Tiếng Tráng vẫn thoang thoảng:
- Con Sứ năm nay học lớp 8. Nó học buổi sáng, chiều ra chợ giúp mẹ bán hàng. Nhưng từ sang năm, nó sẽ thôi đi chợ, dành mọi thời gian cho học tập. Bọn mình muốn cho nó học đến nơi đến chốn, bù lại cho cha mẹ học hành dở dang.
Vợ Tráng hết nhìn Hoàng lại nhìn chồng, cười rạng rỡ :
- Nhà em vẫn bảo, ngày trẻ hai người lúc nào cũng sống chết có nhau. Thỉnh thoảng nhà em còn nói về hình dáng của anh nữa. Mình ơi, hai người đã gặp lại nhau, mình toại nguyện rồi nhé.
Hoàng ở lại với Tráng mấy hôm. Vợ chồng Tráng có cả một căn nhà, không lớn nhưng xinh xắn và sáng sủa, đẹp như một biệt thự. Một giàn hoa giấy tím biếc giăng giăng ngoài cổng. Những chậu cây kiểng đặt dưới hiên và đây đó, trong các góc, lung liêng những giò phong lan khiến ngôi nhà như ngập trong hoa lá.
Buổi tối, sau bữa cơm, vợ Tráng kê một chiếc bàn dưới hiên. Sứ mở nhạc, rất khẽ. Đêm vắng lặng, nghe phảng phất những ca khúc đang thì thầm. Cả nhà ngồi trò chuyện bên rổ trái cây và những li trà đá.
Sau ngày ra khỏi ngành, Tráng không dám về quê.
Sống ven Hà Nội, nhưng chui nhủi như con cuốc, ban ngày trải một manh chiếu rách trên hè đường, bày chiếc bơm và mấy thứ đồ nghề chữa xe đạp, ban đêm về ngủ nhờ dưới bãi sông. Dịp sửa sai, Tráng mới dám về đón mẹ ra ở cùng.
- Cảm ơn Hànội, Tráng nói, nơi vẫn còn một vài"khoảng tối" lấy chỗ trốn tránh cho kẻ bị săn lùng. Và cảm ơn cái nghề chữa xe đạp. Một nghề kiếm đủ ăn ai ai cũng làm được, không cần vốn liếng, chẳng cần kĩ thuật, nhưng nó đã cứu được bao nhiêu người trong bước đường cùng. Không có nó, không biết rồi mình sẽ ra sao. Cả một thời chỉ ước mong người ta để mặc cho mình sống cuộc đời lương thiện bình thường.
Tráng kể lại, trước kia dù không có sổ gạo, nghề chữa xe đạp cũng giúp Tráng đủ sống để đợi thời. Từ ngày thêm mẹ, thiếu gạo, mấy năm liền, hai mẹ con thường xuyên ăn cháo. Ăn cháo thì đỡ gạo nhưng lại tốn củi. May quá, mẹ Tráng khuây khỏa nên khỏe lại dần, ngày ngày vào các đường phố quét lá rụng...
- Ngày về phép lần đầu, Hoàng nói, mình đã tìm về quê Tráng. Chủ tịch xã bảo Tráng đã đón bác lên Hà Nội. Mình đoán là Tráng ở một làng nào đó ngoài bãi sông, nhưng đã mấy lần đi tìm khắp các bãi mà không thấy.
- Năm nào?
- 1956, 1957.
- Chính những năm ấy mình trốn dưới bãi Phúc Xá. Bị gạt ra ngoài xã hội, sống ngoài vòng pháp luật. Không tên, không tuổi, không giao thiệp, không bạn bè, không biết ai ngoài người đang cưu mang mình. Sớm đi làm từ mờ đất, nay để manh chiếu và hộp đồ nghề chỗ này, mai chuyển tới chỗ kia, tối mịt khi đường phố lên đèn mới trở về để giữ kín tung tích. Như thế, làm sao cậu tìm được dấu vết.
Được mấy năm, mẹ Tráng qua đời. Tráng chôn mẹ ngoài bãi. Đến ngày "thay áo", theo nguyện vọng của mẹ, Tráng đưa mẹ về quê.
Năm ấy thời thế đã đổi khác. Người ta trả cho Tráng một phần nhà cửa, vườn tược đã tịch thu và mời Tráng ở lại. Tráng không ở, bán nhà, bán vườn rồi trở về Hà Nội, vẫn sống trốn tránh bằng nghề chữa xe đạp nhưng đã có một số tiền phòng thân dắt trong lưng.
- Mình muốn tâm hồn thanh thản, không muốn hàng ngày giáp mặt những người đã được khuyến khích làm tan vỡ nhiều gia đình trước đây từng thân thiết với họ. Rồi mình gặp được Vân. Cũng là dân chạy cải cách lên Hà Nội, sống lậu bằng gánh bún riêu ngoài đất bãi. Mới đầu mình chỉ là một người trong đám đông khách hàng nghèo khổ của Vân. Rồi sau, cùng cảnh ngộ, thương nhau, mình mua một túp lều, mời Vân về sống cùng. Ngày ấy, Vân đã an ủi, nâng đỡ mình biết bao nhiêu...
Tráng lặng im, rất lâu mới nói tiếp:
- Mấy năm sau, bọn mình sinh con Sứ và chạy tiền được cái hộ khẩu thành dân Hà Nội. Rồi chán cảnh sống bấp bênh ngoài bãi, muốn biệt tăm biệt tích làm lại hẳn cuộc đời, bọn mình bán lều, chạy tiền một cái giấy vô Nam thăm bà con. Vào đến Sài Gòn, lại chui nhủi trốn tránh, lại hòm đồ nghề chữa xe dạp và gánh bún riêu.
- Phải cảm ơn cả Sài Gòn nữa anh ạ, Vân nói. Thật là một vùng đất ấm áp, bao dung. Và cảm ơn gánh bún riêu. Cũng là một nghề ít vốn, chẳng cần kĩ thuật cao siêu gì, người đàn bà nào cũng biết làm. Nếu nghề chữa xe đạp cứu được nhiều người đàn ông thì gánh bún riêu, bún ốc cũng đã cứu được nhiều người đàn bà trong bước khó khăn. Ngày ấy ở Sài Gòn chưa có ai bán bún riêu cua, gánh hàng của em sáng nào cũng đông nghẹt.
- Nhờ thế bọn mình lại dành dụm được chút ít, đủ tiền chạy được cái hộ khẩu để thành dân Sài Gòn. Rời Hà Nội vào được đến đây đã có một cuộc sống riêng dễ chịu, ít bị nhòm ngó, chẳng khác ngày nào rời khỏi chỗ nhà quê ra được Hà Nội. Còn cậu thì sao? Có được về đi học như khi xưa cậu từng mong ước?
- Mình thì chẳng có gì đáng nói. Số "đèn cù", chạy vòng quanh. Hòa bình lập lại, xin riết mới được về đi học, học gần xong thì lại bị động viên, gần hai mươi năm sau mới thực sự chấm dứt đời lính. Nhưng thôi, mọi chuyện cho qua. Quá khứ đã xa rồi, từ lâu đời đã sang trang mới.
- Có hay gặp bạn bè cũ không? Còn đủ mặt không? Chúng nó có khá không?
- Nhiều cậu đã hi sinh. Số còn lại hầu hết làm việc ở Hà Nội nên thỉnh thoảng cũng gặp nhau. Bọn còn ở trong nghành phần lớn là thượng tá và đại tá. Bọn ra khỏi ngành cũng tàm tạm.
- Phục các cậu ấy quá. Trường hợp Trần mới kì lạ chứ! Còn nhớ Trần không, Trần mà lớp các cậu gọi là "Trần toán" ấy mà. Ngày ấy, Trần và mình là hai đứa bị loại khỏi ngành, chênh vênh trên bờ vực thẳm, hụt chân một bước là rồi đời...
- Không gặp Trần lần nào, cậu ấy làm việc trong thành, có lính gác nghiêm ngặt. Nhưng biết mang máng: cậu ấy là giáo viên toán trường Văn hóa, nổi tiếng dạy giỏi, sau được đặc cách chuyển về làm việc ở cục Kỹ thuật.
- Mình gặp "Trần toán" dạo vừa rồi. Biết thủ trưởng cũng như mình là lính thông tin cũ, một sĩ quan tùy tùng người bà con mau miệng nói: cậu ấy mới lên thay cục trưởng vừa về nghỉ hưu. Trông vẫn hiền lành, vậy mà đã là một "ông cốp" đích thực: giầy da lốp cốp, quân hàm Thiếu tướng lấp lánh trên cổ áo, xung quanh là một lô các sĩ quan cấp úy và cấp tá quân hàm vàng chóe, xách cặp tháp tùng.
- Thế thì khá quá!
- Đến bây giờ mình vẫn chưa hết ngạc nhiên. Làm sao mà lại thế được nhỉ? Mấy ông Tổ chức trong quân đội là cực kì khe khắt, chặt chẽ hơn nhiều so với các ông Tổ chức ngoài dân sự. Vậy mà một anh suýt bị loại ngũ qua mặt họ, đàng hoàng bước lên cấp tướng. Đúng là phép lạ. Phục quá!
Như chưa hết bàng hoàng trước điều kì diệu đó, Tráng lại hỏi:
- Cậu thấy thế nào, có lạ không? Không phải là thành phần cơ bản thì từ đại úy vượt lên thiếu tá đã khó, nghe nói có người phải chờ đến mười năm. Vượt từ đại tá lên cấp tướng còn khó gấp bội, trăm người ngấp nghé chỉ được một, vậy mà Trần đã đạt tới. Điề̀u đó không phải ai cũng làm được.
- Vì người ta không tìm được ai khác hơn. Cương vị ấy là chỗ của một nhà kĩ thuật tài năng, dù rất muốn, cũng không thể đặt vào đó mấy bác chính uỷ chỉ biết chính trị xuông. Trần thực sự có tài, kiên nhẫn quả cảm, tính tình lại đôn hậu, cởi mở, được nhiều người cảm phục, ít kẻ ganh ghét. Đó là những yếu tố khiến cậu ấy thành công. Vả lại thời thế đã thay đổi, hơn ba mươi năm trôi qua rồi, còn gì!
Tráng trở nên trầm ngâm:
- Ừ nhỉ. Nhiều lúc mải làm ăn, quên mất cả thời gian. Phấn đấu bền bỉ đến thế là cùng. Hơn ba mươi năm. Một phần ba thế kỉ. Nửa đời người. Thế mà cứ tưởng như vừa mới ngày nào...
Hoàng rất khâm phục Trần. Tù một anh điện báo viên vô danh, suýt bị loại ngũ, leo lên đến cấp tướng là một thành đạt rực rỡ. Hoàng cũng khâm phục Tráng không kém. Biến đổi một hoàn cảnh khó khăn đến tuyệt vọng thành cuộc đời đáng sống cũng là một thành đạt lớn lao.
Nếu trong bạn bè của Hoàng có ai đáng để noi gương thi chính là Tráng và Trần. Bị đẩy vào bước đường cùng, họ chịu đựng, không van xin, kiên nhẫn mà không quỵ lụy, đường hoàng bưóc tới chỗ đứng xứng đáng mà cuộc đời dành cho họ. Họ mới thực sự là người tin yêu cuộc sống, lòng tin của họ không sức mạnh nào bẻ gẫy được.
Có lẽ còn một nguyên nhân nữa: dù bị đầy ải, tâm hồn họ vẫn thảnh thơi, không gợn một vết hận thù. Hận thù làm tối tăm trong khi sự trong sáng của tâm hồn làm bền vững thêm niềm tin yêu cuộc sống và thúc đẩy họ thêm cố gắng. Hai điều đó đã dẫn họ vượt đến những thành đạt khó khăn, ngoài tầm với của người thường.
Hoàng tiếc cho Nguyễn. Cuộc sống quý hơn hết thảy vì ta chỉ sống một lần. Hủy hoại nó thì dễ, chỉ cần vài phút nông nổi bồng bột, giữ gìn và cải biến nó qua những thử thách mới khó.
Bi kịch xảy ra vì Nguyễn đã quá ràng buộc đời mình vào những biến thiên chính trị. Cuộc đời chúng ta ngắn ngủi, đếm bằng năm tháng. Các chế độ chính trị đếm bằng một đơn vị thời gian dài hơn, có lẽ những thập niên. Nhưng chính trị cũng không thoát được quy luật đào thải: các nền chính trị lắt léo, phi lí, thiếu nhân bản sẽ già nua đi và tàn lụi để được thay thế bằng những nền chính trị trẻ trung, hợp lí và hợp nhân bản hơn.
Nguyễn đã quá bi quan và vội vã, không biết rằng: kiên nhẫn chờ đợi, tránh những phản ứng bồng bột không đúng lúc là cách ứng sử duy nhất của những người yếu kém trong thất thế.
Cuộc đời vốn công bằng, nếu ngày ấy Nguyễn can đảm chấp nhận những bất hạnh tạm thời, chờ đợi thời cơ để làm lại, biết đâu Nguyễn chẳng đạt tới những thành công như Trần và Tráng hôm nay.
*
Mỗi người mỗi số phận, số phận của Nàng(17) Tàn có khá hơn. Có lẽ do số phận của dân tộc Nàng may mắn hơn. Ở đất nước của Nàng, một đất nước đã ngàn năm thấm nhuần quan niệm từ bi của đạo Phật, cuộc cách mệnh dù bị chi phối rất nhiều bởi cách mệnh Việt Nam, vẫn ít tính chất giai cấp, do đó ít khốc liệt: người ít căm thù người, ít đầy đọa giết chóc người hơn ở các nước láng giềng.
Sau gần bốn mươi năm xa cách, tháng hai năm 1989 Hoàng có dịp trở lại đất Lào. Hoàng tham gia một đoàn Văn hóa đi thăm Viên Chăn, do một quan chức cao cấp của Bộ Văn hóa Việt Nam dẫn đầu.
Thủ đô Lào ngày ấy chan hòa ánh nắng và rợp bóng cây xanh. Những nếp nhà xinh xắn nằm thấp thoáng dưới vòm lá, trải dài theo những đường phố yên tĩnh. Xe đạp trôi thong dong trên đường.
Nhìn các cô gái đạp xe là hình dung được nếp sống ở nơi đây. Họ mặc áo và váy rực rỡ màu sắc, đạp êm ả, vừa đạp vừa trò truyện ríu ran. Nhiều người lái xe bằng một tay, còn tay kia cầm cây dù hoa che nắng.
Đất nước này vẫn thế, nghèo nàn nhưng không khổ hạnh, là nơi rộng mở, dễ chịu hơn cả trong vùng. Thời gian như đang trôi chậm lại. Khác với các đất nước dữ dằn, muốn mau chóng đạt tới văn minh, tiến bộ bằng sự cuồng tín, lòng thù hận và bạo lực, con người nơi đây vẫn còn gắn bó với nếp sống cổ sơ. Không ai lam lũ. Không ai tất bật, vội vã. Không ai tranh cướp, giành giật của ai. Mọi người sống thong thả, hòa hợp với thiên nhiên, độ lượng với nhau, bỏ qua những va chạm, không hận thù, không ganh ghét. Ai cũng làm lụng vừa phải, còn để thời gian và sinh lực tận hưởng cuộc đời.
Tất cả làm Hoàng da diết nhớ lại những ngày xưa...
Ngày đến Viên Chăn là ngày sinh của Hoàng. Để chúc mừng Hoàng, trong bữa ăn tối người đoàn trưởng đã gọi một chai vang Pháp. Họ ngồi với nhau bên chai rượu đến khuya, cạnh cửa sổ phòng ăn khách sạn, nơi ánh trăng soi tỏ và từng cơn gió nhẹ, vẫn như ngày nào năm xưa, đưa vào những rạo rực huyền ảo của một đêm Lào: mùi hoa đại và mùi lan rừng, tiếng rì rào thoang thoảng của con sông Mêkông mùa cạn, tiếng gọi xa xăm của chiếc kèn lá bay lên từ những ruộng ngô ven sông...
Vốn rất có học và bản tính chân thành cởi mở, người đoàn trưởng ngay khi còn ở Bộ vẫn thường kín đáo bỏ qua cho các nhân viên những quy chế ngặt nghèo. Ông không coi Hoàng là cấp dưới mà đối xử với Hoàng thân tình như bè bạn.
Ông đã hỏi chuyện Hoàng về mối tình và những vui buồn ngày trẻ. Ông ngạc nhiên khi thấy một người ở tuổi của Hoàng, đã từng bị nhào đi nặn lại trong cái trại lính khổng lồ là đất nước Trung Hoa thời đó, như người ta nhào xỉ than với xi măng để đóng một thứ gạch kết dính, con người tưởng đã bị cải tạo đến tận chân tơ kẽ tóc ấy vẫn không hề thay đổi. Anh ta sống phóng khoáng, không giấu bản chất của mình và bao giờ cũng đặt tình yêu lên trên sự nghiệp, coi sự nghiệp và công danh kèm theo nó chỉ như một thoáng phù du bèo bọt.
- Ai mà chẳng có một thời gian khổ, thiệt thòi, người đoàn trường an ủi. Gạt bỏ những điều ấy sang một bên thì có thể coi như chúng ta là những người may mắn.
Hoàng khe khẽ gật đầu. Hoàng không ân hận, không nuối tiếc tuổi trẻ và những việc đã làm. Dù sao thì cũng như người đoàn trưởng, Hoàng may mắn hơn biết bao thân phận Việt Nam, đã sống sót qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt và được toàn vẹn trong cái thời của cuộc "biến thiên vĩ đại", ở đó chân lí lẫn lộn với lường gạt, xây dựng lẫn lộn với phá phách, bao dung lẫn lộn với nghiệt ngã...
Sau bữa ấy, người đoàn trưởng đã giúp Hoàng tìm tin tức Nàng Tàn. Ông nói chuyện lại với người cán bộ lễ tân của Bộ Văn hóa Lào, người này đã đi hỏi giúp.
Lời hẹn trở lại tìm Nàng từ ngày còn ở bản Na Nhôm, phải gần cuối đời Hoàng mới có cơ hội thực hiện. Từng ấy năm xa cách, chắc ngày nay Nàng đã có một gia đình yên ấm. Những cô gái Lào thường lập gia đình sớm, có thể Nàng đã là bà nội, bà ngoại từ lâu rồi.
Không bao lâu sau ngày Hoàng rời bản Na Nhôm, một đoàn cán bộ vận động phụ nữ qua làng, Nàng Tàn xin đi theo. Từ một cô bé hoang sơ, Nàng dần dần trở thành một cô cán bộ, xuôi ngược gần khắp miền Trung và Hạ Lào.
Ngày hòa bình được lập lại trên ba nước Việt Lào Cămpuchia, Nàng Tàn đi tập kết tại hai tỉnh Xiêng Khoảng và Sầm Nưa trên Lào Bắc. Nàng được đi học văn hóa, ngoại ngữ rồi được cử đi học một nghành công nghiệp nhẹ nhiều năm ở nước ngoài. Nay thì Nàng quản lí một xí nghiệp lớn ở thủ đô Viên Chăn.
Người cán bộ lễ tân của Bộ Văn hóa Lào, sau mấy ngày tìm kiếm, đã cho Hoàng biết những tin tức trên. Nhưng chừng như số phận nghiệt ngã vẫn xếp đặt không cho Hoàng được gặp lại Nàng. Ngày Hoàng tới Viên Chăn thì vài hôm trước đó Nàng Tàn đã được mời đi Nhật Bản để kí kết một hợp đồng sản xuất.
Còn số phận của Hoàng?
Sau ngày tập kết về Việt Nam, ba trung đoàn Quân tình nguyện tại các vùng Thượng, Trung và Hạ Lào rút lên Tây Bắc, thành lập một sư đoàn. Người ta điều điện đài của Hoàng về phục vụ tiểu đoàn biên phòng tỉnh Quảng Bình. Lại những đỉnh đèo mây phủ triền miên, những thác nước ào ào, những cánh rừng gai góc mịt mùng, đêm đêm vang dội tiếng hổ gầm, voi rống. Lại tiếp tục cuộc sống "hữu thân hữu khổ" với những năm tháng "miệng ăn măng trúc măng mai" , trấn thủ các đồn trại chênh vênh trên đỉnh Trường Sơn, những nơi chỉ mới nghe tên cũng đã thấy bao nhiêu là lạnh lùng heo hút: Xóm Cục, Cha Lo, Mụ Giạ... Lại chỉ thấy quanh mình những sắc tộc ít người ngơ ngác và nghèo khó: Mày, Rục, Sách, A Rem, Vân Kiều, Tôi Ôi, Mã Liềng, Ma Coong...
Chưa bao giờ định lấy quân sự làm phương tiện để gây dựng cho mình một sự nghiệp trong chiến tranh, Hoàng xin giải ngũ sau ngày hòa bình được lập lại.
Nhưng cuộc đời có mấy khi chuyển vần theo sự sắp đặt của con người! Sau năm bảy lần nhờ cậy, chẳng những Hoàng mà cả cha mẹ Hoàng cũng chạy vạy nơi này nơi khác, Hoàng mới xin được về đi học, nhưng khóa học ở trường Bách Khoa chưa kịp kết thúc thì cuộc chiến tranh chống Mỹ đã bùng nổ. Người ta lại điều Hoàng vào phục vụ một đơn vị Thông tin, mấy năm sau Hoàng mới có dịp trở về trường hoàn thành đồ án. Thế là đâu vẫn hoàn đó: ra khỏi ngành rồi lại trở về ngành.
Cuối cùng sau hai lần tại ngũ kéo dài gần ba mươi năm, Hoàng được nhận quân hàm đại úy, coi đó là một vinh thăng đặc biệt để tưởng lệ công trạng cho người lính phục vụ lâu năm trước khi rời quân đội. Hoàng được chuyển ra ngoài dân sự, về một nhà xuất bản trong ngành Văn hóa. Rồi sau vài lần thuyên chuyển tiếp theo, cũng trong các nhà xuất bản, lần này có lẽ do vận may run rủi, người ta điều Hoàng về Bộ.
Trước lúc Hoàng đi, ông giám đốc nhà xuất bản đưa cho Hoàng cuốn lí lịch.
- Vẫn lại theo cái cách của nhưng năm tháng cũ kỹ ấy hả anh? Lại tự tôi thồ cuốn lí lịch của tôi trên lưng, mang trao cho ban Tổ chức của Bộ?
- Cách thức như cũ nhưng nội dung thì không, ông giám đốc trả lời với một nụ cười cởi mở. Anh coi: đâu còn dấu xi niêm phong. Từ ngày bản lí lịch của anh được chuyển về đây, theo cách làm việc công khai đã thành nếp trong nhà mình, chúng tôi đã bẻ dấu xi và không gắn lại. Anh có thể đọc ở ngay đây hay mang về đọc ở nhà. Tùy anh.
- Cám ơn anh! Anh là người đầu tiên đã minh bạch và công khai bản lí lịch, điều mà cán bộ cấp dưới chúng tôi vẫn mong ước.
Nhưng cầm bản lí lịch trong tay, bỗng nhiên Hoàng thấy lòng hờ hững.
- Kìa, sao anh không đọc, ông giám đốc ngạc nhiên hỏi.
Những năm trước, thường xuyên bị số phận của ông Mã, ông Trương và cô Châu ám ảnh, Hoàng không muốn chỉ nghe lời nói vì các nhà tuyên truyền và các nhà tổ chức luôn luôn nói những lời nhân nghĩa. Không ít lần Hoàng đã định liều phá vỡ dấu xi niêm phong để xem vì đâu những lạnh nhạt, những bất công cứ bám riết thân phận khiến Hoàng không ngóc đầu lên được. Thậm chí có lần thuyên chuyển bị phục kích trên đường, Hoàng đã tháo cái balô đeo trên vai trong đó cất kĩ cuốn lí lịch, định liệng xuống sông cho nhẹ nợ, rồi về đơn vị mới sẽ liệu cách ứng đối.
Lần nào một nỗi sợ vô hình nhưng ghê gớm cũng giữ tay Hoàng lại. Mình đã vậy nhưng rồi cha mẹ, anh chị em mình sẽ ra sao? Có thể nào chỉ vì một phút bồng bột mà đẩy những người thân yêu rơi vào hoàn cảnh hệt như mình, làm tiêu tan kết quả hàng chục năm hi sinh phấn đấu của cả gia đình.
Thế là đeo cái ba lô lên vai, Hoàng lại cung cúc tự mình thồ cái "bản mệnh" của mình tới đơn vị mới, dấu xi niêm phong mong manh vẫn nằm yên đó, không xê dịch một li, vững chắc như vách đá thành đồng.
Hoàng trả lời ông giám đốc:
- Mười năm trước tôi khao khát muốn đọc, có lúc đã định liều phá vỡ cả dấu xi niêm phong để dọc. Ngày ấy còn trẻ, tôi còn hăm hở muốn biết trong đó thật sự ghi chép những gì để kịp thời liệu cách ứng xử. Nhưng nay thì không, tôi không muốn lùi lại quá khứ. Mọi chuyện qua đã lâu rồị!
- Đừng bi quan. Anh vẫn còn một đoạn đường dài trước mặt. Ở tuổi nào kinh nghiệm cũng có ích. Đọc đi. Đọc để rút thêm những bài học và để biết rõ một thời đã qua.
Hoàng miễn cưỡng lật giở vài trang. Phần đầu là bản tự truyện viết trong bão tố của cuộc phản tỉnh. Những trang giấy đã cũ, rách mép vàng bợt, nét chữ nhạt nhòa, nhưng mỗi trang vẫn thấp thoáng hình ảnh của một thời xa vắng. Một thời trẻ trung đầy sức sống nhưng khắc khoải, nặng nề.
Ngày ấy, người ta cố trưng lên những hình ảnh ghê tởm về nguồn gốc và quá khứ của Hoàng, muốn Hoàng phỉ nhổ vào đó. Họ ném Hoàng và bạn bè cùng trang lứa như ném trứng vào lò ấp, nung cho thoát xác để nở ra thành một loài vịt mới. Một loài vịt dễ bảo và dễ chăn, chỉ cần vài bác nông dân, quần xắn móng lợn, tay cầm chiếc que đầu buộc phơ phất một túm lá chuối khô là đủ để xua đi hàng đàn, hàng lũ.
Nhưng chưa khi nào Hoàng hổ thẹn với nguồn gốc và quá khứ của mình. Trong phương châm xử thế của gia đình Hoàng, không bao giờ có hai mục: lường gạt và thù hận. Trước đã thế, sau này sẽ vẫn thế. Đến bây giờ, Hoàng vẫn là Hoàng. Hoàng lại bền bỉ làm lụng, đóng góp vào truyền thống lương thiện và khiêm tốn của gia đình mà các đời trước đã dày công xây dựng.
Rồi đến những nhận xét đầu tiên về đời lính của Hoàng, với những nét chữ nguyệch ngoạc. Nhận xét ghi bằng một thứ ngôn ngữ ngây ngô, nửa ta nửa Tàu: "Nặng căn tư tưởng giai cấp bóc lột. Chưa thành khẩn học tập công nông. Chưa thành thực phản tỉnh cải tạo. Cần theo dõi sít sao khi trao nhiệm vụ."
Khi mắt lướt tới hai chữ "sít sao", Hoàng bỗng rùng mình như vừa nghe thấy những tiếng rin rít của một khung cửa nặng nề đang khép lại.
Hoàng gấp cuốn lí lịch, không đọc tiếp, cẩn thận bỏ vào phong bì và trao trả ông giám đốc.
- Dù sao thì bây giờ tôi cũng biết rõ cái gì đã theo đuổi tôi ròng rã bấy nhiêu năm. Cám ơn anh. Xin anh cho liên lạc chuyển về Bộ, tôi không cầm.
- Tôi sẽ để liên lạc đem đi.
- Có lẽ anh không biết, những người lính bọn tôi đào tạo ở Trung Quốc về, gọi nó là "bản mệnh". Nó ám ảnh ta ngày đêm, ám ảnh một cách tuyệt đối, hơn cả lá số tử vi mà nhiều cha mẹ lấy cho con từ thuở nhỏ, coi như một hành trang theo ta suốt đời để đoán trước mọi may rủi, thăng trầm.
Các ngôi sao Thái Dương, Thái Âm, La Hầu, Quả Tú... xa cách ta có lẽ hàng năm ánh sáng, chẳng hề yêu ghét vì chẳng biết gì về ta, nhưng người nắm "bản mệnh" thì luôn ở gần kề. Chẳng những họ biết ngày sinh tháng đẻ mà còn biết rõ ta là ai, sinh ra từ đâu. Yêu ghét của họ rất rõ ràng: họ không ưa những người khác biệt. Khi khác biệt vượt quá một giới hạn nào đó, sự ghét bỏ có thể biến thành lòng thù hận. Nếu những vì sao tinh khôi hoặc dữ dằn kia ban phúc hay giáng họa cho ta một cách vu vơ thì những người nắm "bản mệnh" cản trở đời ta một cách hoàn toàn có ý thức.
Nhưng mọi cái đó, giờ đây không có ý nghĩa gì nữa. "Bản mệnh" tốt hay xấu đối với Hoàng đều không còn quan trọng. Dù tiếc nuối cũng không ai làm lại được quá khứ. Còn tương lai thì không bao lâu nữa Hoàng sẽ rời khỏi bộ máy này.
Bộ máy có thể nâng một kẻ nào đó lên cao chót vót trong khi nó nghiền nát không thương tiếc trăm ngàn kẻ khác giữa những bánh răng vô tình của nó.
Hoàng mong muốn sớm thoát khỏi nó để được trở về thân phận của chính mình: thân phận của một người không bị trói buộc, thân phận một thường dân.
_____
|
Ghi chú
(7) Thiếu tướng, Trung tướng
(8) Đại tướng, Nguyên soái
(9) Em Châu, cách gọi khi đã rất thân tình
(10) Truyện tình báo của Roman Kim, một tác giả người Nga gốc Triều Tiên, dịch sang tiếng Pháp mang tiêu đề: "Le cahier trouvé à Sunchen
(11) Cô gái tóc trắng: một cô gái đep, nhà nghèo ở đợ cho địa chủ, bị hành hạ phải trốn vào rừng, ăn ở như người rừng, sống nhờ đồ cúng bái lấy trộm trong ngôi miếu cổ, tóc đen một đêm hóa trắng, sau được Quân giải phóng Trung Quốc cứu thoát.
(12) Lời Staline
(13) Điều lệnh của Quân giải phóng Trung Quốc
(14) 1 tháng 8, ngày thành lập Giải phóng quân Trung Quốc
(15) Hoa đại, hoa sứ
(16) Đại tướng Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc thời kháng chiến chống Pháp. Năm 1979, như Tôn Sĩ Nghị gần 200 năm trước, viên tướng họ Vi đã chỉ huy quân Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) sang đánh Việt Nam để " Dạy cho Việt Nam một bài học"
(17) Người đàn bà Lào khi còn trẻ gọi là Sao, khi đã đứng tuổi gọi là Nàng
|
Nguồn: Trang lứa. Truyện vừa của Vũ Hùng. Viết & in tại Pháp sau năm 1991. |