Bây giờ đến lượt cậu ôm tôi, đầu cậu cháu tôi đụng vào nhau, viên ngọc kim hương trước ngực cậu chạm vào cúc áo tôi kêu thành tiếng. Cậu hỏi:
- Viên của anh đâu rồi?
Tôi đáp tôi đã đeo vào cổ con Thúy Hoa, cậu ngẩn người, hình như đang lẩm bẩm một câu gì đó, liền tặng ngọc kim hương cuả cậu cho tôi. Tôi không nhận cậu cứ dúi vào tay, nhưng nào ngờ khi cậu đưa cho tôi, tôi chưa cầm chặt, cậu đã buông tay ra, ngọc kim hương rơi xuống trúng hòn đá dưới chân bị vỡ. Sắc mặt tôi bỗng dưng tái đi, nhưng cậu ngẩng đầu nói:
- Vở rồi, vở rồi! Đây là ý trời, ngọc kim hương nhất định vở thành hai mảnh, cậu cháu mình mỗi người cầm một mảnh.
Tôi cúi đầu nhìn xuống đất qủa nhiên ngọc kim hương vở làm đôi, hơn nữa không mảnh nào to hơn mảnh nào. Chúng tôi hoàn toàn không nói một lời không tốt lành, cả hai cùng bảo viên ngọc kim hương này có linh tính, mỗi người bỏ một mảnh vào túi áo. Cậu lại mở gói nhỏ đem theo, tặng tôi tấm da sói:
- Cậu không có thứ gì tốt hơn tặng anh, nhìn da sói anh sẽ nhớ anh có một người cậu, nghĩ cũng được, chửi cũng xong, dù sao thì anh cũng có người cậu này.
Chúng tôi đã chia tay nhau như vậy. Tôi xiêu xiêu vẹo vẹo đi qua cây cầu độc mộc, quay lại nhìn, cậu tôi vẫn đứng ở bên kia bờ sông duới sáng trăng mờ ảo, nước chảy rì rao, dưới đất là hình nước vân mây, mặt trăng như con mắt đang soi chiếu.
Bỗng dưng chiếc cầu độc mộc sập toàn bộ sập một cách lặng lẽ, gipống như một vật làm nên bằng nến tan biến dưới nhiệt độ cao, từng tấm, từng tấm gỗ trôi heo dòng nước rồi mất hút. Giữa lúc này tôi đã nhìn thấy Mục Lôi đang thất tha thất thểu chạy đến, có cả con mèo Thúy Hoa và con chó Phú Quí, con chó phú Quí đứng ở bờ bên kia sủa gâu gâu.
Tôi đã về Châu Thành, “Điều kệ bảo vệ môi trường sinh thái địa khu Thương Châu” chính thức ra mắt, những người trong ủy ban bảo vệ môi trường sinh thái dẫn hàng loạt người tình nguyện đặt các điểm trên phố lớn ngõ nhỏ rầm rộ tuyên truyền. Tôi đã báo cáo công việc chụp ảnh tong hơn hai mươi ngày, tôi không thể nói dối, đã nói tất cả sự việc đã xảy ra. Ông chủ tịch đùng đùng nổi giận, đã gọi điện cho các ngành liên quan trước mặt tôi, đề nghị tước bỏ tư cách ủy viên ủy ban bảo vệ môi trường sinh thái của cậu tôi, ra lệnh cử người đi điều tra, nếu đúng thế thì thu nộp súng săn của cậu tôi và xử lý theo pháp luật. Ông Chủ tịch nét mặt hầm hầm không nể tình như thế khiến tôi đâm lo cho cậu, nhưng tôi không che chở và né tránh cho hành vi bắt giết sói của cậu, song tôi trách chính quyền lúc này không thể thả giống sói mới vào, ông chủ tịch bảo đâu có thả sói mới.
Có thể nói ông chủ tịch rất coi trọng tôi, ông trông mong tôi đóng góp cho môi trường sinh thái của địa khu Thương Châu, song kết qủa thì ngược lại. Ông chủ tịch khó xử, tôi càng khó xử hơn. Tuy ông sai thư ký riêng dẫn tôi ra ở khách sạn, nhưng tôi còn mặt mũi nào tiếp tục ở lại Thương Châu. Đối với ông chủ tịch, đối với cậu tôi và đối với sói, tôi là ngôi sao chổi. Tôi trở về tỉnh thành không thể nói rõ với lãnh đạo đơn vị đã làm những gì trong thời gian lâu thế, chịu kỷ luật tự do tản mạn, không về đúng thời hạn để nhở công việc. Tôi đâm ra cáu gắt, cải nhau với anh em đồng chí trong đơn vị, đi lăng quăng một mình trên đường phố, đi đi lại lại trên đầu cầu vượt ở phố Bắc Đại, tôi đã phát hiện một anh công an luôn luôn theo dõi, giám sát mình, sau đó anh ta đến gần bảo tôi xuất trình giấy chứng minh và thẻ công tác. Tôi có đầy đủ mọi chứng từ. Anh ta bảo: Muộn thế này anh còn lang thang làm gì? Anh ta nghin ngờ tôi là trộm cắp. Tôi đi xuống cầu vượt, trong rừng cây nhỏ ở ven đường đột nhiên có một cô bé xinh xinh bám theo như bóng ma, cất tiếng hỏi: Anh ơi, anh có mua giường không? Tôi hỏi lại: Giường gỗ gì? Cô ta hừ một tiếng bỏ đi, hình như cô ta còn chửi tôi một câu. Giời ạ, cô ta tưởng tôi là khách làng chơi!Tôi vội vàng đáp xe tác xi, nói to với tài xế: Muốn chở đến đâu thì chở, tôi trả anh gấp đôi chi phí. Xe taxi phóng đi, nhưng trên đường giành cho xe chạy toàn là người đi xe đạp, anh bóp còi thế nào họ cũng mặc kệ, không nhường đường, lái xe chưa kịp chửi, tôi đã thò đầu qua cửa sổ xe nhổ bọt vào mặt người đi xe đạp. Thế là người đi xe đạp định chặn xe taxi, xe taxi tuy cố lách đi trong đám đông nhưng một hòn gạch đã ném vỡ kính cửa sổ xe, lại có một chiếc giày thối ném qua lỗ thủng kính đập vào sống mũi tôi. Tôi phải đến tiền kính cho lái xe. Về đến nhà kể với vợ chuyện vừa rồi, hy vọng vợ an ủi vài lời, nhưng cô vợ cứ bô bô: đi một chuyến công tác về tính tình đổ đốn thế, đã bị đau lại còn phải đền tiền, đáng đời! Tại sao nhổ bọt vào người ta? Tôi cáu tiết ca cẩm người trong thiên hạ ai ai cũng chơi xấu với mình, ngay đến vợ cũng như thế. Vợ tôi hỏi:
- Làm gì mà hung hăng thế, anh là sói hay sao?
- Tôi là sói đấy, thì sao nào? Tôi là sói đấy thì sao nào?
Vợ tôi ngạc nhiên cứ nhìn tôi chằm chằm, đột nhiên chân tay hoảng loạn, hết sờ vào trán tôi, lại vạch mí mắt ra nhìn, rồi xăm xăm đi gọi điện thoại, cô ấy gọi số điện thoại cấp cứu ở bệnh viện: Mau mau cho xe cấp cứu, cho xe cấp cứu mau lên! Tôi sấn đến rứt ngay dây điện thoại quát to: Ai ốm hả? Ai ốm hả? Bỗng cô ấy ôm chặt tôi, mặt đầy nước mắt, song an ủi tôi:
- Anh không ốm Tử Minh ơi, anh ốm thế nào được? Không ốm, không ốm!
Tọi đấy vợ ra chui vào buồng ngủ, đóng cửa đánh rầm một tiếng lẳng lặng xem lại những đống ảnh mình đã chụp về những con sói sống sói chết, còn nhìn cả tấm da sói treo trên tường. Bình tĩnh lại tôi cũng ngạc nhiên bởi hành vi của mình, tôi đã thay tính đổi nết thật rồi ư? Hơn hai mươi ngày làm quen với sói, linh hồn những con sói kia đã bám lên người tôi rồi ư?
Đêm ngủ tôi thường hay nằm mơ, tôi không thể nói rõ có phải trong cõi mộng, mình cứ cảm thấy kiếp trước mình là một con sói, còn kiếp sau có lẽ cũng biến thành con sói. Lúc tỉnh lại cứ ngồi thẩn thờ tại chỗ. Đã một tuần tôi không ăn nằm với vợ, thậm chí cùng ngũ một giường mỗi người đắp một chăn riêng, tôi ngủ trên tấm da sói cậu tặng. Nhưng có mấy đêm tôi bị vợ lay tỉnh, thức dậy rồi mồ hôi tòa ra ướt sũng, vợ tôi hỏi: anh sao vậy? cô ấy kể lại, cô ấy đang ngủ thì nghe thấy tôi thở mạnh, mở mắt ra nhìn thì người tôi một nửa trên giường, một nửa dưới đất, hai tay níu chặt đầu giường, hình như đang tranh chấp với ai đó, hai mắt nhắm nhưng mồm nói: Tôi không đi, tôi không đi! Lời vợ kể khiến ptôi láng máng nhớ lại, hình như trong mê đang tranh nhau với con sói một tấm da sói trên giường, lại hình như không phải tranh da sói với con sói, dù thế nào đi nữa thì con sói kia hay người đó cố sức đẩy tôi, còn tôi thì cố bám bằng được.
- Thật à? – tôi hỏi – anh mơ dữ hả em?
Tôi không muốn nói hết với vợ, nhưng đúng là tôi cảm thấy hoảng sợ. Tôi bắt đầu kể truyện với các bạn mình, kể hai câu truyện, một là chuyện Ngũ Phong dùng xe máy chở lợn đi lấy đực, đương nhiên tôi đã lược bỏ nội dung về sói, chỉ kể có một người tên là Ngũ Phong trong nhà nuôi một con lợn nái, trong đêm con lợn nái cứ réo hồng hộc, Ngũ Phong nghĩ bụng con lợn này động đực cần phải chở đến trạm phối giống lấy đực. Nhà Ngũ Phong không có xe xải tiến , lại không muốn dắt lợn đi tốn thì giờ, anh ta có một chiếc xe máy cá là dỉ, liến để lợn nái lên yên, con lợn này biết ngồi trên yên sau xe , nhưng lợn nái ngồi trên yên su xe còn ra thể thống gì nữa, thế là Ngũ Phong lấy áo mưa choàng lên thân lợn nái, giống như người ngồi, chở đến trạm lấy giống. Lấy đực về, lợn nái yên ổn được ba ngày, sang ngày thứ tư lợn nái lại réo hồng hộc. Trời vừa sáng lại đèo đi lấy đực như cũ, yên được một đêm, lợn nái lại réo hồng hộc đến ngán ngẫm. Ngũ Phong bảo: Đừng réo nữa, ngày ,ai lại cho lấy đực. Sáng mai ra chuồng không thấy lợn nái đâu, quay đầu nhìn thìn lợn nái đã trùm áo mưa ngồi trên yên sau xe từ bao giờ. Anh xem xem, lợn nái mặc áo mưa ngồi trên xe máy dáng như thế nào, cái chân nhỏ xíu, thân tròn trùng trục. Câu truyện thứ hai tôi kể là câu truyện ông già ở thị trấn Sinh Long đã từng kể: ông già là cách mạng lão thành, người Thiểm Bắc, khi nói chuyện giọng mũi rất nặng, có tiếng ngàn ngạt, ông già kể: ngày đầu tiên kẻ thù cho tôi ngồi ghế hùm, tôi không khai gì hết. Ngày thứ hai, kẻ thù đổ nước ớt, tôi cũng không khai. Ngày thứ ba kẻ thù đóng đinh tre, lột hết móng tay, tôi cũng không khai báo. Ngày thứ tư, kẻ thù cho tôi một cô gái đẹp, tôi đã khai ra hết. Ngày thứ năm tôi vẫn còn định khai tiếp, kẻ thù đã bắn chết tôi.
- Hay đấy chứ? – tôi hỏi các bạn – sau đây các anh cứ ngẫm nghĩ dần sẽ thấy hay hay!
- Truyện này anh đã kể năm lần rồi anh bạn ạ – bạn tôi nói – rắm đánh ba lần đã không còn tí mùi nào nữa.
Nhưng tôi cảm thấy mình cũng đã chết.
Thằng tôi đã chết thật ra còn đang sống. Ba tháng sau, hội đồng nhân dân tỉnh họp, tôi lại vác máy ảnh đến chụp. May mắn làm sao trên đường hàng lang các đại biểu đi lại trong khách sạn, tôi đã gặp ông chủ tịch ủy ban hành chính Thương Châu, ông cho tôi biết một tin: cậu tôi đã biến thành sói người.
- Sói người ư? Con người trở thành sói được sao?
- Nước ngoài đã đưa tin như thế – ông chủ tịch nói – Trước kia xem tin này mình cứ cho là bịa đặt, nào ngờ các bạn cậu anh đã trở thành sói người thật! Đương nhiên họ là người nhưng có thói quen của sói, dáng vẻ cũng dần dần có đặc trưng của sói, nhất là cậu anh.
- Cậu tôi thay đổi thế nào?
- Tôi nghe nói, ông ta liệt dương, nhưng sau đó đã béo lên giống như con gấu mèo lớn, cứ tưởng ông ta là một người giống gấu mèo lớn, song đột nhiên răng trong miệng mọc dài dài, bắt đầu không ưa mặc quần nữa, lấy một cái ống tre úp vào bộ sinh dục, lại lấy dây thừng buộc ống tre vênh cao lên, sau đó nữa dần dần thành sói người. Đấy có thể là một thứ bệnyh đã mắc phải sau khi bị sói cắn, giống như người bị chó dại cắn sẽ mắc bệnh chó dại ấy mà. Nhưng trừ cậu anh ra. Những người kia đâu có bị sói cắn!
- Những gnư6ời kia ư?
- Những người Hùng Nhĩ Xuyên ai cũng thế cả! Hành vi của họ quái dị, tính nết nóng nảy, lúc thường ít nói, nhưng hơi một tý là điên lên, cứ toang tác toang tác, không tín nhiệm bất cứ ai, người ở nơi khác hễ đi qua đó liến bị bọn họ từng bầy từng đám xông vào giữ chặt chân tay người ta, chỗ nào trên người cũng cắn, không ai dám đến đó!
- Sao lại có chuyện như vậy kia chứ! – tôi hỏi – Thế các ông đã xử lý cậu tôi ra sao?
- Xét công lao trước đây của anh ta, đã htu lại súng giam mười lăm ngày.
- Vậy thì chắc hẳn cậu tôi không thông đã phát điên, còn người Hùng Nhĩ Xuyên cũng điên lên vì bất bình cho cậu.
- Có luật phải theo luật chứ? Cho dù phát điên thì cũng không nhất thiên điên thành sói như thế! Trên mặt họ lại bắt đầu mọc lông dài cơ chứ! không phải râu, lông đấy, từ dưới tai cho đến cằm đều là lông mượt mà. Hùng Nhĩ Xuyên hiện nay đã trở thành nỗi sợ hãi của Thương Châu. Nhưng xét cho cùng họ vẫn là người, anh không thể đến bắt hết họ, hoặc bắn chết họ. Chính quyền đang xem xét có cần phong tỏa nơi đó thành một vùng cấm không.
- Tôi hiểu rồi.
- Anh hiểu rồi ư?
- Thương Châu cần một vùng cấm như thế.
- Anh nói gì vậy?
Tôi quay đầu đi khỏi lối đi, đi đến cửa cầu thang, nước mắt tự dưng chảy ròng ròng. Ông chủ tịch chẳng hiểu tại sao tôi đột nhiên bỏ đi, ông còn gọi tên tôi, ông bảo:
- Tại sao anh bỏ đi, mẹ kiếp, không có sói nữa thì lại có sói người.
Tôi chạy thẳng xuống cầu thang nói lẩm bẩm một mình: chẳng cần phải thả giống sói mới vào Thương Châu.
Thương Châu tôi đã từng viết bao nhiêu câu truyện đẹp về Thương Châu, mà được đông đảo người đọc ở trong và ngoài nước biết đến Thương Châu. Cái tên Thương Châu này thật ra là ten gọi từ thời xa xưa đối với địa phương này. Sở dĩ lần đầu tiên tôi dùng cái tên này là để ngăn ngừa người địa phương suy bụng ta ra bụng người trong câu truyện của mình. Nhưng sau khi Thương Châu được đông đảo bẹn ngoài biết đến thì Châu Thành cũng theo đó đổi tên thành phố Thương Châu. Tôi hết sức vui sướng và tự hào về điều này. Đương nhiên bao đáp lại của Thương Châu đối với tôi cũng tương đối hậu hĩnh. Tên tuổi tôi được nhiều người biết đến, lãnh đạo Đảng, chính quyền và dân thường cả địa khu coi tôi là một tấm các vi tích của họ, thậm chí trong một cuộc hoạt động thi đấu múa sư tử, rước đèn lồng, tôi đã từng được coi là một đề tài trò chơi có tạo hình rước trên phố cùng với một số tình tiết trong truyện thần thoại vá nhân vật lịch sử. Nghe đâu, người đóng vai tôi là một em bé ba tuổi, được buộc vào tia sắt cao cao, bên ngoài mặc một áo choàng da, đội chiếc mũ lưỡi vịt, tay cầm một tập mô hình sách có viết mấy chữ “ Câu truyện của Thương Châu”. Bởi bị buộc vào giá sắt từ sáng sớm, lại diễu hành một nửa ngày, em bé kia bí đái khó chịu đã khóc, mẹ em bé luôn luôn chạy theo kiệu và nhắc liên tục:
- Không được khóc, con là Tử Minh, không phải trẻ con, khóc người ta sẽ chê cười!
Em bé không khóc nhưng đã đái ướt sũng cả áo choàng da và kiệu rước. Cũng có nhiều người đọc pở các nơi đã từng đọc truyện tôi viết về Thương Châu đem lòng mến mộ Thương Châu , chẳng quản xa xôi vạn dặm, bỏ tiền túi, đi du lịch Thương Châu. Sau khi đi thăm đã đến tỉnh thành tìm tôi, bảo tôi lừa bịo họ: Thương Châu đâu có giàu đẹp, chẳng phải là rừng thiêng nước độc hay sao? Tôi bảo, các bạn thiếu tình cảm, dưới gầm trời này đâu có những đứa con không coi mẹ mình là vĩ đại? Chuyê5n lạ thế đấy, tôi không hối hận mình đã ca tụng Thương Châu, đây có lẽ là một thứ gien, cũng là một trách nhiệm, tôi phải tiếp tục báo cao những sự việc xảy ra ở Thương Châu. Nhưng lần này suốt cả quá trình tôi chụp ảnh sói ở Thương Châu, sau khi trở về thành phố tôi lại không viết một chữ, thậm chí không hề nhắc đến. Hiện giờ Hùng Nhĩ Xuyên có sự biến sói người, lại đúng là hcuyện tày đình, bào chí, đài phát thanh, đài truyền hình toàn tỉnh đều không đưa tin, sau khi được ông chủ tịch cho biết, tôi cũng không nhẹ dạ nói lại với bất cứ ai. Đấy đúng là một việc vừa đau buồn vừa xấu hổ, nó không thể không khiến tôi bị kích thích mạnh mẽ, bởi vì tôi là một trong những người tham gia gây nên hậu qủa này. Nín nhịn không nói, có thể chịu được một ngày, chịu thêm ngày nữa, thì sức ép khổng lồ cuối cùng đã làn cho tôi sắp sửa suy sụp. Thế là tôi đóng kín cửa ra vào và cửa sổ, len lén nói lại với người vợ cách ly. Vợ tôi cũng vô cùng sợ hãi, tôi phát hiện cô ấy luôn luôn bí mật quan sát tôi, chắc chắn cô ấy cũng nghi ngờ tôi có dị biến gì ở trong lòng, tuy không nói toạc ra, lại còn tỏ ra thân mật sốt sắng đối với tôi, mức độ thân mật sốt sắng hình như còn hơn cả trước kia khi vợ chồng chưa có mâu thuẫn. Nhưng sang ngày thứ ba, lúc tôi đi làm về đã không thấy tấm da sói cậu tặng nữa.
Hôm ấy chủ nhiệm Thi Đức của Thương Châu đến đơn vị tìm tôi. Ông ấy gầy guộc như củi khô, phòng làm việc của tôi ở gác bảy, ông ấy bảo ông ấy cầm một tờ báo leo lên hai tầng nhà, ngồi nghĩ hai mươi phút, bảy tầng gác leo mất đứt gần hai tiếng đồng hồ. Ông ấy suy yếu đến như vậy khiến tôi ngạc nhiên, tôi hỏi ông lên tỉnh thành có việc gì, điều động công tác rồi phải không? Ông ấy bảo đưa chuyên gia Hoàng đến Bệnh viện Thần kinh. Tôi không nói gì nữa. Tôi vốn định hỏi ông ấy có biết chuyện cậu tôi không, nhưng tôi đã không nói gì cả. Tan tầm về nhà, không thấy da sói đâu, tôi hỏi vợ:
- Da sói đâu?
Vợ tôi đáp:
- Đem chôn rồi!
- Tại sao cô chôn nó?
- Anh cảm thấy đưa sói vào nhà tốt hay sao?
- Cô nhìn thấy tôi cũng sắp sửa biến thành sói phải không?
Bỗng cô ấy ôm chặt cổ tôi, nước mắt dàn dụa, cô ấy bảo:
- Không phải, anh không phải!
- Nhưng tôi cần có sói!
Tôi đã gào thét lên. Cô ấy lập tức đưa tay bịt mồm tôi, lại hết sức nhanh chóng đóng kín cửa ra vào và cửa sổ, không muốn để người ngoài nghe thấy, song tôi vẫn gào to:
- Nhưng tôi cần sói, tôi cần sói!
Ngày mồng tám tháng chín năm 1999 viết xong bản nháp đầu tiên.
Ngày mồng chín tháng giêng năm 2000 sửa xong lần thứ hai.
Ngày mồng hai tháng ba năm 2000 sửa xong lần thứ ba.
Ngày hai mươi bốn tháng ba năm 2000 sửa xong lần thứ tư.
Hết
LỜI CUỐI SÁCH “HOÀI NIỆM SÓI”
Giả Bình Ao
Tháng sáu năm 1998 tôi viết xong cuốn “Thôn Cao Lão” trong lời cuối sách tôi viết: Đây có thể là truyện dài cuối cùng của tôi trong thế kỷ này. Đúng như thế. Lúc còn đang viết “Thôn Cao Lão”, tôi đã thai nghén viết cuốn “Hoài Niệm Sói”. Lẽ ra có thể viết xong trong năm 1999, song không thể hoàn thành, lúc thì việc này cuốn níu, lúc thì việc kia làm lỡ, hơn nữa viết rồi lại bỏ, bỏ rồi lại viết, nghĩa là không để anh ra sách trong năm 2000. Điều này chứng tỏ một đời con người viết bao nhiêu sách, viết cái gì, vào lúc nào đều không theo ý chí của mình được. Người khác có thể nói đây là số phận, là duy tâm chủ nghĩa, nhưng tôi lại có nhiều thể nghiệm. Yêu chuộng của tôi khá rộng, một trong những yêu chuộng đó là thu giữ đồ gốm của các đời Tần, Hán, Đường, thường là được một thứ, tất sẽ rất nhanh chóng lại được một thứ khác có kích thước và màu sắc giống thế, được vật này dẫn đến có vật kia, tôi cứ canh cây đợi thỏ, vật thu giữ cùng ngày càng nhiều thêm. Làm nghề gì lâu dài, lúc nói chuyện về nghề đó hình như trong mồm thường độc địa, trên thì kể đến giáo huấn, của Hoàng Đế, trong mồm không được có lời sàm sỡ, dưới thì đến kẻ kiếm củi, khi leo núi tuyệt đối cấm nói câu “lăn rồi!”. Tôi tự cho rằng Văn chương là việc giữa trời đất, không được tùy tiện chà đạp lên giấy lên chữ, càng nhận thấy viết có thành hay không, viết thành cái gì, không phải cứ gượng ép mà có được. Văn học không phải lấy sự chuyển dời của thời đại mà bàn cao thấp, xấu tốt hay dở, cũng không liên quan đến tuổi đời lớn nhỏ của nhà văn Tào Ngu hơn hai mươi tuổi đã viết xong “Lôi Vũ” , Trương Ai Linh vừa xuất hiện đã hoàn thành độ nhuần nhuyễn văn học của bà. Người thì mười năm mới mài kiếm một lần, người thì cất bút thành văn, không thể đối xử ngang hàng như nhau. Mỗi nơi có một đặc sản riêng, ví dụ rượu Quí Châu, thuốc lá Vân Nam, dấm Sơn Tây, người ham rượu đương nhiên tôn sùng Quí Châu, nhưng tuyệt đối không được coi Quí Châu là thiên đường nhân gian.
Nhớ tới một họa sĩ, ông bà Molandis ở phương Tây, có bài viết nói ông mấy chục năm sống trên một thị trấn nhỏ ở Itali, ngồi trước mấy cái lọ gốm vẽ tranh, đã vẽ nên những thành tựu ghê gớm, liền kiểm điểm lại những nghi hoặc của mình trong lúc viết “Thôn Cao Lão”. Mười năm trước, tôi đã từng viết một chùm truyện cực ngắn, “Chuyện núi Thái Bạch”, lần đầu tiên thử nghiệm lấy thực viết hư, có nghĩa là lấy cảnh thực để viết ra một loại ý thức, trong mười năm sau đó, tôi say sưa với ý tưởng luôn luôn muốn làm cho tiểu thuyết có tính đa nghĩa, hay nói cách khác để cho đời sống hiện thực đi vào ý thơ, hoặc nói khác đi, là sự kết hợp giữa siêu hình và không siêu hình như lửa đối với ngọn lửa, như châu ngọc đối với khí báu. Nhưng tôi đau buồn không tìm ra lối thoát, cho dù có lối thoát, song xử lý có vẻ sống sượng hay dấu vết cưỡng ép rõ nét quá làm chon ý nghĩ ban đầu không đi vào trái tim và khối óc con người một cách suông sẽ, xảy ra sự hiểu lầm nặng nề, hoặc coi nhẹ, buông trôi. Trong “Hoài Niệm Sói”, tôi lại thử nghiệm lần nữa, ý tu73ng cục bộ đã không được tôi coi trọng, mà trực tiếp xử lý tình tiết thành ý tượng. Thử nghiệm này liệu có đem lại kết quả như dự kiến hay không, tạm thời tôi chưa biết, song nỗi vui sướng cảm thấy có niếm an ủi nảy sinh trong sáng tác thì có thật. Nếu nói trước kia tiểu thuyết có ý định tạo hình một cành nào đó bằng xi măng trên cây, thì bây giờ chắc chắn một cây là một cây, hàm lượng nước của nó thông qua các đường gân thớ thịt, dẫn đến từng cành cây chiếc lá, để tạo hình cho toàn bộ cây xanh. Đứng trước con người và sự việc cần viết, lấy vật nhìn vật, làm cho bản chất của vạn vật được thể hiện cụ thể. Họa sĩ Alberto Giacometti (Thụy Sĩ) đã từng kể một câu chuyện, năm 1925 cuối cùng khi đã vứt bỏ hội họa của chủ nghĩa tả thực truyền thống chỉ chú trọng những cái có thật trong thực thể, ông đã thử nghiệm mọi phương pháp, cho đến một buổi sáng khi thức dậy, trong phòng có một cái ghế đang vắt một chiếc khăn mặt, nhưng tôi lại sợ toát mồ hôi. Bởi vì chiếc ghế và khăn mặt đã mất hết trọng lượng, chiếc khăn không đè trên ghế, ghế cũng hông đè trên nền nhà, cứ như đang nhìn thế giới trong nước qua một lớp nước trong suốt. Câu truyện của ông khiến tôi lại một lần nữa hiểu ra lối giải thích của Lão Tử về bình chứa và cửa sổ là sự vật khách quan, vật tượng đang tồn tại, ý nghĩa bản chất của tồn tại là nó hiện rõ ràng bằng tính có ích của chúng, mà tính có ích của chúng chính là do không gian trống không của chúng quyết định, tồn tại trở thành hình tượng trống không, trống không trở thành căn cứ của tồn tại. Nhưng khi sáng tác lấy chính thể, lấy cả khối làm ý tượng để xử lý, thì cần ohải dùng sự vật cụ thể, hay nói một cách khác là dùng quá trình đời sống để hoàn thành. Đời sống có quy luật hoạt động riêng của nó, ngày nọ cứ nối tiếp ngày kia trôi đi, dù thuận lợi hay khó khăn cũng cứ trôi đi, đây là bản thân đời sống, cho nên nó hỗn độn mà lại tươi mới. Như vậy càng viết thực, càng đời sống hóa, càng là hư, càng có ý tượng. Lấy thực viết hư, thể không chứng cớ, đây chính là niềm cảm hứng để cuối cùng tôi viết xong “Hoài Niệm Sói”.
Trong lời cuối sách của cuốn “Thôn Cao Lão”, tôi chủ yếu nói đến tinh thần mà ngừơi sáng tác truyền đạt ra ở ngoài văn tự trong tác phẩm. Hiện nay chúng ta hết sức coi trọng nó. Văn học Trung quốc đương đại, không quan tâm cú ý đến xã hội và hiện thực là không được. Hiển nhiên quan tâm chú ý đến xã hội và hiện thực, không chỉ viết đề tài đời sống hiện thực, mà cho dù có viếtđời sống hiện thực, thì không hẳn là chủ nghĩa hiện thực. Cuối thế kỷ 20, có lẽ đầu thế kỷ 21, sự tìm tòi về hình thức vẫn có thể là việc rất phổ biến. Theo tôi, thì sự tìm tòi này nên xây dựng trên nền tảng của Văn học Hán ngữ mới, Văn Học Hán ngữ có tính dân tộc của nó, nó độc đáo hẳn với mỹ học và tư duy của văn hóa phương Tây. Đương nhiên sự thịnh hành của Văn hoá phương Tây và nước Mỹ có lẽ một ngày nào đó sẽ thống nhất hóa toàn cầu, nhưng đối với Trung quốc thì rút cuộc ngáy ấy còn xa vời vợi.
“Hoài Niệm Sói” hoàn toàn kông phải là đề tài tôi quen viết trước đây,vế cách viết cũng có thay đổi, tôi dự kiến nó sẽ không thích ứng đối với một số người đọc, hay nói cách khác đọc không hào hứng lắm. Nhưng nó phải là cuốn sách tôi cần viết. Sáng tác là để mua vui cho bản thân và mua vui cho người, mua vui cho bản thân đương nhiên có sự tồn tại của tôi, mua vui cho người khác chứ không phải là đón ý cho vừa lòng ngừơi khác, kể cà về chính trị, kể cà về thế tục, đời thường.
Trong thế kỷ mới, Văn Đàn xét cho cùng là sân khấu của các nhà văn trẻ hơn. Tôi đã già, nhưng tôi không cảm thấy quá sức. “Hoài Niệm Sói” là cuốn sách của tôi trong một ngàn năm mới, khi sắp sửa viết xong bản thảo, thì ở đâu đâu cũng có hoạt động chào mừng, có phóng viên đến phỏng vấn, yêu cầu tôi phát biểu cảm tưởng, tôi đâu có vui mừng hớn hở bởi nhân dịp bước sang năm 2000. Tôi nói , lễ tết gì thì hình như đều không quan trọng lắm đối với tôi, làm một nhà văn tôi giống như người nông dân, cày bừa gieo giống, nuôi cây lúa, cay lúa chín thì gặt thì hái, gặt hái xong, lại cày bừa gieo hạt,nuôi cây lúa, cây lúa chín, lại gặt hái, cứ năm tiếp nối năm, tháng nối tiếp tháng, ngày nối tiếp ngày thôi. Viết xong “Hoài Niệm Sói” đây, chắc chắn tôi phải đi nạp điện, đi mưu tính, đi viết tiếp. Chỉ cầu mong trong những tháng năm sau này, việc vặt vãnh ít hơn, bệnh tật ít hơn, tự do thoải mái nhiều hơn.
Ngày 16 tháng 1 năm 2000
Nguồn: Hoài niệm sói. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Biên tập: Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003.
www.trieuxuan.info
|