tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
13.02.2020
Anh Đức
Hòn đất


Cô đút ngón tay vào miệng cắn cắn, và nín bặt. Trong đêm tối cô thấy Cà Mỵ hiện ra với khuôn mặt nâu rám hay ngước lên và khóe mắt của Cà Mỵ xưa nay vốn đã ươn ướt thì giờ lại càng ướt hơn. Đôi mắt của cô gái hiện ra trước Quyên trông sao vẫn thiệt thà, vẫn ngây thơ một cách đáng thương. Quyên nhớ những khi Cà Mỵ cười như nắc nẻ bên suối, nhớ Cà Mỵ gánh nồi đi Tri Tôn, mồ hôi rấp dính những món tóc loăn xoăn trên trán. Quyên nhớ Cà Mỵ ngồi đan cà - ròn, miệng hát bài "Hoàng tử chém chằn". Tháng nắng, chiều nào ra suối Cà Mỵ cũng đặt cà - om lên cỏ, chúm đôi bàn tay dịu nhỉu múa một điệu của riêng cô nghĩ ra. Thoáng chốc, Quyên nhớ đến mọi nét mọi vẻ của Cà Mỵ. Cả cái cử chỉ khi Cà Mỵ ôm cô mà hôn thiệt là kêu, thiệt là nhiệt thành. Nghe thằng Xăm chết, Quyên không mảy may thương xót. Chớ thoáng nghe đời Cà Mỵ hình như bị bọn giặc phá hoại Quyên đau quá, thương cho Cà Mỵ quá. Song Quyên vẫn không tin. Quyên nói với anh Hai Thép:


- Đâu chắc là Cà Mỵ đã bị tụi nó làm ẩu. Anh Hai à, chưa chắc đâu. Mặc dù nói vậy, sao Quyên vẫn cảm thấy chừng như việc đã gần tới sự thật lắm. Linh tính của cô như quả quyết với cô điều ấy.


2


Mưa ngớt vào lúc nửa đêm. Qua hôm sau bầu trời Hòn Đất trở lại trong trẻo. Các vườn lá trên Hòn được trận mưa đêm tắm gội cho mướt mượt. Địch không mở thêm một cuộc tấn công nào mới. Ngồi trong cái chuồng trâu bỏ trống dùng làm chỗ đóng quân, hạ sĩ Cơ và ba người lính cùng tiểu đội hồi hộp đợi từng tiếng đồng hồ của ngày hôm ấy trôi qua. Họ hy vọng mọi sự được êm ái, để trời sụp tối là họ tới nơi hẹn gặp thím Ba. Không may cho họ, lúc xế, hạ sĩ Cơ bị tên trung úy gọi tới:


- Anh về dẫn tiểu đội của anh lên đại đội!


Hạ sĩ Cơ thiếu điều muốn run lên. Anh nín thở, nghe tên trung úy nói tiếp:


- Tối nay người ta hát bóng cho Việt cộng với dân chúng coi... Mấy anh lên khiêng vác, làm giàn rớ gì đó!


- Dà... Hạ sĩ Cơ thở phào nhẹ nhõm. Anh ta hỏi:


- Dạ đi bây giờ?


- ờ, đi liền bây giờ! Hạ sĩ Cơ nghĩ bụng:


“Nguy quá, kiểu này làm sao gặp thím Ba ú cho được! " Về tới chuồng trâu, anh kêu lính trong tiểu đội sửa soạn đi. Và anh gọi riêng một trong số những người lính sẽ trốn với mình, rỉ tai bảo:


- Chạy lại quán cho thím Ba biết mình bị kẹt. Hỏi thím coi hưởn trê trễ lối bảy tám giờ được không. Rồi chạy cho tôi hay! Hạ sĩ Cơ dắt tiểu đội lính đi lên đại đội. Tên chỉ huy đại đội bảo an thấy hạ sĩ Cơ dắt lính tới thì nói:


- Đi làm chỗ hát bóng đó hả?


- Dà.


- Theo tôi! Hắn dắt hạ sĩ Cơ cùng tiểu đội lính đi vô vườn mãng cầu. ở đó một đám người gồm nhiều phụ nữ và vài ông già đang ngồi lổm nhổm, có mấy tên bảo an đứng coi chừng. Trong số đó có chú Tư Râu ba thằng út. Chú bị bắt khi đem cá vô xóm bán. Chú đang cảu nhảu:


 


- Mấy ông bắt tôi đi mần bất tử như vầy bỏ nò ở nhà không ai thăm. Tôi thì có biết làm cái vụ này đâu kia chớ!


 


- Không biết thì người ta chỉ cho biết. Bỏ một bữa thăm nò mà cằn nhằn hoài. Mấy người ham làm giàu vừa vừa chứ. Tụi tôi đi đánh Việt cộng cho mấy người hưởng chớ ai hưởng?


 


- Tôi không hưởng cái khoản đó! Chú Tư thản nhiên đáp. Tên đại đội phó nổi cục, bước tới ngó mặt chú. Hắn ngó mé bên nầy rồi lại ngó mé bên kia:


 


- ‰, tên gì mày?


 


- Tôi tên Tư.


 


- Tao hỏi mày tên gì?


 


- Tôi nói tôi tên Tư! Tên đại đội phó cung tay đấm mạnh vào mặt chú Tư. Nhưng chú đã lẹ làng gạt phắt tay nó ra. Đám đờn bà thấy thế vụt chạy nhào tới:


 


- Trời ơi, sao đánh người ta. ạng hỏi tên thì người ta nói tên, chớ sao ông lại đánh? Một ông già chậm rãi bảo tên thiếu úy:


 


- ạng à, ông trật rồi. Chú ta tên Tư thiệt mà, bà con tôi vẫn kêu chú là chú Tư Râu. Tên đại đội phó quay phắt đi:


 


- Đ. mẹ, tôi không biết Tư Râu Tư Ria gì hết. A - lê, đi làm. Đám đàn bà léo xéo:


 


- Không, tụi tôi không đi nè. Ai giỏi làm gì thì làm thử coi! Không muốn không khí trở nên găng, nên chú Tư ôn tồn nói:


 


- Thôi mình đi mấy thím! Nói thế xong, bỗng chú bước vụt lên ngang mặt tên thiếu úy, nói vừa đủ cho hắn nghe:


 


- Cậu là người Việt nên tôi chỉ gạt tay cậu ra. Chớ Mỹ mà nó đánh tôi kiểu đó, tôi vặn họng nó rồi a cậu! Tên thiếu úy ngó sững người đàn ông râu ria xồm xoàm vai u thịt bắp. Hắn đi rướn tới, nặng nề, và hoàn toàn câm lặng. Đám phụ nữ nghe lời chú Tư Râu, lẽo đẽo đi theo. Tên thiếu uý ấy sai lính khiển mọi người vác tre, vác cưa, dao rựa đi về phía hang. Bọn lính đốc thúc bà con dựng lên một cái khung tre trước miệng hang. Giữa lúc kềm giữ cho bà con đào lỗ, cắm cọc, hạ sĩ Cơ không ngớt dòm về phía miệng hang. Anh ta bảo bụng:


 


“Còn có mấy tiếng đồng hồ nữa thì mình thoát khỏi chỗ này rồi, phải thủ kỹ mới được". Anh lính đi lại quán thím Ba ú đã về cho hạ sĩ Cơ hay rằng bất luận thế nào thím Ba cũng đợi họ tại ngã ba Sĩ Lỳ để dắt họ đi, nếu họ về sớm sẽ đi sớm, về muộn sẽ đi muộn, không thể dời ngày khác được. Mãi tới choạng vạng cái khung để mắc màn ảnh mới dựng xong, sau bao lượt dùng dằng chèo kéo. Hạ sĩ Cơ dắt tiểu đội trở về tới chuồng trâu thì trời sụp tối. Anh ta và ba người lính nọ bưng cà - men cơm ăn qua loa vài hột rồi vác súng lỏn đi... Tới ngã ba Sĩ Lỳ, họ không thấy ai cả. Người nọ thì thào hỏi người kia:


 


- Cha, sao không thấy thím Ba đâu hết?


 


- Mày nghe thím dặn kỹ không?


 


- Hạ sĩ Cơ hỏi. Ngay lúc đó, có tiếng bên vệ đường vọng ra:


 


- Anh em đó hả? Đúng là tiếng thím Ba. Mà vẫn chưa thấy thím đâu. Lát sau mới nghe tiếng sột soạt trong bụi cây vệ đường:


 


- Tôi đây nè. Cái bóng to béo của thím ở trong bụi bước ra, thì thào hỏi:


 


- Anh em tới đủ hết chưa?


 


- Đủ.


 


- Đưa súng đạn hết đây cho tôi! Bốn người lính cởi súng đạn, run run cầm giao cho thím Ba. Thím lanh lẹ tóm xách một tay hai cây súng, lủi vô bụi. Chốc sau, thím chui ra trao cho mỗi người một ốp mo cau còn bốc hơi nóng ấm:


 


- Đây là phần cơm của mấy cậu. Có thịt gà ở trỏng!


 


Bốn người lính cóm róm đỡ lấy mo cau, thím Ba bắt đầu đi vượt lên, xấp xải. Khỏi ngã ba vài trăm thước, thím rẽ xuống ruộng. Bốn người đi theo thím như chạy. Một đỗi sau, tới giữa đồng, họ bỗng nghe tiếng loa vọng ồm ồm trong xóm. Thím Ba hỏi:


 


- Cái chi vậy?


 


- Tụi nó lùa bà con đi coi hát bóng mà! Thím Ba yên tâm đi tới. Sông Vàm Răng hiện ra như một kẽ trũng, đang chảy đổ ra biển. Nước sông mỗi lúc một ráo kiệt, thỉnh thoảng réo lên, như tiếng người kêu khản giọng giữa bốn bề đất trống đồng khô. Thím Ba ú xăm xăm đi tới bờ sông. Thím vỗ tay bộp bộp, ở phía bờ bên kia bỗng chổi dậy mấy cái bóng phụ nữ vắt vẻo búi tóc:


 


- Chị Ba đó hả?


 


- ờ.


 


- Cho anh em qua đi. Cứ lội qua, cạn xợt thôi! Thím Ba ú nói với bốn người lính:


 


- Thôi bây giờ mấy cậu đi nghe. Phận sự tôi tới đây xin hết! Thím móc túi lấy cái gì đưa hạ sĩ Cơ:


 


- Đây, bà con cho chung mấy cậu ba trăm. Hạ sĩ Cơ rụt tay lại. Thím Ba ú nhét vô tay hạ sĩ Cơ và bảo:


 


- Mấy cậu cầm mà xài đường. Của bà con cho, mấy cậu cứ lấy, không can chi! Hạ sĩ Cơ buộc lòng cầm tiền. Anh ta cứ đứng ngây miệng lúng búng câu gì không rõ. Bốn người lính từ biệt thím Ba rồi cởi giày, lần lượt lội xuống bãi bùn. Người phụ nữ bờ bên kia nói trỏ xuống bốn người lính đang lội ồn ột.


 


- Mấy cậu bận quần xà lỏn thôi, còn đồ lính cởi ra ném xuống sình đi! Qua đây sẽ có quần áo cho mấy cậu thay!


 


Bốn người nghe lời cởi quần áo giữa lòng sông cạn. Họ vo guộn những bộ binh phục bảo an vụt xuống bãi bùn rồi lấy chân đạp nhận xuống thật sâu. Trong bóng tối lờ mờ, thím Ba ú còn nhìn thấy bóng những người lính vừa rũ bỏ binh phục đang lội lên bãi sông bên kia. Bây giờ thím Ba ú mới thiệt tin là bổn phận mình đã hoàn tất. Có cái gì khiến thím hân hoan thật sự. Thím tự nhủ:


 


“Được bốn người cũng đỡ bốn người! " Đến lúc anh em lên tới bờ bên kia, thím mới quày lưng trở về. Vào tới rìa xóm, thím Ba nghe tiếng người dậy lên rào rào như ong vỡ tổ. Và tiếng lính la ó vang rân, thím đứng lại một chút mới đi vô. Vừa mới ló ra ngã ba, thím liền bị một tên lính chộp tay thím lôi đi. Thằng lính la oang oang:


 


- Bắt được thêm con mẹ này đây! Thím Ba ú hốt hoảng, tính xô tên lính mà chạy. Nhưng một thằng đi trờ tới chợt lầu bầu:


 


- Đ. mẹ, dân xứ này ngu quá, tới coi hát bóng mà cũng phải rượt như rượt gà! Nghe vậy thím Ba vỡ lẽ, nên không chạy. Thím dục dặc tuột tay thằng lính:


 


- Bỏ tôi ra, để tôi đi, làm gì mà dữ vậy? Thằng lính buông tay thím. Nó nói:


 


- Mấy bà nội đi hay không đâu có ăn nhậu gì tới tôi. Lùa mấy bà đi, tôi cũng chớ có được đồng xu cắc bạc nào. Ngặt thiếu tá kêu lùa là tụi tôi phải lùa!


 


- Đi thì đi... Vậy chớ hát tuồng gì đó hả cậu, mà hát ở đâu?


 


- Bà nội này nãy giờ bộ lên chuồng ngủ rồi sao chớ? Người ta phát loa năm bảy lượt mà không nghe. Hát tuồng Huê - kỳ, hát ở trong hang! Thím Ba ú thừa biết rồi, nhưng thím thấy cần phải đến đó, nên thím chịu đi, không cự nự gì nữa. Lát sau, lại có một 85 86 đám bà con cũng bị dồn tới. Hỏi ra thì là những người cuối cùng mà bọn giặc vừa bắt được. Bọn lính dắt mọi người tới bãi đất trống trước miệng hang thì ở đó đã đen nghẹt những người. Loa phóng thanh của địch treo trên các cọc tre thét oang oang kêu bà con giữ trật tự. Nhưng đám bà con ngồi trên bãi đất trống vẫn nhốn nháo, ầm ĩ. Tên thiếu úy tâm lý chiến đêm nay đóng vai trò nổi bật. Tiếng gào của hắn trong loa không lộ vẻ bất bình mà lại tỏ vẻ phấn chấn. Vì rốt cuộc, cái sáng kiến của hắn đã được đem ra thực hiện. Vì máy nổ đã khởi động, tấm vải trắng màn ảnh đã được treo lên, và ít ra thì cũng có tới một ngàn người bị dẫn tới ngồi trên bãi đất này, Mặc cho đám quần chúng bị bức bách coi phim đó còn ồn ào huyên náo, tên thiếu úy vẫn cứ bắt đầu. Hắn trịnh trọng:


 


- Kính thưa toàn thể đồng bào. Hôm nay tôi xin hân hạnh giới thiệu cùng quý đồng bào cuốn phim hay nhứt mà chúng tôi vừa nhận được của trên. Xin lưu ý cùng toàn thể quý đồng bào, đây là cuốn phim chiến trận ở Cao - ly. Quân đội Huê - kỳ đánh phá một trái núi tên gọi Thượng - cam - lĩnh...


 


Đèn điện vụt tắt ngấm. Máy chiếu phim quay sè sè. Một đoàn máy bay xuất hiện, che rợp màn ảnh. Rồi bộ binh kéo đi rầm rộ. Quân Mỹ đội nón sắt, cắp súng chạy sau những xe tăng có gắn đại bác nòng dài nghễu nghện. Những hình ảnh đầu tiên đó quả có sức lôi kéo của nó. Trên bãi đất, tiếng nhốn nháo lắng xuống dần. ở trong hang, tổ gác miệng hang cũng nhìn thấy rõ mồn một. Anh Hai Thép nói:


 


- Tụi này đánh mình không nổi, giờ bày trò chiếu phim tác động đây. Để coi coi... Ngạn ghìm súng, dán mắt theo dõi. Màn ảnh ở hơi xa một chút, nhưng anh trông thấy rõ đạn đại bác nổ, những vầng khói, cả những cái nón sắt bóng loáng và các đôi chân quấn xà cạp của quân Triều - Trung cuống chạy lẫn vào trong miệng hang núi sâu hoắm. Ngạn nghĩ:


 


“Chắc tụi nó bắt lính Lý Thừa Vãn và lính Tàu Tưởng đóng cho nó quay!... " Trên màn ảnh, các cánh quân Triều - Trung lần lượt bị máy bay, xe tăng và bộ binh Mỹ dồn vào hang. Ngạn văng tục:


 


- Mẹ nó, nó xuyên tạc trận Thượng - cam - lĩnh. Cái phim này các đồng chí Trung Quốc quay rồi, hồi gần hòa bình, tôi có coi!


 


- Phải, tôi cũng có coi...


 


- Trọng nói. Ngạn tiếp lời:


 


- Ai chạy lấy mấy cái loa mo cau ra đây cho tôi!


 


- Để tôi đi! Trên màn ảnh bắt đầu diễn ra những cuộc xung phong ác liệt. Quân Mỹ nhiều lượt tràn vào hang. Chúng cũng bị đánh bật ra. Rồi các giếng nước có cần vọt quanh núi đều bị quân Mỹ chiếm. Trong hang, những chiến sĩ Trung - Triều rã rượi, đói khát... Quân Mỹ lại xung phong hết sức dũng mãnh. Kìa, những chiến sĩ Triều - Trung ngã gục tại miệng hang, tay chới với buông những khẩu tiểu liên kiểu có nhiều lỗ tỏa nhiệt. Loa phóng thanh không ngớt rít rống, giải thích. Cuối cùng tiếng loa dồn dập, câu nọ xọ câu kia:


 


- Bọn Trung cộng và Bắc Cao rất chi là ngoan cố. Chúng bị vây siết mà vẫn không chịu đầu hàng. Quân đội Huê - kỳ buộc lòng phải phá hang. Đây là lúc Huê - kỳ đang đem chất nổ vô! Ngay lúc đó trên màn ảnh quả nhiên hiện ra bọn lính Mỹ vác hòm thuốc nổ cháy xốc vô hang, dưới làn hỏa lực của các cỡ súng yểm trợ. Cuối cùng toàn bộ trái núi bị giật nổ tung, bắn ra vô vàn đất đá. 89 90 Tên thiếu úy tâm lý chiến hối hả nói một tràng kết luận:


 


- Quý đồng bào chắc đã thấy rõ, trái núi lớn như vậy mà còn nát vụn, huống hồ là cái Hòn này... Tới đây, miệng loa của chúng bỗng day vào phía hang. Vẫn là giọng nói đang hồi phấn chấn của tên thiếu úy:


 


- A - lô, a - lô, hỡi các phần tử Việt cộng trong hang! Chúng tôi khuyên các người hãy đầu hàng. Nếu không, quân đội cộng hòa buộc lòng phải đánh nát cái hang của mấy người y như trong phim này vậy... Ngạn lập tức giơ cái loa mo cau lên, thét ra:


 


- Nghe đây, đồng bào hãy nghe chúng tôi nói đây! Vừa rồi tụi giặc chiếu cái phim gì đồng bào biết không? Cái phim láo đó! Đồng bào đừng tin. Chuyện này chúng tôi biết rất rõ, chính bộ đội chí nguyện Trung Quốc và bộ đội Triều Tiên đã chôn vùi giặc Mỹ tại trái núi đó! Ngạn nói tới đây, đồng bào ở ngoài hang liền vỗ tay như sấm. Anh nói tiếp theo:


 


- Bà con ơi, chúng tôi còn một người chiến đấu một người, còn hơi thở nào chiến đấu hơi thở nấy. Tất cả chúng tôi đều còn sống, còn đánh... Bớ mấy thằng giặc theo Mỹ - Diệm, tụi bây có giỏi thì vô đây... Vô đây tụi tao bắn đổ ruột hết thẩy... Nhướng mắt mà coi nè! Ngạn liệng cái loa, xóc khẩu tôm - xông, nhắm vào màn ảnh bóp cò. Súng nổ "đoành đoành đoành". Màn ảnh bị lủng ba lỗ dụm vào nhau. Bà con bên ngoài lại vỗ tay, reo hò dữ dội. Anh Hai Thép ngăn:


 


- Thôi đừng bắn nữa, để dành đạn. Đến khi bọn giặc bắt đầu xổ trung liên vào hang thì Ngạn và anh em đã nép mình sau các mỏm đá. Loạt trung liên của giặc vừa dứt, Ngạn lại bắc loa nói ra:


 


- Hỡi các anh em binh sĩ, chúng tôi khuyên các anh em đừng đánh vô hang nữa mà chết uổng mạng. Tốt hơn hết là đòi về hoặc đào ngũ. Nếu anh em nghe lời tụi chỉ huy xông vô đây thì chúng tôi phải nổ súng. Mà khi chúng tôi đã nổ súng thì anh em ắt phải chết... Nói để anh em biết, ở trong này bắn ra không trật đâu! Loạt trung liên thứ hai bây giờ lại xổ ra. ý chừng tên xạ thủ vừa đóng băng đạn mới. Nhưng giữa cái khoảng nó thay băng, Ngạn đã lợi dụng xong rồi. Buổi chiếu bóng thế là thất bại. Bà con đốt đuốc kéo về. Tiếng cười nói rộn lên khắp khu vườn. Tên thiếu úy tâm lý chiến hổn hển nguyền rủa tên thiếu tá:


 


- Tôi đã nói đừng lùa tụi nó tới coi mà không chịu, ai biểu tham... Tỷ như không có tụi nó thì Việt cộng coi ên, thối chí hay không thối chí cũng không hại. Đằng này..... Trong lúc đó thì tên thiếu tá vẫn đang ngồi nhậu giữa ngôi nhà nền đúc. Nghe tên lính chạy về cho hay, hắn liệng ly rượu vỡ "choang", cười kha kha:


 


- Đ. mẹ hư hết rồi sao hả? ối, thằng thiếu úy Sanh non lắm. Hồi nó đưa ý kiến đó, tôi nghi rồi. Ngặt nó cứ đeo theo tỉ tê ton hót hoài, tôi mới buông xuôi cho nó làm. Muốn hiểu tụi Việt cộng hỏi tôi đây nè!... Hồi tôi làm quận ở Xẻo Rô, tôi trói tụi nó lại dập đầu bằng búa mà tụi nó còn không ngán. Đập thằng trước té xuống, thằng sau vẫn tự nhiên như thường. Mấy con nữ cán bộ cũng vậy, tôi càn vô cứ bắt được mấy đứa đem về ghim kim vô đầu ngón tay. Mới ghim xong chưa kịp lấy búa gõ thì đã có đứa nói:


 


- "Coi đây! " rồi nó vỗ mạnh mười ngón tay vô tường, lút kim. Đ. mẹ, Việt cộng là vậy đó! Không thấy con nhỏ hôm trước sao, chém gần lìa cổ rồi mà vẫn chửi. Huống chi đem tuồng hát bóng ra dụ nó, dụ mẹ gì được mà dụ!


 


Tên thiếu tá nói, chửi thề, và tiếp tục rót rượu. Hắn rót tràn rượu trắng vào một cái ly mới, dằn mạnh cái chai xuống mặt bàn làm ly rượu sóng sánh đổ tạt. Hắn đưa tay ra dáng như đè vật gì trong không khí xuống:


 


- Thô... ôi, để đó... Hắn quay phắt sang bên:


 


- Trung úy Tự!


 


- Dạ, có tôi. Một tên trung úy trạc bốn mươi tuổi đang đứng dựa tường vội vàng bước tới. Tên thiếu tá bảo:


 


- Anh cho trộn xi - măng, gánh gạch vô hang, như hôm nọ đã bàn...


 


- Ngay bây giờ à, thưa thiếu tá?


 


- Ngay bây giờ, phải làm cho gấp. Sáng mai tôi chỉ huy lấp mẹ cái miệng hang đó là yên!


3


Chú Tư Râu nói với Cà Mỵ:


- Té ra hồi chiều tao bị tụi nó bắt đi làm cũng không uổng công Mỵ à. Anh em trong hang nói nghe "đã" quá! ... Trên đường ra bãi, Cà Mỵ lẽo đẽo đi theo sau lưng chú Tư. Thằng út nói vậy mà đúng. Bà Cà Xợi hiện đang ở ngoài nhà nò. Bữa trước, bà con bảo bọc bà ở xóm lưới. Nhưng tụi lính lùng kiếm riết quá, nên hôm qua chú Tư lảnh đem bà ra giấu ở nhà nò. Đợi lúc trên đường không còn ai, Cà Mỵ hỏi:


- Má tui hôm rày ra sao chú Tư?


- Vẫn mạnh.


- Má tui có buồn hay chết xỉu nữa không chú?


- Không... có cái là tao thấy bả coi hơi khác khác...


- Khác sao chú!


- Tao cũng không biết. Mà bây giờ má bây mần công chuyện coi mau mắn lẹ hết sức!


 


- Má tôi mần công chuyện gì?


 


- Má bây nấu cơm, vá lưới dùm tao. Tội nghiệp, má bây cũng chưa được vui... Cà Mỵ không hỏi nữa. Cô áp đôi tay lên ngực, bước đi từng bước một. Trước mặt cô, sóng biển nhuốm ánh trăng muộn dào dạt la liếm vào bãi cát. Cô đi trong vầng trăng và tiếng sóng đó, mà tấm lòng chất phác của cô trào lên biết bao uất ức. Hôm qua cái nhà của cô đã bị tụi giặc đốt. Và bây giờ cô cảm thấy sợ tiếng lá dừa khô kêu rắc rắc, vì trên những tàu lá đó cô đã bị mấy thằng lính thay nhau cưỡng hiếp, trong lúc cô đem cơm đi vô hang. Chiếc xuồng của chú Tư vẫn còn nằm trên bãi. Sóng biển tung tóe liên tiếp sau lái xuồng. ý chừng sóng muốn vỗ tới lái chiếc xuồng đó, nhưng nó vẫn không sao vỗ tới được. Chú Tư Râu bước đến kéo vần chiếc xuồng. Cà Mỵ vịn be phụ đẩy với chú. Mũi xuồng chuồi xuống, rập vã vào ngọn sóng, để lại phía sau một đường cát miết dài. Chú Tư bơi lái bằng cây chèo. Chú bơi cật lực nhưng mũi xuồng không rấn lên được bao nhiêu. Gió thổi chỉ mũi, xuồng đi rất chật vật. Chiếc xuồng nhảy nhót men theo các cây hàng rào nò hiện mờ mờ, chạy dài tít tắp. Xa xa phía trước, ánh đèn đỏ nhà nò nhấp nháy như nổi trên lưng sông. Chú Tư trỏ tay về ánh đèn nói vui vẻ:


 


- Má bây còn biết nổi đèn lên dùm tao là bả còn tỉnh lắm. Không sao đâu! Cà Mỵ nhìn ánh đèn. Ban đầu cô chỉ nhìn thấy ánh đèn đó, nhưng xuồng đi một đỗi sau thì cô bắt đầu thấy dạng nhà nò. Dưới ánh trăng bàng bạc, nhà nò của chú Tư hiện ra giống cái chuồng chim bồ câu, nổi hêu một mình giữa bốn bề sóng động. Từ trong bãi bỗng có tiếng chim bìm bịp kêu giục giã một thôi dài. Tiếng kêu của con chim lông nâu báo con nước triều lên xuống ấy nghe tợ tiếng tù và rúc, càng về cuối nghe càng nhặt.


 


- Nước lên rồi!


 


- Chú Tư nói.


 


- Bây giờ chú Tư đi thăm nò không? Để cháu đi thăm với chú nghen?


 


- Thôi... Không kịp đâu Mỵ à. Để con nước ròng sáng thăm cũng được! Chiếc xuồng vượt qua mấy cây hàng rào cuối cùng rồi căng vào bậc thang sàn lảng của nhà nò. Cà Mỵ bò tới giơ tay bám vịn nấc thang, vừa leo lên vừa kêu lớn:


 


- Me, me ơi! Bà Cà Xợi đang nằm mơ trong chòi vùng choàng dậy. Bà chệnh choạng chạy ra. Hai mẹ con gặp nhau ở chỗ sàn nhà. Cà Mỵ vì vấp vào cái cây lót sàn nên khuỵu xuống, ôm ngang người mẹ. ánh trăng chiếu rọi ngấn mắt long lanh giàn giụa của Cà Mỵ đang ngước lên. Giữa lúc chú Tư đang quấn thêm vòng lòi tói nữa, buộc xuồng vào cầu thang. Sợi dây lòi tói đó cứ bật kêu rủng rẻng. Chiếc xuồng tuy đã buộc vào gần cầu nhưng nó chẳng thể đậu yên với nhịp sóng lúc thì nâng nó lên, lúc thì níu nó xuống. Chú Tư đi vào lấy tấm đệm trải giữa sàn nhà nói:


 


- Thím Cà Xợi với con Mỵ ngủ ở đây nghe! Rồi chú đến ngồi bên cái mẻ un còn ngún khói, kề miệng thổi phù phù. Chú móc bì thuốc, vừa vấn thuốc vừa nói:


 


- Mẹ nó, mới tới đây có mấy bữa mà nhà nào nó cũng gây oán. Thím Cà Xợi à, thím với con Mỵ đừng sợ, cứ ở đây, chừng nào tụi nó rút, thím hẵng về. Chừng đó tụi tôi sẽ ráp cất nhà lại cho thím. Mùa tới có thiếu mạ cấy thì cô bác giúp đỡ, không lo...


 


- Tui còn có hai bàn tay, có cô bác, tui đâu lo. Mà điều... Bà Cà Xợi ngập ngừng, lát sau mới nói tiếp, giọng rên rẩm:


 


- Để thằng Xăm cũng khổ, mà nó chết rồi tôi cũng khổ. Chú Tư ngước nhìn về phía bà Cà Xợi. Chú thấu hiểu lòng bà. Nhưng chú nói:


 


- Thím đừng nghĩ vậy, đừng nghĩ gì nữa... Kể như, thím không có đẻ thằng Xăm đi. Hồi giờ chủ Mưu dưỡng dạy nó, thằng Mỹ - Diệm tập dượt nó thành đứa ác ôn. Nó có còn là con thím nữa đâu. Nói thiệt, tôi mà có thằng con thế đó thì tôi chặt lâu rồi! Bà Cà Xợi làm thinh. Chú Tư lại nói:


 


- Thím Cà Xợi à, trận này tụi nó về đây đánh phá tính lập bót rồi giựt đất giựt biển của mình lại ráo đó đa thím!


 


- Tui biết...


 


- Cái đó mới là cái khổ nạn lớn!


 


- Thằng Xăm có nói với tui, bữa nó chết...


 


- Nói sao?


 


- Nó nói là chừng tiêu diệt hết đằng mình trong hang thì nó ở lại đây luôn!


 


- Ghê không? ở đây đặng rồi giựt đất thâu tô chớ gì, ở đây đặng bắt bà con mình trở lại cái cảnh đi mua từng thước đất nắn nồi như hồi nẳm chớ gì! Nói thế xong, chú Tư khoát tay trỏ biển:


 


- Bà mẹ nó, nó tính vậy, chớ dễ dầu gì mình chịu rủ tay lần nữa thím? Thằng Bé tôi nghe nói cụt tay, tôi cũng không thối chí. Tôi hứa với thím, hễ tụi nó mà nhớm khiêng gạch xây bót là tôi bỏ nò vô xóm nhập du kích liền. Hổm nay tôi cứ tính tới nước cùng là cho nó chiếm được hang và anh em trong hang có hy sinh hết đi thì rồi Hòn Đất này cũng nhen nhóm đánh nữa. Nói là nói giả dụ vậy, chớ anh em ở trỏng đâu có chết thím... Cà Mỵ nói:


 


- Tám bữa rồi nó không nhập vô hang được. Võng trong xóm đều bị tụi nó lấy để khiêng thây!


 


- Cứ cái "mửng" này chắc là nó phải rút. Lính tráng mất thần hết rồi. Bà con mình trong xóm mấy bữa nay hễ gặp lính là dọa. Tụi lính sợ dữ lắm. Mai tôi cũng vô trong xóm coi... Cà Mỵ nhích tới, khẽ bảo:


 


- Chú Tư ơi, chừng nào cần đem gạo vô hang thì để cháu đi... Cà Mỵ nói chưa dứt câu, chú Tư bỗng rùng mình. Hôm qua lúc ghé nhà mẹ Sáu, mẹ đã kể cho chú nghe rằng Cà Mỵ đã nói với mẹ chuyện nó bị hiếp. Cà Mỵ khóc rấm rức và bảo mẹ Sáu. "Muốn đem gạo vô hang cho mấy chú nên con liều mình bà ơi". Chú Tư Râu thương cho Cà Mỵ quá nên khi nghe cô đòi đi đem gạo nữa thì chú gạt ngang:


 


- Không, không... Chú vụt cái tàn thuốc xuống kẽ sàn. Khoanh tay ngồi im lúc lâu, chú mới đứng dậy nói:


 


- Má bây ngủ rồi. Thôi bây ngủ đi. Tao cũng đi ngủ đây! Chú Tư lại chỗ góc trại, vách nón chun vô. Cà Mỵ dặn:


 


- Gần sáng có đi thăm nò kêu cháu dậy đi với nghe chú?


 


- ờ, để tao kêu! Chú Tư mới nằm xuống đã ngáy liền. Chú ngủ một giấc dài thì Cà Mỵ mới chợp mắt thiếp đi. Lúc bìm bịp kêu nước giựt ròng, chú Tư trở dậy. Chú lại bếp thổi lửa, hút thuốc. Hút hết điếu thuốc chú mới mò kiếm cái lưới vợt, lom khom đi ra. Ngang chỗ Cà Mỵ nằm, thấy Cà Mỵ vẫn còn ngủ thì chú không gọi, vác vợt ra bậc thang, mở xích xuồng. Trời hãy còn tối. Sóng vẫn đùa giỡn với làn sương phủ dày mặt biển. 103 104 Chú Tư bơi xuồng từ trụ "ông bổn", ra tới họng nò. Vừa bơi chú vừa nghĩ bụng:


 


“Mình bỏ một con nước, bây giờ ra thăm chắc thế nào cá cũng chạy khá! " Buộc xuồng cập vô hàng rạo xong, chú xốc cây vợt bước tới mũi xuồng. Nước trong nò đã giựt cạn. Mấy con cá chẽm tung mình lên rồi lại rớt xuống. Cá chạy quẩn trong nò tóe nước sáng trưng. Tôm búng tanh tách, tanh tách. Chú Tư đứng chịu hai chân chữ bát, nơi sạp mũi, thọc cây vợt xuống. Hai tay chú nhấc cán vợt nặng trĩu, đổ hất vào khoang xuồng. Cá giống, cá guộc, cá chẽm chuồn mình giãy đành đạch. Chú Tư xúc hết vợt này tới vợt khác, xúc mỏi cả tay. Còn mấy con cá to vẫn chạy vòng quanh nò. Chú Tư bèn thọc sâu cây vợt xuống, rà đón đặng bắt nốt. Thình lình sóng xô đập một vật gì vào dãy hàng rạo ở ngoài. Rồi vật ấy cứ cặp theo hàng rạo mà trôi tới. Tưởng có con cá mú lớn chạy vào, chú Tư vội rút cây vợt lên, để yên, cho nó đâm thẳng vào miệng nó. Nhưng lạ quá, vật đó trôi tới miệng nò thì vướng lại, quay ngang. Chú Tư không biết cái chi. Cá thì không phải cá. Chú thọc vợt xúc đại. Nhưng tay vợt của chú sao cứ trớt trợt, nằng nặng. Quỳ rạp xuống, lừa lọc mãi chú mới bợ lên mấp mé mặt nước một phần của vật ấy. Trời hơi sang sáng, chú trố mắt nhìn và buột miệng kêu "á" lên một tiếng. Trên miệng vợt, một mớ tóc rũ xõa, rập rềnh. Thì ra đó là một cái xác chết. Chú Tư trấn tĩnh lại, dùng vợt rà nâng cái xác cặp vào mé hàng rạo. Không nghe mùi thối. Chú nghĩ bụng:


 


“Phải vớt lên mới được! " Nhưng ở phía ngoài hàng rạo chú không thể vớt cái xác. Chú thu cây. vợt về, liệng xuống khoang, và cầm chèo hộc tốc bơi xuồng vào giữa nò. Sau một lúc loay hoay chú tìm lại được cái xác. Lúc nắm phải cặp chân mang đôi giày bố đã mềm sũng, chú Tư hiểu ngay rằng đó là một tên lính. Tay chú muốn buông cặp chân giày đó ra rồi. Chú nghĩ:


 


“Chà, công đâu vớt nó lên! Cứ để nó nằm đây làm mồi nhử cá... " Nhưng nghĩ thế, chú đã vội nghĩ lại:


 


“Cứ đem lên thử coi, biết đâu, chừng có súng ống hoặc lựu đạn". Chú Tư rán sức lôi cái xác lên xuồng.


 


Thì quả là một người lính thật. Với đôi giày bố đó, với bộ quân phục xám trĩu nặng trên người anh ta đó. Giữa buổi bình minh mới hé trời hãy còn đầy sương và bốc cuộn hơi thở biển, người lính nằm ngửa trên sạp xuồng, thẳng đơ. Chung quanh anh ta, những con cá chú Tư mới vợt ở nò lên vẫn giãy giụa. Chú Tư khoát nước rửa tay, rồi cúi xuống. Vẫn không nghe mùi hôi thối. Nhưng mặt người lính đen sạm, nứt toác. Đôi tay anh ta co co như giơ lên sắp đón ôm một vật gì vào lòng, còn các khuỷu ngón tay thì quắp lại. Chú Tư không dám nhìn lâu bộ mặt người lính vì nó gieo cho chú cái cảm tưởng hình như chú đã gặp bộ mặt đó ở đâu rồi. Cái bộ mặt trông vất vả và lương thiện, trước kia nếu không phải là dân lội ruộng thì cũng là dân hạ bạc nếu không phải là dân tát đìa mướn thời cũng chắc là dân bạn ghe, chống chèo dầm mưa dãi gió. Cặp mắt anh ta trông mới lạ chứ, nó cứ mở he hé, cho thấy đôi con ngươi đó như có rắc tro, như dại đi vì nỗi tức giận và hối tiếc khôn nguôi. Chú Tư không chịu nổi khi nhìn thấy đôi tay co co giữa không trung của người chết, nên chú khom cúi người cầm đôi bàn tay ấy đè xuống. Nhưng cánh tay vẫn không chịu buông xuôi, vẫn cứng nhắc giơ lên, như đợi ôm lấy cái gì. Nhưng đâu có cái gì. Giữa vòng tay chết đó chỉ có làn sương tan, hơi biển vờn lên như khói, và ánh bình minh mỗi lúc một trắng sáng. Một lần nữa chú Tư lại cố vịn bàn tay người lính đè xuống. Lần này, chú chợt chạm nhằm phải lớp chai cộm dày, nhám cứng nổi trong lòng bàn tay người lính. Chú vội rụt tay mình lại như bị phỏng lửa. Lát sau, chú mới rón rén cầm bàn tay người lính lê nhìn. "Trời... " chú buột miệng kêu khẽ. Lòng bàn tay người lính chai nhám hết. Trừ một lõm nhỏ ở giữa, tất cả đều nổi cộm đầy chai, hơi sần sần tróc trắng vì bị ngâm nước lâu. Chú Tư từ từ buông tay người lính ra. Bàn tay của chú bỗng rụng rời, yếu nhớt. Chú lẩm nhẩm trong bụng:


 


“Mình đoán không sai... Thằng này cầm cày ít nhứt cũng mươi năm... cái cục chai đó... " Mãi sau chú mới mò mẫm khắp người anh ta. Không có thứ khí giới nào cả. Chú lôi ra từ túi áo anh ta một cái "bóp" bằng da giả màu nâu, đã rách beng, để lòi một mớ giấy tờ và rơi rớt mấy đồng bạc in đầu Ngô Đình Diệm ướt xỉn. Trong hai cái túi đãy nơi đùi người lính cũng chẳng có gì, ngoài một miếng cơm dừa cứng cạy đã nhớt nhợt. Chú Tư ngồi lặng trước thây người lính. Chú thẫn thờ không cần thiết gì tới chuyện vợt cá trong nò nữa. Mặc dù trong đó còn có nhiều con cá lớn, chú cũng không để tâm tới ngọn sóng luôn nhồi lắc chiếc xuồng. Lòng chú giờ cứ nhói lên, như bị rất nhiều mũi kim châm chích. Mấy câu hỏi dồn dập đến với chú cùng một lúc:


 


“ở đâu mà trôi vô nò mình? Chết hồi nào, trận nào? Thiệt kỳ quá! Nhưng coi bộ chết chưa lâu, cao lắm là hai ngày... Đáng lẽ thì sình rồi, chắc là nhờ nước biển mặn... " Chú Tư lập vập nghĩ thế và tính tới tính lui không biết có nên chở cái xác về hay bỏ lại biển. Bỗng chú sực nhớ tới đám lính hiện ở trong xóm:


 


“Không, mình không nên bỏ cái xác xuống biển. Nên báo liền cho thím Hai Thép hay... sẵn có con Mỵ, để kêu nó đi... " Chú Tư bỏ không xúc cá trong nò nữa, vớ mái chèo, lái mũi xuồng hướng về phía nhà chòi, bơi riết. Vừa bơi chú vừa thầm kêu trong lòng:


 


“Bớ tụi lính bỏ ruộng bỏ đồng, đất đai của tụi bây ở nhà cũng đương bị bọn đầu trâu mặt ngựa lăm le lấy lại, sao không lo, còn theo tiếp bọn nó đi giựt đất bà con để chết cách thê thảm... Đồ lính ngu lính dại, tao phải đem cái thây này vô cho tụi bây ngó thấy mới được! "


4


Có tiếng gót chân giậm lên nắp hầm bộp bộp. Anh Tám Chấn nghe đúng là ba tiếng, liền nhoai người ra, chỏi tay khẽ ẩy miệng hầm. Chị Hai Thép ngồi bên trên cúi xuống, thì thào:


- Báo cáo anh vừa xảy ra một chuyện này...


- Chuyện chi?


- Cà Mỵ mới ở ngoài nhà nò chú Tư về cho tôi hay là có xác một tên lính trôi về nò, chú Tư mới vớt được.


- Lính gì? Chủ lực hay bảo an?


 


- Lính chủ lực, bận đồ tay - di, bị thương ở bụng. Tụi tôi nghi tên lính này bị máy bay chở đi đổ xuống biển! Nghe nói thế, anh Tám Chấn ngoi đầu lên khỏi miệng hầm, hỏi:


 


- Vẫn còn để cái xác đó ngoài nhà nò chú Tư à?


 


- Còn để ở ngoải. Anh Tám Chấn im lặng một lát rồi nói:


 


- Hôm kia trực thăng có tới chở lính bị thương đi, nay vớt được tên lính này ở nò thì đúng là trực thăng nó đổ rồi. Muốn biết chắc hơn, thím nên bố trí bà con hỏi nhóng tụi lính thử coi. Lựa lính chủ lực mà hỏi. Nếu binh sĩ họ xác nhận thì thím lập tức huy động bà con đem cái xác đó vô xóm, gây thành một sự xúc động và phẫn khích lớn trong binh sĩ, ra sức lôi kéo họ nhập cùng bà con đấu tranh vạch mặt Mỹ - Diệm, làm dữ với tụi chỉ huy hành quân, qua đó mà đánh sụp hẳn tinh thần chiến đấu của tất cả bọn quân lính hiện ở trên Hòn, đẩy chúng tới mức rệu rã không thể be đắp lại được... Chị Hai Thép nói:


 


- Chắc phải cho tụi lính tới nhìn mặt cái thây mới được!


 


- Thím liệu sao cho ổn đó thì làm. Phải sắp đặt cho êm, kẻo tụi nó giựt lại cái thây!


 


- Tôi sẽ sắp đặt thiệt êm. Báo anh biết, lúc tôi chạy về đây, dọc đường đã thấy tụi nó hùng hùng hổ hổ kéo đi lấp hang. Nghe đâu chính thằng thiếu tá cầm đầu làm vụ đó...


 


- Được rồi, thím cứ đi lo chuyện này. Không dễ gì lấp hang được đâu. Nếu phát triển đấu tranh kịp thời, thằng thiếu tá đó sẽ bị lôi lưng về cho coi! Trước khi đi, chị Hai Thép còn chạy lại bếp gọn gàng nhấc nồi cơm đem lại, đưa xuống cho anh Tám:


 


- Cơm sáng tôi nấu rồi đây, anh để dưới mà ăn. Trọn ngày nay chắc tôi búi lắm không về được.


 


- Thím ăn cơm chưa?


 


- Cơm nước gì nữa anh. Thôi tôi đi. Anh Tám ở nhà cũng chú ý coi chừng, hễ nghe ám hiệu trật, anh đừng mở hầm lên nghe!


 


Quả như lời chị Hai Thép vừa nói, từ sáng sớm thằng thiếu tá Sằng đích thân chỉ huy tấn công lấp hang. Thực ra hắn cũng chẳng xông vô. Hắn ngồi ở bên mé ngoài, chỉ huy bọn lính diễn tấn tuồng phóng qua phóng lại trước miệng hang để liệng lựu đạn. Rủi thay, hai thằng lính đầu tiên ngã vật xuống ngay vì súng trong hang bắn xổ ra. Và bốn trái lựu đạn MK3 trong tay chúng nổ tung, làm cho bốn thằng lính ấy ngã quay lơ. Tên thiếu tá ngồi cách đó mười thước bị mảnh lựu đạn văng chạt, cướp nguyên cái chỏm mũ ba rèm đang đội. Thành ra cái đầu trống lốc. Bọn lính nằm thụp sau những bao xi - măng, nhấp nhổm không dám chạy vọt ngang nữa. Tên thiếu tá Sằng đưa tay sờ sờ chỏm tóc. Hoàn hồn lại, hắn vung cây gậy giục bọn lính tiếp tục tấn công. Rồi hắn lại nằm xoài xuống cỏ. Lần này bọn lính liệng vô hang được năm sáu trái. Lựu đạn nổ như bưng đất lên. Khói bốc mù mịt. Lợi dụng sự áp đảo đó, chúng bắt đầu vọt ngang như thoi, liệng thêm lựu đạn tới tấp. Lần này tiếng súng trong hang im bặt. Chỉ độc có tiếng lựu đạn nổ, kéo dài tới bốn năm phút. Tên thiếu tá nhổm lên, quơ gậy la:


 


- Tấn vô mau! Bọn lính liều mạng nhào vô miệng hang đầy khói. Chẳng thấy chúng đâu nữa. Chỉ nghe hàng loạt tôm - xông của chúng quét lia lịa trong đó. Như lần trước, anh em đã rời ngõ hang ngoài để tránh lựu đạn nổ dồn dập. Sáu tên giặc tràn vào chiếm ngay được ngõ hang ấy. Chúng ở đó bắn xỉa vào, không lui mà cũng không tiến. Cả hai phía đều không cho phép chúng tiến thoái. Bên trong bắn ra đã đành, nhưng nay bên ngoài bọn ác ôn cũng chĩa súng thúc đít chúng. Theo lệnh tên thiếu tá, bọn lính ở ngoài xách thuổng đào móng và xốc xáo chuyển gạch đến để bịt kín miệng hang. Chúng xếp gạch vội vã. Trong tiếng súng nổ tằng tặc, tường gạch ba lớp mỗi lúc một chất cao. Bỗng bọn lính trong ngõ hang chạy nhào ra, xô bừa lớp tường mới chất đó. Tên thiếu tá vung gậy đập túi bụi vào bọn này. Hắn ra lệnh một mặt tung lựu đạn vào trong, một mặt xếp gạch lại.


 


Nghe lựu đạn vẫn còn nổ, anh em nín im trong các ngách. Cuối cùng miệng hang bị lấp kín. Bọn giặc trát xi măng lên. Song các kẽ hở hai bên rất khó trát. Thấy rơm hôm đốt hang còn vương vãi bên ngoài, chúng vơ guộn lại trám chặt các kẽ rồi trát xi - măng lên. Muốn chắc hơn, chúng còn hè hụi xếp thêm mấy lớp gạch nữa. Bỗng giữa lúc đó, tên Sanh, thiếu úy tâm lý chiến từ trong xóm chạy ra thở hổn hển báo cáo với tên thiếu tá:


 


- Thiếu tá ơi, lính nó làm loạn lên ở trong... Nguy lắm! Tên thiếu tá hỏi giật:


 


- Cái gì? Lính làm sao? Hả, hả?


 


- Thưa... thưa...


 


- Nói mẹ ra đi, thưa thưa cái gì!


 


- Thưa thiếu tá, không biết dân chúng họ vớt đâu ngoài biển một cái thây lính. Tên thiếu tá giật mình:


 


- Thây lính à?


 


- Dạ, lính... lính chủ lực... Họ... họ vác vô xóm, bêu từ đầu xóm tới cuối xóm. Lính ùa ra coi. Tụi ở đại đội ba nhận ra là thằng Sáu Hơn. Tụi nó nói chiều hôm kia thằng Hơn bị thương được trực thăng chở đi cớ sao bữa nay lại chết giạt ngoài biển. Tụi nó la rùm lên, bảo là số bị thương hôm kia vậy là bị trực thăng chở đi liệng xuống biển hết rồi... Tên thiếu tá tái mặt:


 


- Anh ngó thấy cái xác không? Có đúng là thằng Hơn nào đó ở đại đội ba không?


 


- Có ngó thấy, đúng... đúng là thằng Hơn ở đại đội ba... kỳ quá!... Tên thiếu tá lấm lét liếc nhìn chỗ khác:


 


- Rồi sao nữa?


 


- Dạ tụi lính các đại đội khác thảy đều la ó chửi rủa... Tụi nó chửi ba thằng Mỹ đem anh em liệng biển, nếu không liệng biển sao thằng Sáu Hơn trôi giạt vô nò...


 


- Trôi vô nò à?


 


- Dạ trôi vô nò. Thằng cha coi nò vớt được... à quên thiếu tá đã hay tin bốn thằng bảo an bỏ trốn đêm qua chưa?


 


- Chưa, lại có vụ đó nữa sao?


 


- Dạ, bốn thằng trốn mất, không biết đi đâu!


 


- Đ. mẹ, chó đẻ quá!


 


- Thưa thiếu tá, về vụ cái thây lính Hơn, tụi lính nó làm dữ lắm. Có thằng châm lửa đốt tăng. Một số vụt súng xuống suối nhập với dân chúng đi biểu tình... Tên thiếu tá nghiêng bộ mặt đầy mụn, lắng nghe và nói:


 


- Đó... Tụi nó đương la ì ì đó, thiếu tá không nghe sao? Thiếu tá Sằng không đáp, hắn xây lại bảo tên trung úy công binh:


 


- ạng Tự, ông ở đây đốc thúc lấp thêm gạch cho chắc nghe! Đoạn xây qua tên thiếu úy, hắn quơ gậy:


 


- Đi, tôi với anh về trỏng coi sao? Tên thiếu úy quày quả đi trước. Thiếu tá Sằng bước theo sau, lo lắng hỏi:


 


- Thằng cha giữ nò vác cái xác đó vô xóm hả?


 


- Nhiều người vác chớ không riêng gì thằng chả...


 


- Lúc đó anh ở đâu mà không ngăn tụi nó lại, hả?


 


- Thưa thiếu tá, tụi nó đem vô hồi nào tôi đâu có biết. Chừng biết thì vỡ lở ra hết rồi!


 


- Đ. mẹ, chuyện này nhứt định có bàn tay Việt cộng xúi giục!


 


- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng thưa thiếu tá là ngặt có cái thây đó thiệt, chớ nếu không thì Việt cộng làm sao xúi giục được!


 


- Thây thể, mặt mũi còn nguyên không?


 


- Cũng bị tróc da chút đỉnh, nhưng ngó vô thì biết là thằng Hơn liền. Mới bắt đầu sình thôi. Gặp nước mặn nên lâu sình.


 


Thiếu tá Sằng lặng thinh. Chốc sau, hắn hươi gậy vụt cỏ sậy ngã rạp, vặc tục:


 


- Đ. mẹ, đánh giặc kiểu này thì Ngô tổng thống đánh cũng thua nữa chớ đừng nói gì tôi... Đánh phía trước động rần rần ở phía sau thì thắng mẹ gì được. Hồi mới xuống tôi đã nói là phải giữ kỹ đừng cho dân chúng họ dậy lên, rốt cuộc cũng giữ không nổi...


(còn tiếp)


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »