính Cung (?) lấy làm phi, gọi là Tinh phi (Sao Sa). Mạc Kính Cung thất trận chạy vào rừng, bà bị quân Trịnh bắt nộp cho Trịnh Tráng và lại được Trịnh Tráng lấy làm vợ, sau này Trịnh Tráng lên ngôi chúa, phong cho là Chiêu nghi.                                                       


                                                             *


   Mạc Kính Khoan là con Kính Chỉ, gọi Kính Cung là chú nhưng không phụ thuộc vào Kính Cung. Kính Khoan giấu kín tung tích đến 20 năm, lúc đánh lúc rút vào rừng. Quân Lê - Trịnh khi đó cũng chỉ chú ý đến Kính Cung. Sau khi bắt được Mạc Kính Cung, quân Trịnh rút khỏi Cao Bằng, lập tức Mạc Kính Khoan chiếm lấy. Thấy tình hình nhà Lê không yên, Kính Khoan kéo quân xuống đánh tới tận Gia Lâm, sau đó lại rút lên Cao Bằng, tiếp tục xây dắp thành trì để phòng thủ, án ngữ những ngả đường đánh lên. Thành thường được xây nối hai sườn núi, tạo nên khu vực phòng thủ khá rộng bên trong. Người đời sau gọi là Thành nhà Mạc. Năm Quý hợi (1623) Kính Khoan xưng vua, đặt niên hiệu là Long Thái, lập cung điện bằng tranh lá ở xã Vu Toàn. Quân Trịnh nhiều lần tiến đánh Cao Bằng lúc được lúc thua, cứ rút về thì Mạc Kính Khoan lại từ trong rừng ra chiếm lại.


    Khi Mạc Kính Cung bị bắt, Mạc Kính Khoan trốn vào rừng, quân Lê - Trịnh săn lùng mãi không được, hết lương thảo nên phải trở về. Kính Khoan thu thập tàn quân rồi nghĩ không thể chống lại nổi Lê - Trịnh nên sai người mang biểu về kinh đô xin hàng. Vua Lê phong cho Kính Khoan làm Thái uý Thông Quốc công. Thành nhà Mạc ở một số nơi do vậy còn được gọi là thành Quốc công.


   Mạn Bắc yên ổn, quân Trịnh được rảnh tay nên tiến đánh Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng Trong. Nhưng chúa Nguyễn có Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến nên quân Trịnh không thể nào thắng nổi. Đào Duy Từ vốn người Đàng Ngoài nhưng vì là con nhà hát xướng nên không được đi thi, uất ức, Duy Từ chạy vào Đàng Trong bày cho chúa Nguyễn trả lại sắc phong của vua Lê, không nộp thuế cống, đắp luỹ Trường Dục, luỹ Thầy để chống lại Đàng Ngoài, lại bày cho chúa Nguyễn phép tuyển quân, thu thuế theo ngạch bậc khác nhau, nhờ vậy tiềm lực quân sự và kinh tế chúa Nguyễn ngày một mạnh.


   Năm Mậu dần (1638) Mạc Kính Khoan chết ở Cao Bằng.     


                                                             *


   Con Kính Khoan là Mạc Kính Vũ không thuần phục nhà Lê và lại xưng vua, đặt niên hiệu là Thuận Đức. Tháng 3 chúa Trịnh Tráng đích thân cầm quân lên đánh dẹp, sau đó gặp thời tiết không thuận lợi nên phải rút về; tháng 11 lại sai Thái uý Trịnh Kiều lên đánh, sang tháng Giêng lại rút về. Chúa Trịnh mấy lần viết thư hẹn với tướng nhà Minh ở Quảng Tây cùng tiến đánh Mạc Kính Vũ nhưng lúc này chính nhà Minh cũng đang lâm nguy nên không thể động binh. Có lúc, nhân quân Trịnh mải vào đánh Đàng Trong, Mạc Kính Vũ tiến quân xuống tận Tây Cạn, Thái Nguyên. Năm Đinh mùi (1667) Trịnh Tạc đem đại quân lên đánh Cao Bằng, Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc, sau đó quay về chiếm lại đất. 10 năm sau, năm Đinh tị (1677) quân Trịnh phải lên đánh Cao Bằng lần nữa, Kính Vũ lại chạy sang Trung Quốc. Cuộc kháng cự của Kính Vũ đến đây là chấm dứt sau 39 năm dai dẳng. Lúc này nhà Thanh đã thay thế nhà Minh, do Kính Vũ theo Ngô Tam Quế chống lại nhà Thanh nên Kính Vũ bị nhà Thanh bắt cùng với 350 con cháu nhà Mạc, giao cho chúa Trịnh với giá tiền để đánh đổi là 5.500 lạng bạc. Đó là năm Quý hợi (1683). Để con cháu nhà Mạc không còn nghĩ đến chuyện chống đối nữa, những người này đều được tha tội, đưa về Lạng Sơn cho yên ổn làm ăn, một số thì đưa về kinh đô và cũng tha cho cả.


   Như vậy, sau khi bị lật đổ, nhà Mạc còn kháng cự được hơn 85 năm nữa (từ 1592 đến 1677), mà Cao Bằng chính là kinh đô của cuộc kháng chiến, đúng như  ngày trước Trạng Trình có nói: “Cao Bằng tuy tiểu khả dung sổ thế”. Nhưng trên thực tế, mãi đến năm Mậu thân (1688) những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc mới chịu khuất phục hoàn toàn. Một cuộc kháng cự bền bỉ chưa từng thấy trong lịch sử Đại Việt.                                                  


                                  


Phụ lục: HẬU DUỆ NHÀ MẠC           


   (soạn theo: Hợp biên thế phả họ Mạc - NXB Văn hoá dân tộc, 2001;                               Gương sáng  dòng họ, 2 tập -NXB Lao Động, 2002, 2004)  


   350 con cháu nhà Mạc bị nhà Thanh giao cho triều Lê về sau trở thành người dân tộc thiểu số, sống rải rác khắp các tỉnh vùng Việt Bắc, mang họ Mạc, Mai, Ma, Bế... Nhưng hậu duệ nhà Mạc ở những tỉnh đó không chỉ là con cháu 350 người này vì rất nhiều người đã không theo Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc. Họ ở lại và thay tên đổi họ nên hiện nay nhiều người Tày ở đây lại mang những họ của người Kinh như: Lê, Đàm, Nguyễn...


   ở trang Hùng Khê, nay là thôn Câu Tử, xã Hợp Thành, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng có một chi họ Mạc ngay khi họ Mạc bị săn lùng ráo riết vẫn được yên ổn và giữ nguyên họ Mạc từ đấy đến nay. Ninh vương Mạc Phúc Tư là thuỷ tổ của chi họ này. Nguyên là năm 1573, con Mạc Phúc Tư là Mạc Đạo Trai theo quân vào đánh Thanh Hoa chẳng may bị bắt. Trịnh Tùng muốn dùng ông để đánh đòn tâm lý vào nhà Mạc nên gả con gái là Trịnh Thị Nhân cho. Tuy nhiên Đạo Trai đã tự sát. Trịnh Thị Nhân giữ tiết không tái giá, vì không có con nên xin người cháu gọi chồng là chú làm con nuôi; người này về sau đưa mẹ về Hùng Khê phụng dưỡng, con cháu do vậy vẫn được giữ họ Mạc và hậu duệ còn đến ngày nay.      


   Con cháu nhà Mạc quyết chiêu tuyết cho nỗi oan lịch sử của hàng triệu con người nên đã đề ra nguyên tắc “biến dị nhi đồng” và nghĩ ra những quy định để sau hàng trăm năm dù ở đâu và mang những họ khác nhau, vẫn nhận ra nhau cùng chung nguồn gốc:


   - Do chữ Mạc có bộ “thảo đầu” nên họ quy định “Khử túc bất khử thủ” (bỏ chân không bỏ đầu), từ đó đổi sang những họ trong chữ Hán cũng có “thảo đầu” như: Hoàng, Cát, Lê, Thái, Phạm, Lều...


   - Hoặc giữ lấy chữ “Đăng” làm tên lót, hình thành các họ Lê Đăng, Hoàng Đăng, Phạm Đăng, Phan Đăng, Bùi Đăng, Thạch Đăng...


   - Hoặc lấy theo họ mẹ, như Bùi ( tổ là Mạc Phúc Đăng - con Mạc Phúc Hải và Quý phi Bùi Thị Ban), họ Đặng (tổ là Mạc Mậu Giang - con Mạc Mậu Hợp và Quý phi Đặng Thị Xuân) ...


   Họ Phạm ở phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định tổ là Mạc Đăng Thận, cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung đổi thành Phạm Đình Trú, ra đi từ Cổ Trai đã mang theo thanh đao của Mạc Thái Tổ, hiện còn thờ ở từ đường họ. Mạc Bia, hậu duệ của Mạc Kính Điển hiện sống ở Mỹ còn giữ được quả ấn của nhà Mạc.


   Họ Vũ Tiến ở xã Đồng Xuân, huyện Đông Hưng, Thái Bình vào năm 1994 tu tạo từ đường, khi cạo lớp vôi tường đã vô tình làm lộ ra đôi câu đối chữ Hán, đại ý: “Gia thế cho hay rằng là con cháu của Trạng nguyên họ Mạc đời Trần (Mạc Đĩnh Chi) / Tộc phả lưu truyền rằng vốn quê ở Đông Hải, quận Thanh Hà dời san”. Họ Nguyễn Phương ở Thanh Chương, tỉnh Nghệ An  thờ tổ là Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Mậu Hợp có đôi câu đối truyền đời: “Phúc khánh Đại Đồng, thực lạc nhất thành Chân Cảm / Gia đình Yên Lạc, toàn bằng tiên tổ Chí Linh”, nội dung khá bí hiểm nhưng điều chính là ghi lại những nơi Mậu Gang đã đi qua trên đường lánh nạn, từ đó muốn con cháu lần về gốc: Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc và quê gốc là Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dương Bá Cung, người đã viết thế phả họ Lều vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) nói: “Tổ tiên họ Mạc đến đầu thời Lê trung hưng đôỉ thành họ Lều, giữ lại bộ thảo đầu để khỏi lẫn với họ khác”. Gia phả họ Phạm ở Cao Sơn, xã Thái Hoà, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình đã viết sự tích dòng họ mình thành thơ cho dễ nhớ: “Tổ tiên ta xưa kia là họ Mạc/ ở huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Yên...Để giấu che tung tích tránh nguy cơ/ Bỏ họ Mạc đổi thành họ Phạm...”. Gia phả họ Trần ở xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay câu đầu có viết: “Xưa họ Mạc đến Hiển tổ ta bắt đầu đổi sang họ Trần cho theo đó chưa đổ lại họ. Người có gốc như cây có gốc, nước có nguồn. Cái lý đó há nỡ lòng quên...”. Tộc phả Lê Đăng ở thôn Phương La Đông, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở đầu: “Gốc họ Lê Đăng chính là Mạc Đăng”...


   Có những người để ra hàng chục năm trời đi khắp nơi để “vấn tổ tầm tông” vào những năm đường sá, xe cộ còn hết sức khó khăn; có những cụ già cuối đời dứt khoát tìm về Cổ Trai viếng thăm đất tổ rồi mới chịu nhắm mắt xuôi tay...


   Con cháu nhà Mạc nhờ vậy sau hàng trăm năm vẫn nhận ra nhau và hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Mạc Thái Tổ, lại từ khắp nơi về thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng lễ tổ và họp mặt và cứ 5 năm lại là đại giỗ. Bên cạnh đó, dịp kỷ niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, 28 tháng 11 âm lịch, cũng là dịp con cháu nhà Mạc trên Cao Bằng xuống xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng dâng hương tỏ lòng biết ơn Trạng đã giúp họ tồn tại đến ngày nay.


   Điều kỳ diệu nhất là đôi câu đối tương truyền là sấm Trạnh Trình:”Tứ bách niên tiền chung phục thuỷ/ Thập tam thế hậu dị nhi đồng” (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu/ Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn chung). Tính ra, từ năm 1592 khi Mạc Mậu Hợp bị bắt, đến năm 1992 là năm các nhà khoa học lịch sử bắt đầu có những ý kiến đánh giá lại nhà Mạc một cách công bằng hơn, thoát khỏi sự lệ thuộc vào quan điểm của sử thần nhà Lê và Trần Trọng Kim, đúng là tròn 400 năm. Đặc biệt, sau cuộc Hội thảo khoa học về Vương triều Mạc tổ chức tại huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng, ngày 18/7/1994, việc sưu tầm tài liệu về họ Mạc được các Ban liên lạc họ Mạc ở nhiều nơi quan tâm.


   Đến ngày 30/6/2000, Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã lập được danh sách 369 chi họ Mạc và chi họ gốc Mạc ở 25 tỉnh, thành phố (xếp theo A,B,C):


1.     Bắc Giang 11 chi họ: Mạc, Hoàng, Nguyễn, Đào Đăng, Đặng, Phạm, Trần.


2.     Bắc Ninh 5 chi họ: Lê Đăng, Đoàn, Hán, Mậu, Lê Đăng.


3.     Bình Định 3 chi họ: Mạc.


4.     Bình Thuận 1 chi họ: Huỳnh Công Triều.


5.     Cao Bằng 15 chi họ: Mạc, Hoàng, Bế, Vương, Phạm Đăng,Mai, Đinh, Mạc Ngọc.


6.     Đồng Nai 1 chi họ: Bùi Thái.


7.     Hà Nam 3 chi họ: Hoàng, Mạc, Văn.


8.     Hà Nội 5 chi họ: Thạch, Phương Đình, Phương Văn.


9.     Hà Tây 13 chi họ: Bùi Trần, Lều, Cát, Mạc, Liêu, Hoàng, Phùng, Lê, Chu, Phương (gồm Phương Văn, Phương Đăng, Phương Đình, Phương Công), Nguyễn Đăng, Trần Đăng. 


10.   Hà Tĩnh 28 chi họ: Phạm Công, Phạm, Phạm Bá, Thái Văn, Phạm Viết, Phạm Văn, Bùi, Hoàng Văn, Thái, Phan, Thái Xuân, Thái Khắc, Thái Văn, Phạm Quốc, Phạm Cao, Phan Đình, Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Xuân, Phan Đăng, Phan Văn, Phan Viết, Bùi Đình.


11.  Hải Dương 25 chi họ: Mạc (18 chi họ), Nguyễn, Trần, Đặng, Nguyễn Thế.


12. Hải Phòng 4 chi họ: Mạc, Khoa (tức Hoa), Phạm, Hoàng.


    13. Hưng Yên 3 chi họ: Mạc, Phạm.


    14. Nam Định 11 chi họ: Hoàng, Bùi, Phạm.


15. Ninh Bình 4 chi họ Phạm.


16. nghệ An 182 chi họ: Với 5 phái hệ chính:


(1) Phái hệ Phó quốc vương Mạc Đăng Lượng 8 chi họ: Hoàng Trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá, Hoàng Sĩ, Hoàng Văn, Lê Đăng.


      (2) Phái hệ Thế tử Mạc Mậu Giang 14 chi họ: Nguyễn Phương, Hoàng Văn,


      Nguyễn Trọng, Phạm Đình, Phan, Phan Văn, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Đăng.


      (3) Phái hệ Thế tử Mạc Đăng Bình 38 chi họ: Thái Doãn, Thái Khắc, Thái Hồng,


      Thái Văn, Thái Bá, Thái Đắc, Thái Đình, Thái Đạo, Thái Duy, Thái Bá, Thái Huy. 


      (4) Phái hệ hậu duệ Mạc Kính Vũ 6 chi họ: Phạm Ngọc, Phạm Văn, Phạm Bá.


           (5) Các phái hệ khác 117 chi họ: Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Đăng,


           Hoàng Thế, Hoàng Đức, Hoàng Đình,  Hoàng Khắc, Hoàng Ngọc, Hoàng Duy,


           Hoàng Như, Hoàng Kim, Thái,  Thái Hữu,  Thái Văn, Phạm, Phạm Hồng, Phạm


           Viết, Phạm Văn, Phạm Đình, Phạm Bá, Phạm Xuân, Phạm Hữu, Phạm Trọng,


           Phan, Phan Đình, Phan Hữu, Bùi Đình, Bùi Văn, Bùi,  Bùi Gia,  Bùi Thái, Bùi


           Công Trần, Lê, Lê Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân,  Nguyễn Quốc, Mạc, Cao


           Thái, Hồ Đăng.


    17.Quảng Bình 2 chi họ: Hoàng, Phạm Bá.


18.  Quảng Nam 5 chi họ: Hoàng, Huỳnh, Huỳnh Phương, Nguyễn Trường, Mạc Nguyễn Trường.


19. Quảng Ngãi 4 chi họ: Huỳnh, Phạm, Bùi.


20.Quảng Ninh: 3 chi họ Mạc.


21.  Thái Bình 22 chi họ: Hoàng, Phạm Văn, Phạm Ngọc, Phạm Đăng, Phạm, Phạm Đình, Phạm Ngụ, Phạm Xuân, Phạm Chi, Thái Văn, Bùi Đăng, Bùi Đình, Lều Văn, Khổng, Nguyễn Doãn, Nguyễn Công, Vũ Tiến, Vũ Như, Tô, Đỗ, Lê Đăng.


22.  Thái Nguyên 4 chi họ: Mạc, Nông,  Đoàn.


23.   Thanh Hoá 10 chi họ: Hoàng, Hoàng Viết, Hoàng Trịnh, Lê Đăng, Đỗ, Tô, Phạm.


24.   Vĩnh Phúc 4 chi họ: Chữ, Hoàng, Nguyễn, Nguyễn Đăng.


25.   Yên Bái 1 chi họ Mạc.                                                                 *


   Rất nhiều người họ Mạc và gốc Mạc là những nhân vật nổi tiếng, như:


   - Hoàng Diệu (1829 – 1288), Tổng đốc Hà Nội 1880 - 1882, hy sinh tuẫn tiết khi Pháp đánh thành Hà Nội năm 1882.


   - Đốc Tít (1855 – 1912), còn gọi là Đốc Tích, Đốc Tiết, tên thật là Mạc Đăng Tiết, một trong những thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật. Năm 1889 bị Pháp bắt đưa đi đày ở Angiêri.


   - Mạc Đĩnh Phúc (? – 1897), còn gọi là Nguyễn Khắc Tỉnh, cùng Kỳ Đồng chống Pháp, bị giặc bắt và tử hình năm 1896.


   - Phạm Hồng Thái (1895 – 1924), mưu giết toàn quyền Meclanh tại khách sạn Victoria, Quảng Châu, ngày 19/6/1924 không thành, nhảy xuống sông tự vẫn, mộ đặt ở nghĩa trang Hoàng Hoa Sơn cùng 72 liệt sĩ Cách mạnh Tân Hợi. Thuộc phái hệ Mạc Mậu Giang (con thứ 17 của Mạc Phúc Nguyên), đổi sang họ Phạm từ thời Mạc Mậu Linh.


   - Lê Hồng Sơn (1899 – 1933), người được giao nhiệm vụ bảo vệ cho Phạm Hồng Thái. Sau là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, bị Tưởng Giới Thạch bắt giao cho Pháp và bị kết án tử hình năm 1933. Cháu 11 đời của Mạc Đăng Lượng.


   - Phan Đăng Lưu (1902 – 1941), một trong những lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, bị bắt cùng Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập... trong khởi nghĩa Nam Kỳ và hy sinh năm 1941. Cháu 14 đời của Mạc Huyền Nhai.


   - Lều Thọ Nam (1909 – 1934), cùng Trường Chinh tham gia Thành uỷ lâm thời Hà Nội trước năm 1930, phụ trách giới học sinh. Bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, vượt ngục và hy sinh năm 1934. Thuộc phái hệ Mạc Phúc Trì (cháu Mạc Mậu Hợp). Nhà Mạc thất thế, Phúc Trì chạy về phủ Thường Tín, trấn Sơn Tây và đổi thành họ Lều.


   - Phạm Kiệt (1910 – 1975), chỉ huy đội du kích Ba Tơ, sau là trung tướng CAND VN. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Dinh.


   - Chu Thiên (1913 – 1992), nhà sử học, nhà văn, tác giả tiểu thuyết Bóng nước hồ Gươm.


  - Mai Trung Lâm (1914 – 2000), dân tộc Tày, vào Đảng từ 1932, tiểu đội trưởng trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, sau là thiếu tướng QĐND VN.


   - Hoàng Kiện (1915 – 2001), tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở Huế, sau là trung tướng QĐND VN.


   - Dương Mạc Thạch (1915 – 1979), dân tộc Tày, vốn họ Mạc (cha là Mạc Văn Tân), vì ở rể nên theo họ Dương, giữ chữ Mạc làm tên đệm. Chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bí danh Xích Thắng; Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang (1951- 1971). Con là Dương Mạc Thăng, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Cao Bằng đại biểu Quốc hội khoá 10.


   - Mạc Thị Bưởi (1927 – 1951), Anh hùng Lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Pháp.


   - Hoàng Hanh (1893 – 1963), Anh hùng lao động trong kháng chiến chống Pháp. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Lượng.


   - Phạm Thiều (1904 – 1986), cùng với Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy là những người đầu tiên được Nhà nước phong học hàm giáo sư, từ năm 1946.


- Hoàng Tụy (sinh 1927), giáo sư toán học, Viện trưởng Viện toán Việt Nam.


   - Hoàng Phê (s.1932), giáo sư ngôn ngữ học, Viện trưởng Viện ngôn ngữ; em  ruột Hoàng Tuỵ.


   - Hoàng Lê (s.1932), giáo sư, tiến sĩ. Trưởng ban liên lạc họ Mạc tại Hà Nội, chủ biên bộ sách “Gương sáng dòng họ”. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Khuê.


   - Vũ Đình Cự, giáo sư, tiến sĩ vật lý, nguyên Phó chủ tịch quốc hội.


   - Mạc Đường, giáo sư.


   - Hồng Đăng (s. 1936), nhạc sĩ. Tên thật là Phan Đăng Hồng, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cháu ruột Phan Đăng Lưu.


- Phan Đăng Nhật, giáo sư, tiến sĩ.


- Hoàng Trần Cương (s. 1948), nhà văn.


Hải Phòng, tháng 8 – 2006/ tháng 4 – 2007


LVK.


Nguồn: Mạc Đăng Dung. Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê. NXB Hải Phòng, 2007.


 


Bản điện tử của tác giả gửi www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »