tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
12.07.2013
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (2)

CUỘC TỔ CHỨC BÁN BÁNH GIÚP DÂN BỊ LỤT THANH HÓA


 


I


 


Gió mưa một trận khéo vô tình,


 


Mấy huyện sinh linh hạt tỉnh Thanh.


 


Chìm nổi đã đành theo vận nước!


 


Giống nòi cảnh thế dễ làm thinh?


 


 


 


II


 


Làm thinh không nỡ phải ra tay,


 


Kẻ của người công giúp hội này.


 


Bồ liễu theo gương người nghĩa khí!


 


Nhiễu điều phủ giá mới từ đây.


 


 


III


 


Từ đây đã hiểu chữ tương thân,


 


Công đức chia nhau gánh một phần.


 


Nghề mọn riêng tay giùm việc nghĩa,


 


Tiếng oanh gọi bạn khắp xa gần.


 


 


IV


 


Xa gần nô nức cuộc làm lành,


 


Sắp đặt đều tay bọn gái mình.


 


Lan xạ thơm tho trường hợp tác,


 


Nữ công thêm rạng vẻ tinh anh!


 


In trong Nữ công thường thức nhị tập, Nhà in Tiếng Dân, Huế.


 


THƯỢC DƯỢC MỚI NỞ


Bấy lâu nắng giữ với mưa gìn,


 


Mừng thấy chồi xuân đã có tin.


 


Hoa nhuộm vàng non trăm vẻ khéo,


 


Lá đơm xanh nghít một màu in.


 


Thướt tha trước gió cười chi bậu,


 


Thấp thoáng bên mành bạn với min.


 


Khen khéo thờ ơ mùi đạm bạc,


 


Phẩm này sắc ấy giá muôn nghìn.


 


HỌA BÀI THƠ NĂM MỚI


Của cụ Phúc Môn bá[1] nguyên vận


 


Phong cảnh ngày xuân đáng mấy thơ


 


Ngàn vàng một khắc cái thời giờ


 


Ngâm hòa Mai Cát hương ngào ngạt


 


Đàn dạo Lan Đình[2] vận nhặt thưa


 


Thỏ thẻ tiếng chim oanh học nói


 


Lơ thơ chiều lá liễu buông tơ


 


Thiều quang chín chục còn hơn nữa


 


Nao nức gần xa những đợi chờ.


 


HỌA BÀI MỪNG LÍNH TÙNG CHINH[3] ĐÃ VỀ


 


Của cụ Phúc Môn bá nguyên vận


 


Cuộc hòa mừng thấy chiến binh về


 


Được lắm điều khen khỏi tiếng chê


 


Mở mặt giúp công đền nợ nước


 


Ra tay chịu khó học thêm nghề


 


Khải hoàn ca dậy trong ba xứ


 


Kỷ niệm đài cao dựng tám nghê


 


Có thế mới là không thẹn mặt


 


Làm nên danh dự chốn hương quê.


 


                                      Hữu Thanh, số 13, ngày 1-2-1922


 


TÂN NIÊN KỸ THUẬT


(Họa văn của thân ông, Tổng đốc Thanh Hóa Ưng đại nhân[4])


 


Trời nam sông núi vẫn cao sâu


 


Xuân sắc hây hây nhuộm một màu


 


Vàng trắng đua chen đầy mặt đất


 


Móc mưa nhuần nhã thấm bèo rau


 


Danh trường sớm muộn lòng không bận


 


Lợi thị hơn thua thế mặc dầu


 


Ngày tháng thoi đưa năm cũ mới


 


Bút nghiên vui thú xướng hòa nha.


 


Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 25-2-1924


 


LÊN CHÙA TỨC CẢNH


Mình biết mình hơn kẻ biết mình


 


Khi về khi ở mặc ưa tình


 


Không đeo níu cảnh, không phiền lụy


 


Chẳng cúi luồn ai, chẳng nhục vinh


 


Dạo núi mỏi chân, ngồi niệm Phật


 


Thăm chùa viếng bạn, lại xem kinh


 


 


Ờ ờ Cực lạc là đây nhỉ!


 


Nguyện những bao giờ khéo để dành[5]


(Tư liệu gia đình)


 


TẶNG TRƯỜNG DIỆU ĐỨC[6]


 


Khoác áo nhu hòa thiệt khỏe không


 


Hiếu tình hai chữ trả đền xong


 


Thờ thân nuôi trẻ hai triêng[7] nặng


 


Mến đạo thương đời một điểm trong


 


Công quả đã tròn nền Diệu Đức


 


Phẩm tài chi kém bạn Phương Dung


 


Nêu cao đuốc tuệ cho bồ liễu


 


Như mảnh trăng tròn giữa biển Đông.


 


(Tư liệu gia đình)


 


AN TRUYỀN HIẾU TỬ CHUYỆN


Ông hiếu tử tên là Đoàn Huân, người tỉnh Thừa Thiên, huyện Phú Vang, làng An Truyền, ông sinh năm Ất Sửu (Tự Đức thập bát niên) 1865.


 


Người có tính chí hiếu, gặp phải năm Giáp Thìn thiên tai dữ dội về miền hạ bạn, các nhà của nhơn dân bị gió bão, nước trôi mất hết. Nhưng nhà ông Đoàn Huân tám người chỉ hao ba đứa con nít mà thôi. Trong khi tai biến thì ông cõng mẹ lánh nạn, không kể vợ con nhà cửa chi hết. Thế mà lòng trời cũng không phụ người thảo, sau nước xuống trở về mới biết là người vợ và hai đứa con gặp kẻ cứu vớt. Nhà cửa lại sum họp như xưa.


 


Nhiều người truyền tụng cái sự tích của ông đã làm ra nhiều bài thi văn khen ngợi. Từ lúc ấy đến giờ, 22 năm nhưng ông còn mạnh khỏe, nhà ở tại chợ Chuồn tức làng An Truyền. Hiện nay ông có một người con gái út tên là Quật Tỉnh hay chữ Hán làm nghề thuốc Bắc có tiếng. Người bạn tôi nhơn có mời cô Quật Tỉnh đến xem mạch uống thuốc cho nên nghe được sự tích rất rõ ràng.


 


Thiết tưởng sự hiếu hạnh phải nên truyền bá để làm gương tốt khuyến miễn người đời, cho nên không nệ mình học thiển tài sơ, bèn soạn một bài tiểu truyện như sau này:


 


 


Nhà lan nhân lúc rảnh rang


 


Quốc văn góp nhặt ít hàng vịnh ngâm


 


Đấng nhi tử hiếu tâm mấy kẻ


 


Sử sách còn mách để làm gương


 


 


 


Nguyễn Phùng gặp buổi gian nan[8]


 


Bên tình bên hiếu, biết đàng trọng khinh


 


Người Xuân An liều mình cứu mẹ[9]


 


Dẫu hổ lang sức khỏe khôn đương


 


Trời nam vững đặt mối rường


 


Dạy người lấy đạo cương thường mà nên


 


Xuân thu trải đã mấy phen


 


Phong thuần, tục mỹ nên truyền đến nay


 


Huyện Phú Vang danh hay hiếu tử


 


Ông Đoàn Huân người xứ An Truyền


 


Phụ thân sớm khuyết non tiên


 


Phụng thờ lão mẫu cần chuyên một lòng


 


Miếng cam chỉ[10] vợ chồng thuận thảo


 


Chữ thần hôn hết đạo thừa hoan


 


Điền viên vui thú thanh nhàn


 


Da mồi tóc bạc ngày càng tốt tươi


 


Tính khẳng khái trọng lời ngay thẳng


 


Việc bất bình thường chẳng nể ai


 


Ghét quân ăn xổi ở thời


 


Giang tay muốn dứt những loài thị phi


 


Cơn nóng nảy khôn gì chống lại


 


Tiếng từ thân khôn dạy liền nguôi


 


Cho hay lòng thảo tính trời


 


Dẫu rằng sắt đá dám dời tấc gang


 


Phúc nhà nối cháu lan con quế


 


Cảnh sân thềm nhiều vẻ phong quang


 


Nào ngờ tụ tán bi hoan


 


Hóa công xoay trở lẽ thường thế thôi


 


Phong ba nổi bời bời một trận


 


 Bão năm Thìn tai vận nên kinh


 


Gió to đổ chợ, xiêu đình


 


Nước dâng người vật tan tành đôi nơi


 


Tiếng kêu khóc vang trời dậy đất


 


Khắp xung quanh ngói lật, tranh bay


 


Nghìn trùng sóng bạc láng lai


 


Mênh mông một sắc nước trời như nhau


 


Nhà Đoàn thị trước sau ngập hết


 


Kế đã cùng không biết làm sao


 


Trẻ già xúm xít lao nhao


 


Đoàn càng đau đớn như bào ruột gan


 


Trông thấy mẹ hình đơn bóng chiếc


 


Với vợ con thảm thiết phân pho[11]


 


Cù lao[12] ơn nặng hải hồ


 


Liều đem tính mệnh đền bù mới an


 


Đành ngơ mắt bỏ đoàn tình ái


 


Cõng mẹ già hăng hái ra đi


 


Trong vòng tử biệt sinh ly


 


Sóng vùi gió dập hồn lìa phách xiêu


 


Xanh thăm thẳm tầng cao cũng thấu


 


Tấm hiếu thành có phụ ai đâu


 


Những người thảo thuận bấy lâu


 


Trong cơn họa phúc gẫm âu chuyển vần


 


Đoàn từ lúc phò thân lánh nạn


 


Qua ngày sau nước cạn trở về


 


Xóm làng trôi hết bốn bề


 


Cửa nhà tan nát nào hề thấy ai


 


Một mình đứng giữa cồn gai


 


Khác gì chim cú lạc loài vườn không


 


Thương thay kẻ tay bồng tay dắt


 


Nỗi mất còn nước mắt khôn lau


 


Vật mình than thở hồi lâu


 


Bỗng nghe có tiếng đường sau gọi chàng


 


Như giấc mộng mơ màng mới tỉnh


 


Chữ trùng phùng tiên định rất xinh


 


Vợ chồng gương vỡ lại lành


 


Con thơ năm đứa trời dành cho hai


 


Ngỡ là hoa rụng nước trôi


 


Ai hay khổ tận cam lai một giờ


 


Nay gia đạo hơn xưa sum họp


 


Sự nghiệp thêm bồi lợp rất mau


 


Phúc lành hưởng thụ về sau


 


Của tiền công đức, vợ hầu phủ phê


 


Con cái thảy đề huề trưởng đại


 


Trước hao ba rày lại sinh ba


 


Mới hay thiên đạo cũng già


 


Hảo hoàn[13] hai chữ có xa đâu mà


 


Khuyên ai nấy: thảo nhà vẹn giữ


 


Thời hóa ra muôn sự đều hay


 


An Truyền hiếu tử lược bày


 


Làm bia kỷ niệm sau này soi chung.


 


Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 25-9-1925


 


TRẢ LỜI CHO NGƯỜI HỎI THĂM XUÂN THÀNH PHONG CẢNH[14]


Nghe mấy tiếng hỏi thăm hờ hững


 


Với non sông như bận tấc lòng


 


Cảnh đâu như cảnh não nồng[15]


 


Mượn tình gió mát trăng trong trả lời


 


Khách có biết đầy vơi là thế


 


Cuộc nương dâu bãi bể làm sao


 


Xoay vần đắp đổi biết bao


 


Định như thế ấy tiêu hao thế này


 


Luống hoa cỏ độ rày xanh nghít


 


Đám lâu đài nghi ngút tận mây


 


Mọi bề hình thức đua bơi


 


Theo chiều tiến hóa đổi thay đủ phường


Đường quan kéo dọc ngang tơ nhện


 


Suốt năm canh sáng điện như ngày


 


 


 


 


 Sanh ca dìu dặt khắp cơ


 


Hào hoa công tử thiên tài mỹ nhân


 


Nhà ngôn luận đều tân nhân vật


 


Chốn văn đàn ngôi bậc thiếu chi


 


Khoe khoang hồ thỉ[16] nam nhi


 


Người phen bác sĩ, người thi biệt tài


 


Trường Quốc Tử nay dời Thượng Tứ


 


Lầu Di Luân làm thự diễn đàn


 


Có phòng lưu học hai hàng


 


Thể thao có chỗ, giảng đàng có nơi


 


Trường Uy-la-bác ngó ngay Bến Dại


 


Cầu sắt qua sông cái Trường Tiền


 


Mai chiều con nước xuống lên


 


Giọng đưa đò hát nghe quen cũng tình


 


Các thắng cảnh trong thành có sử


 


Viện Tàng thư gần cửa Giác Hoàng


 


Nhà Bác cổ, nhà Bảo tàng


 


Đỉnh chung còn đó, ngọc vàng còn đây


 


 


Ngày tiết lễ hương bay nức dặm


 


Cảnh phố phường xanh thẳm đua chen


 


Nắng mưa trải bấy nhiêu phen


 


Thực hành tư tưởng đôi bên cũng là


 


Nền phong hóa xem qua đã biết


 


Tính phù hoa mỗ việc mỗ càng


 


Cạnh tranh công nghệ thị trường


 


Tấn tuồng đương diễn cải lương đó mà


 


Văn minh cũ mới pha pha


 


Ngựa xe quần áo cửa nhà vẫn sang


 


Thú ăn chơi nghênh ngang đủ vẻ


 


Cách khôn ngoan có lẽ còn non


 


Khóm tùng đỉnh Ngự chon von


 


Tuyết sương mấy độ hao mòn vì đâu


 


Chuông Bảo Quốc, trống lầu Thiên Mụ


 


Sĩ hồng trần thức ngủ hỡi ai


 


Ước nguyền sông dải, non mài


 


Dấu thiêng chung đúc mấy đời còn ghi


 


Khi nắng tạnh dẫu khi mưa gió


 


Gốc bồ đề còn đó trơ trơ


 


Khách qua đường khéo ngẩn ngơ


 


Nước sông Hương chảy bao giờ cho khô


 


Hàng tạp hóa tha hồ hết nửa


 


Mối lợi to các cửa chia nhau


 


Ai ngờ nghĩ trước suy sau


 


Thấy nông nỗi ấy không đau đớn lòng


 


Số là cũng tiếc chung mới nói


 


Đường còn xa nhắn với cỏ cây


 


Chồi non mầm tốt sau này


 


Trăm hay cho lắm không tày một quen.


 


Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 4-2-1926


 


BỐN BÀI THƠ TỨ TUYỆT


Tại Hội Nữ công xem các chị em làm việc, tức cảnh có vịnh bốn bài thi tứ tuyệt, xin đăng lên báo để hội viên các bà, các cô xem cho vui.


 


Đ.P.N.S.


 


I


COI CHỊ Đ. X. NH. THÊU BỨC TRANH HOA ĐIỂU


Năm sắc tơ chia một mối tình


 


Cỏ hoa trang điểm tự tay mình


 


Làm cho toàn bức đều linh động


 


Mũi chỉ đường kim ngắm đã xinh.


 


II


CHỊ B.T.D. DẠY CÁC TRÒ GÁI HỌC QUỐC VĂN


Vườn xuân vui xới lấy xuân hoa


 


Rèn đúc tinh thần tiếng nước nhà


 


Hỡi chị em ai từng đọc sử


 


Dựng nền độc lập phải đàn bà?


 


 


 


III


CHỊ P.T.Đ. CHĂN TẰM


Sớm khuya săn sóc việc tằm dâu


 


Nầy thú chăn nuôi xem cũng mầu


 


Gió lọt song đào khi bướm nở


 


Kén giăng bủa trúc lúc công[17] thâu.


 


IV


CHỊ TR.T. L. DỆT VẢI KHUNG MÁY


Tóm trăm nghìn mối một thoi giăng


 


Rộng hẹp tùy mình máy nhặt khoan


 


Nghề mọn dám mong gì tế thế


 


Nhỏ to[18] đủ giúp kẻ đơn hàn.


 


ĐỀ NÚI BÀN A[19] Ở THANH HÓA


 


I


 


Trải mấy tinh sương núi chửa mòn


 


Bàn A thập thắng tiếng xưa đồn


 


Quanh co lối cũ ngần rêu lấp


 


Thất ngất tầng cao nét chữ còn


 


Tiên tỉnh[20] bụi um, làn nước cạn


 


Đào nguyên mù tỏa, cánh hoa rờn


 


Khách chơi sơn thủy là ai đó


 


Có cảm tình không với nước non?


 


 


II


 


Có cảm tình không rứa hỡi ai?


 


Xuân thu trải biết mấy phen rồi


 


Nước nhăn mày với triều lên xuống


 


Non bạc đầu theo cảnh đổi thay


 


Kìa chốn lâm tuyền nay thị tỉnh


 


Nọ trường ca vũ trước thiên thai


 


Thợ trời thật lắm công phu nhỉ


 


Vẽ bức tang thương để mấy đời.


Đông phương, số 878, ngày 6-9-1933


 


KHÓC THANH NGUYÊN QUÂN[21]


 


I


 


Bể dâu biến đổi hết than rằng


 


Tơ tóc chia phôi trải mấy thân


 


Yến lạnh lầu không xuân lạt lẽo


 


Nguyệt tà gối chiếc bóng bâng khuâng


 


Cõi trời ly hận chia đôi ngả


 


Dòng nước tương tư trải mấy lần


 


Gây nỗi bất bình là tạo hóa


 


Hờn này bao thuở lấp cho bằng.


 


 


 


II


 


Đã hay sống gửi thác là về


 


Kẻ mất người còn dạ ủ ê


 


Đất bụi nỡ vùi duyên hãn mạc


 


Gió trăng đành phụ cảnh sơn khê[22]


 


Non thề bể hẹn thôi năn nỉ


 


Cúc ốm mai gầy luống tỉnh mê


 


Chợt nhớ năm nào thời tiết ấy


 


Cùng nhau xướng họa chốn xuân quê.


 


Đông phương, số 878 ngày 6-9-1933


 


CÂU ĐỐI ĐIẾU CỤ PHAN CHÂU TRINH[23]


·            Mấy mươi năm góc biển ven trời, vằng vặc tấm cô trung, trên vì nước, dưới vì dân, tinh thần vẫn láng lai sông núi Việt


 


·            Đã nhiều thuở khua chiêng gióng trống, thiết tha hồn cố quốc, trước hiệp lòng, sau hiệp sức, sự nghiệp đành phó thác cháu con Hồng.


 


CÂU ĐỐI TREO Ở HỘI QUÁN NỮ CÔNG HỌC HỘI[24]


·            Đạo đức sẵn nền xưa, Trung Nam Bắc dìu dắt chị em, xây đắp bồi thêm văn hiến cũ


 


·            Á Âu đương hội mới, công ngôn hạnh giữ gìn nền nếp, tập tành mong để lợi quyền chung.


 


(còn tiếp)


 


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.


 


www.trieuxuan.info



[1] Phúc Môn bá: tước hiệu của ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư Bộ Lại triều đìnhHuế.


 


[2] Lan Đình: tên đình ở Chiết Giang, nơi nhà thư pháp nổi tiếng Vương Hy Chi cùng bạn bè thường gặp gỡ để ngâm thơ, viết chữ.


 


[3] Lính tùng chinh: Lính người Việt bị đưa qua Pháp tham gia chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918.


 


[4] Ưng đại nhân: là cụ Ưng Dinh, sui gia của bà Đạm Phương.


 


[5] Sư bà Diệu Không, bạn của bà Đạm Phương, họa lại:


 


Vạn pháp bày ra ấy tự mình                Như đã gắng công mà niệm Phật


 


Bởi vì chấp pháp hóa mê tình              Thời đành quyết chí để thông kinh


 


Kể chi huyễn cảnh danh và lợi            Ở đâu là tịnh, đâu là uế


 


Vứt sạch trần duyên nhục với vinh      Phật độ trang nghiêm mấy kẻ giành.


 


[6] Trường Diệu Đức: trường đào tạo ni giới ở Huế.


 


[7] Triêng: gánh (tiếng địa phương).


 


[8] Ông Nguyễn Phùng, người huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An, nhà ở gần bể, gặp năm bão lụt rất lớn, nước bể tràn ra, nhân vật trôi cả, mẹ và con còn đương chạy tránh trong vùng nước. Ông Phùng vội vàng cõng mẹ già qua ngọn đồi mà tránh, quay lại cứu con thì không kịp nữa.


 


[9] Ông Nguyễn Xuân An người huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An. Mùa lúa đương gặt, hùm ra vồ mẹ giữa ruộng, ông lấy đòn xóc đánh cọp, cọp phải bỏ vào rừng. Người ta lấy sự hiếu cảm của ông mà cho rằng: “Hùm thiêng cũng phải nhượng” (Chú thích của tác giả).


 


[10] Miếng cam chỉ: miếng ngọt bùi, miếng ngon.


 


[11] Phân pho: phân trần.


 


[12] Cù lao: công cha mẹ nuôi nấng khó nhọc.


 


[13] Hảo hoàn: Trả lại một cách tốt đẹp.


 


[14] Não nồng: não nùng.


 


[15] Xuân thành: thành Phú Xuân, thành Huế.


 


[16] Hồ thỉ: Cung và tên; nghĩa bóng: chỉ chí khí người con trai.


 


[17] Công: có lẽ là canh, viết “công” để khỏi phạm húy (Bà Đạm Phương tên là Đồng Canh).


 


[18] Nhỏ to: tức vải nhỏ vải to (chú thích của tác giả).


 


[19] Núi Bàn A: còn gọi là núi Vồm, thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa; được coi là trung tâm của mười cảnh đẹp (thập thắng) xứ Thanh.


 


[20] Tiên tỉnh: giếng tiên.


 


[21] Thanh Nguyên Quân: là tên hiệu của ông Nguyễn Khoa Tùng, chồng bà Đạm Phương. Ông mất ngày 14-3-1932 (tức 8-2 Nhâm Thân).


 


[22] Thanh Nguyên ước hẹn sáu mươi tuổi thì lên làm nhà ở núi (Chú thích của tác giả).


 


[23] Bà Đạm Phương đã đọc đôi câu đối này trong Lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh tại Nam Giao, Huế (1926).


 


[24] Câu đối treo ở hội quán mừng lễ ra mắt Nữ Công học hội ngày 15-6-1926.


 


 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »