tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
23.08.2013
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (4)

BỔN PHẬN CON GÁI


Công, dung, ngôn, hạnh, bốn đức thường gồm: hiếu, nghĩa, trinh, thuận, tam tùng vẹn giữ. Thế là lời xưa dạy con gái phải nên giữ gìn tánh nết cho đoan trang, chăm lo tần tảo, phòng toan xuất cát nghi gia. Kinh Thi nói rằng: “Vô phi vô nghi trung quĩ, thị chi”[1], đều là phép dạy về mặt xướng tùy hết thảy.


 Đến bây giờ, phong trào thế giới, thời đại cạnh tranh, chẳng những tu mi nam tử nong nả mà thôi, trong đám quần thoa yếu đuối cũng đua chen, mong gánh vác một vai cùng xã hội. Xưa kia chỉ biết giúp đỡ đạo nhà, nay lại đặng dùng ra việc nước, hạnh phúc lớn vậy thay! Công giáo dục, đường tiến hóa hết lòng dạy bảo, phép văn minh, phương học vấn, ơn nước nhà ra sức tán thành, liễu bồ chút phận con con, rồng mây gặp hội, cũng mở mang mày mặt với giang sơn. Xem cái quang cảnh ngày nay thế nào, so với ngày trước thế nào, thời đủ thỏa lòng thích chí biết là bao nhiêu, nhưng trong sự thỏa lòng thích ý, vẫn thường thường hay sinh ra kiêu túng ngạo mạn, lung thói dở dang, lắm lúc bỏ quên thói nhà băng tuyết và thái độ của con người thục nữ, sinh tuồng xa xỉ, tự phụ duy tân; khi đi đứng, giọng nói cười, đều đổi ngay một cách.


 Than ôi! Cái nết là đánh chết cái đẹp, bực râu mày mà không có hạnh kiểm, còn chẳng ra gì, huống chi người khuê các sao nỡ học đòi thói vạy, sao cho phải?


 Vậy thời không gì quí bằng sẵn có nền nếp cũ, lại thêm tư tưởng mới, mỹ thuật mới, kỹ nghệ mới, ta nên điều hòa châm chước với nhau, điều hay nên thuộc, lẽ dở nên chừa, một mai làm vợ làm mẹ người, tự lương tâm mình hỏi mình có ưng con mình giống mình không? Tôi xin vô phép trả lời rằng: Không những là ưng con mình không giống mình, mà lại cũng không ưng lời thị phi can thiệp đến danh giá bổn phận nữa.


 Suy đó thời biết phương chi cái danh tiếng là một vật rất quí hóa thứ nhất trong đời, mà chẳng là một vật vô thượng cực phẩm, làm cho người đàn bà có giá trị biết là bao nhiêu.


Nghìn năm bia miệng hãy còn, dẫu khôn, dẫu dại, dẫu sang, dẫu hèn, cũng một kiếp người, chỉ có cái danh tiếng đứng đời mãi. Chị em ôi! Chúng ta nòi giống con rồng cháu tiên, sao cho nổi tiếng con nhà, trai anh tài gái cũng anh tài kém đâu, đừng nên tiếng dở về sau.


Hữu Thanh
Số 16, ra ngày 15
-3-1922; Mục Văn đàn bà


Chữ Trinh


Nghĩa chữ trinh thật có lắm điều quan hệ, cho nên những người con gái tuổi trẻ cần phải hiểu thấu mọi lẽ thiệt hơn. Sách có câu “Nữ tử tòng nhất nhi chung” nghĩa là người con gái trọn đời thờ một chồng mà thôi, nếu theo chồng thời tất cần phải có cái lòng trinh bạch; như thế mới giữ vẹn cái đạo tòng đặng.


 Kiều có câu: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”. Lại có câu: “Đã đem vào bậc bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”. Ôi! Chữ trinh quí hóa thay, làm thân con gái, lẽ nào không giữ gìn cho trọn vẹn, để đối lương tâm cho khỏi thẹn mặt là người làm vợ. Thế thời người đàn bà con gái đương lứa đào tơ liễu yếu thường ngày phải cẩn thận cho lắm, chăm gìn nết na, chớ nên xao lãng, khi ăn, khi nói, khi đi đứng đều phải noi theo thứ tự mà làm, phòng trước những điều xảy ra ngoài ý, mình không nghĩ đến mà ngẫu nhiên nó sẽ đưa đến cho mình. Và nên trước khi chưa vào đời, đã chỉnh sửa lần cái lòng tà tịch hay thiên mếch theo lời nói ngọt ngào quyến rũ rất hay ho mà làm hại đến luân thường đức hạnh, cần phải tránh xa mới xong. Muốn bảo tồn phẩm hạnh của mình, mà không phòng nhàn cái tính phóng đãng, ngăn ngừa các điều cười hoa, cợt nguyệt, sứ bướm, tin ong thời có khác gì ghét say mà gắng uống thêm rượu ru?


 Có người nói: tôi không ưa lời nói trái phép, mà tôi thích nghe những giọng thơ sầu xuân, cảm xuân, thế thời khó lắm. Người ta không phải là cỏ cây đá gỗ, làm sao cho khỏi những sự cảm xúc được, mà cái tình nam nữ cảm xúc mới rất mau, và những lời luyến ái mới là đằm thắm dễ nghe hơn hết, nếu những người con gái không cầm vững được lòng, là tất phải xiêu lạc theo. Cái sự cầm lòng cho vững, thời cũng khó, không bằng lánh trước là hơn. Bởi vậy nên đời xưa học theo sách Nho, thời phép khuê huấn dạy về người con gái rất nghiêm, ở nhà nương theo bà mẹ, rèn tập nữ công, thêu thùa khâu vá, cho có công việc mà làm, khỏi sự ăn nể ngồi không, thanh thiên tính nết. Vì người con gái bẩm chất yếu đuối, nhẹ dạ hay tin người, mà cái hạnh phúc suốt đời của người đàn bà, thời có nhiều nguyên nhân gây nên, nhưng chữ trinh tiết là nguyên nhân thứ nhất, lớn nhất, cần nhất, để cho rõ ràng chứng minh rằng: cái quả tim của người đàn bà là chỉ có trọn một niềm đối với người mà mình đã ký thác cái đời của mình cho người. Cho nên trong khi động phòng hoa chúc, dìu dặt chén mời, chữ tình càng nặng, chữ duyên càng nồng, là đều bởi những người con gái biết thủ bổn phận, mới làm nên danh giá cho đời mình được. Cha mẹ được trông thấy cái kết quả của con đã thành, gia thất đã nên, toại nguyện xiết bao, người con gái mong báo đáp cái ơn cúc dục cù lao, thời nên làm sự vui lòng cho cha mẹ. Kinh thi có câu: “Vô thiểm nhĩ sở sinh”, nghĩa là: chớ làm nhuốc đời này. Vậy thời tấm thân người con gái, cũng ví như cánh hoa thơm, hòn ngọc báu, dễ khiến cho người đời quí trọng, mà cũng dễ khiến cho người đời khinh bỉ lắm, khi hoa đương phong nhụy, ngọc còn đợi giá, quí biết ngần nào, thơm tho xiết bao, mà nếu đã để ngọc kia có vết, hoa nọ rời hương, thời còn nói làm chi nữa, thân nghìn vàng để ô danh má hồng.


 Nói đến đây, nhân tiện tôi cũng xin nhắc lại một vài câu chuyện xưa cho chị em nghe, cũng giúp được nhiều cái chứng cớ rõ ràng mà đem lòng cảnh giới về sau, cũng không phải là không có ích vậy.


 Kiều có câu: “Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương” thế là câu chuyện nàng Thôi Oanh Oanh, cùng chàng Trương Quân Thụy vậy, hai người là trang tài tử giai nhân, gặp nhau trong chùa Phổ Cứu, tình tứ triền miên, ái tình khi nào lại bỏ nhau đặng nữa. Khi thơ qua từ lại, não nồng nghìn muôn đoạn thảm tình thương, gắn bó có trăm chục vòng dây duyên mối nợ. Thế mà từ khi hai người xa cách nhau, thời lòng chàng nghĩ thầm người ấy tất không phải là người vợ của mình nữa, mới tệ cho chưa, bởi tại cớ sao vậy? Là vì chàng không tin lòng nàng Thôi Oanh Oanh; nếu tin nhau sao chàng lại đưa thơ của nàng cho người anh em bạn xem, lại nói rằng: nàng là một người con gái xinh đẹp tài tình, nghiêng thành chói nước, như mây như mưa, biến chuyển không thường, có lẽ nào trong khi vắng mặt nhau, mà lại không đổi lòng thay dạ được. Lấy một điều ban đầu đã thất hạnh mà suy ra các sự khác, làm cho nàng phải suốt đời ngậm sầu nuốt tủi, đoạn sau gả về nhà họ Trịnh, trông hoa đèn cũng thẹn mình lắm ru.


 Thế là nàng Thôi Oanh Oanh thất thân với người ta mà bị người ta bỏ, song không thiệt hại đến tính mạng, còn như nàng Hoắc Tiểu Ngọc, vì tình phải lụy đến thân, cướp công cha mẹ, thiệt đời xuân xanh nữa.


 Nguyên nàng Hoắc Tiểu Ngọc là con gái ông Hoắc Vương, tuy bà sinh ra nàng là kẻ thiếp dựng, nhưng cũng là sinh trưởng phú quí, chớ có phải con nhà hèn hạ chi đâu. Khi chàng Lý Thập Lang mến phương danh nàng, tìm người giới thiệu cho đến yết kiến bà mẹ nàng để cầu hôn, thời bà mẹ lại muốn cho hai người được trông thấy nhau, mà tự ý lựa chọn lấy. Lúc đó bà mẹ triệu nàng ra ngồi bên cạnh, lạ chi danh sĩ mỹ nhân, kẻ mến tài hoa, người chuộng nhan sắc, trong khi thấy nhau, mắt liếc đưa tình, miệng cười tỏ ý, làm cho cái lòng khuynh hướng của hai bên như keo sơn gắn bó, như chung đúc khối tình, chỉ núi thề sông, kết nguyền trăm tuổi. Thôi thời không cần lễ cưới hỏi, họ hàng chứng cứ chi nữa, trót đã yêu nhau, nghĩ thầm chắc sau cũng vàng thau sum họp, nên vợ nên chồng.


 Chàng Lý Thập Lang nguyên là một người khoa giáp xuất thân, đỗ tiến sĩ đời Đường, thanh danh lừng lẫy lắm; không bao lâu chi đó, chàng đặng bổ quan. Hồi đi phó nhiệm, từ biệt nàng Hoắc Tiểu Ngọc, lời trân trọng nỗi hàn huyên, còn thiếu chi là câu dặn dò căn vặn. Ngờ đâu lúc đi ngang tỉnh quê nhà, tiện dạo về thăm từ mẫu, bà mẹ lấy lời đoan chính hiểu dụ cho chàng biết lẽ phải lẽ trái, không nên say đắm theo những người con gái không có phẩm hạnh, dầu mặt hoa da ngọc đến bậc nào, là cũng một trò chơi, chớ phụ đức không có, là không cầm vững gia đạo nổi. Chàng Lý Thập Lang không dám trái lệnh bà mẹ, tuy có lòng thương tiếc nàng Hoắc Tiểu Ngọc nhưng cũng vì lời chính đáng mà sinh ra lần lần nguôi dạ.


 Sau nàng Hoắc Tiểu Ngọc được tin chàng có vợ rồi, biết là không lẽ gì tái hợp được nữa, mới nghĩ lại mà ăn năn, thương thân trách phận bùi ngùi, sinh ốm nặng, nằm liệt giường liệt chiếu hơn một năm trường, chỉ cầu cho mau chết. Những người trí thức biết chuyện ấy, đều lấy làm bất bình, bèn lập mưu lừa chàng, nhắc đến nhà nàng để hai người hội diện, họa chăng có thư bệnh tương tư cho nàng chút đỉnh. Nào hay nàng Hoắc Tiểu Ngọc được trông thấy tình lang, lại càng đau đớn như dần, khóc ngất một hồi mà từ chốn trần thế, thảm thay!


 Than ôi! Tài sắc bực này, mà vì cái dây tình oan nghiệp kia, nên nỗi ngọc nát châu chìm khả thương, tưởng trong thiên hạ đã có mấy người cảnh ngộ như nàng. Duyên gặp gỡ không phải là không lựa chọn kẻ xứng đáng, chỉ duy thiếu một chút trinh tiết, đương sơ lay lất mà gặp, sau nên mới lay lất mà bỏ nhau đặng, chớ nếu đã có danh chính ngôn thuận, lệnh mẹ cha, lời môi chước, thời dầu người kia có phụ tình, mà mình cũng vẫn giữ được cái tiếng là người trinh tiết vậy.


 Tuy chuyện nàng Thôi Oanh Oanh cùng nàng Tiểu Ngọc, cảnh ngộ có khác nhau, một người chịu nhẫn nhục mà lấy chồng khác, thời không kể làm chi, chớ một người đành phận, trót đã đa mang lấy chữ tình trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai, mà nào có danh giá gì đâu. Đời sau người ta cũng cho là một tiếng bất trinh, cho nên mới sinh ra nông nỗi như vậy. Những người khuê các, nên trông cái gương to mà răn sợ. Không ai làm danh giá cho mình, hơn là tự mình làm lấy danh giá cho mình, dầu cha mẹ sinh con, nhưng không thể sửa lòng cho con, bằng tự con sửa lấy tấm lòng của con hơn hết.


 Người đàn bà mà phải giữ có chữ trinh, là cũng như người đàn ông phải giữ có chữ trung vậy.


 Trung trinh hai chữ ngang nhau.


Hữu Thanh, số 17 ngày 1-4-1922


Cái cảm tưởng của nữ giới đối với Ích hữu Thư xã


Chị em chúng ta đã được hạnh phúc sinh trưởng vào cái thời đại văn minh tiến hóa này, về đường giáo dục học thức, tuy chưa dám so sánh với ai, song tự nghĩ thầm cùng nhau, thời cũng đã có nhiều phần vẻ vang hơn trước. Mà cái kết quả tương lai, thật còn lắm cơ hy vọng được nữa, vì càng ngày càng thấy mở mang rộng ra, trên thời hiện đương chấn chỉnh học giới, nữ học đường lập ra khắp cả mọi nơi; dưới thời đồng bào, những nhà có tâm huyết nhiệt thành cùng xã hội, nay mong lập hội này mai mong lập hội khác. Biết bao nhiêu hội đã thành lập mà chủ nghĩa đều khuynh hướng vào sự ích quốc lợi dân. Nếu con đường sinh hoạt của xã hội tương lai phát đạt thịnh vượng mãi lên, thời há chẳng ảnh hưởng đến bên nữ giới mình hay sao? Bởi thế cho nên chúng ta thấy bấy nhiêu quang cảnh mà thực cũng nên thỏa lòng vui dạ vậy. Mừng cho xã hội, nghĩa là mừng cho mình; mình tức là xã hội, xã hội tức là minh, vì mình nhờ có xã hội tốt mới nên danh giá cho mình, mà xã hội cũng nhờ danh có mình mới vững bền được, nên chi người ta làm việc gì mà có lợi ích chung, nhiên hậu mới có lợi ích riêng vậy.


 Nay hội Công thương đồng nghiệp ở Bắc kỳ là một hội lớn, và có thế lực, tiếng thơm lừng lẫy trong ba kỳ, ai ai cũng tầng đọc đến báo, đến tạp chí Hữu Thanh, là hiểu cái tôn chỉ của hội đó, lớn lao danh giá biết dường nào! Gần đây hội lại có giấy chiêu cổ phần, để thiết lập cuộc Ích hữu thư xã cho xong.


 Ích hữu thư xã, bốn chữ quí hóa thay! Lại mượn tiếng chim oanh gọi bạn là tạp chí Hữu Thanh để diễn giải cái chủ nghĩa hữu ái khiến cho người nghe mà sanh lòng hoan nghênh. Không những quốc dân đã đồng thanh tán thưởng cái chủ nghĩa ấy, mà đều về đường nữ giới cũng đã có thấy rải rác những danh hiệu các bà các cô, đều vui lòng tán trợ cùng mong cho cuộc Ích hữu thư xã chóng thành lập; ấy đó, mới biết cái nghĩa hữu ái là có công hiệu như thế. Xưa nay chị em chúng ta chỉ biết lấy sự tán trợ ích lợi trong gia đình, mà nay lại hiểu thấu thêm được lẽ công ích công lợi cùng xã hội; thế thời cái phong trào tiến hóa nghe như đã tràn khắp mọi nơi, mà sự giáo dục học thức của chị em mình cũng hình như đã có thông đạt được đôi chút, mới gây nên mối tư tưởng cao xa ra một tầng nữa đó, mà nhứt sơ mới ra tỏ mặt cùng đời lại dắt díu nhau cùng khuynh hướng vào cái chủ nghĩa hữu ái để thiết lập thư xã. Vậy thời cái may xưa mới mở mối hàng ra, mà rất tươi tốt chính đáng biết là bao. Ôi! Cái nghĩa làm sao mà cần phải có thiết lập thư xã, là bởi vì hiện thời, sự học trong nước có ba thứ chữ rất quan hệ với nhau, cái hạt giống văn minh đã gieo xuống cõi đất nào, chắc là có ngày được sinh hoa kết quả, vậy thời sự học chữ Pháp không cần nói, mà ai ai cũng đã hiểu thấu, muốn cho tri thức dồi dào, phi học thuật Thái Tây không còn đâu hơn nữa. Thế mà sự học cũng tốn nhiều công trình, mười lăm năm mới thông đạt được.


 Người mình không thể ai ai cũng học được đến nơi đến chốn như thế cả, đàn ông đã thế, huống chi đàn bà lại càng ít kẻ theo kịp, trong trăm phần mà được năm ba phần, thời đã thấm chi. Vả lại cái nền phong hóa giáo dục của nước ta, từ bao giờ đến bây giờ, chỉ chuyên trọng về đường đạo đức, thuần nhiên lấy Hán học làm mô phạm, đã sâu vào trí não người mình lâu lắm; nay không thể chốc lát mà bỏ đi được. Coi như các trường nhà nước dạy học cũng phải còn lưu lại một ít chương trình về chữ Hán đó thì biết cái lẽ phong tục đã quen, mà đạo đức học vấn không đến nỗi hại gì sự tiến hóa cả. Lấy đó mà xét, thời đủ biết sự học chữ Hán cũng còn lợi ích, mà nhứt là về trong đạo gia đình, cương thường luân lý từ đó mà ra, nên phép giáo dục thi hành, tất phải điều hòa châm chước nó lại, mà cần nhất cho giản dị dễ đọc dễ hiểu, dầu thôn quê phụ nhụ[2] mà thẩy được thấm khắp, thời chi cho bằng dịch các sách vở ra chữ quốc ngữ, một người đọc năm bẩy người nghe, chẳng là ích lợi lắm ru? Ấy đó là lẽ thư xã tất phải có, mà cần phải có sớm lên bao nhiêu thời đường trí thức càng chóng tiến bộ lên bấy nhiêu. Người đã thâm Tây học thời đem những nghĩa lý văn minh mà dịch thành một lối văn chương trí hóa, người đã thông Hán học, thời lại đem những đạo lý cương thường mà phiên dịch ra một lối văn chương đức hóa, hoặc soạn thêm những bộ thuộc về giáo dục, thuộc về văn chương khoa học, đều lấy nền quốc văn mà phô diễn thành sách vở, khiến cho người chỉ có công học quốc ngữ trong đôi ba năm, mà cũng được thông hiểu đạo lý Tây học và Hán học vậy


 Phương chi đã nói đến quốc văn có ích lợi thời phải tô bồi cho nền quốc văn mà hiện thời cần nhứt, thiết nhứt là những bộ tự vựng, tự điển bằng quốc văn. Lâu nay các nhà văn sĩ đã từng bàn bạc về các vấn đề đó, nhưng việc làm cho thành hai bộ ấy, tất cũng phiền phức mất lắm công phu. Nếu có cuộc thư xã, có tư bản cho lớn và hợp những người thông thái trong ba kỳ lại, tiếng nói mới thống nhứt được, mới có thể làm nổi. Vả lại làm nên bộ tự điển, tự vựng còn phải gồm đủ ba thứ chữ: quốc ngữ, chữ Tây cùng một ít chữ Hán, vì trong tiếng nói của người mình, khi nào cũng có pha chữ Hán. Nếu có làm tất phải như thế, để cho người thông về mặt chữ nào cũng tiện bề khảo cứu, ngoài ra nữa thời cũng còn nhiều sách vở đáng làm, như thiên thời, địa lợi, thổ nghi, sản vật, công thương, kỹ nghệ, nhân tình, phong tục...


 Nói tóm lại, nhứt nhứt đều cần phải làm thành sách quốc ngữ cho người trong nước hiểu rõ cái căn bản của mình là thế, dầu người nào có lợi dụng ra việc gì, cũng nhân đó mà phát minh thêm ý kiến mới lạ lại càng hay; bao nhiêu nghĩa lý thuộc về sự thiết lập thư xã, chính người hội dựng nên thư xã cũng đã nghĩ như thế, mà người hoan nghênh thư xã cũng nên biết là có ích lợi như vậy, nhiên hậu cái lòng khuynh hướng vào đó mới được vững bền hăng hái vậy. Về hàng chị em mình xưa nay cũng vẫn có tiếng giàu tấm lòng làm việc phải, song hiềm vì ở đời chưa có mấy người chịu công nhận cho cái lòng chính đáng ấy, mà cho dự tên vào cùng các hội làm việc công ích. Chớ như nay hội Ích hữu thư xã này, là lấy chủ nghĩa hữu ái mà khuyến khích đồng bào trong Nam ngoài Bắc, không hạn đàn ông đàn bà, ai ai cũng có thể được vào hội, được góp cổ phần mà làm sự ích lợi chung, ấy là một cái cơ hội rất tốt cho chúng ta. Nếu đã góp tiền, góp công cùng hội, trước là được một phần danh dự đối với đời, không thẹn mặt quần thoa, sau là thâu được một cái cái mối cảm tình liên lạc chị em người trong ba xứ như một nhà; dầu ai có một cái tài năng gì, cũng nên đem ra bàn tính hơn thiệt cùng nhau, để cho trí thức ngày càng thêm tăng tiến, há chẳng hay lắm ru? Mà những bậc tu mi cũng phải công nhận cho là kẻ thức thời vụ vậy.


Hữu Thanh số 20, ra ngày 15-5-1922


Mục Văn đàn bà


Phụ nhơn công nghệ


Chị em ta đã biết rằng: ngày nay tất cả phải có công nghệ mới sinh tồn, cho nên ôm quyển sách mà đi học, là cũng mong cho có kiến thức mở mang, tùy theo tư cách mình để mà chọn lấy nghề nghiệp làm ăn. Nhưng không chắc ai ai cũng đeo đuổi được cái mục đích của sự học, mà hưởng quyền lợi về lương bổng của nhà nước hết thảy. Những hạng người nhà không đủ tư bản cho con ăn học, cùng người con không đủ tư cách mà học, thời đều không có kết quả về sự học đặng.


 Song đã có công theo đòi bút nghiên trong năm ba năm, là cũng có mở rộng tư tưởng cho mình được nhiều ít, dầu không làm nghề nầy, tất cũng xoay qua việc khác, cốt làm sao cho có một nghề nghiệp về tay, để nuôi sống cái thân suốt đời, khỏi phụ công ơn cha mẹ đã chăm nuôi nấng, lo cho học tập bấy nhiêu lâu. Con người ta đã sinh vào đời không có lẽ như túi cơm giá áo, tất phải có sự nghiệp đối với đời, mới thỏa thích cho; vả lại nghề nghiệp là cái động lực của giữa đời, mà sự học hành là tinh thần gây dựng cho nghề nghiệp, tất cần phải học hành.


 Nay xét nghề nghiệp trong nước như các nghề thuộc về nữ công cần dùng, là việc chăn tằm, ươm tơ, thêu dệt là lớn, mà học cho thành nghề cũng mất nhiều tư bản, mới có thể nhờ đó mà gây nên giàu có. Còn các nghề nhỏ như may, khâu, bánh trái, đồ ăn là thường, từng có nhiều người biết, nhưng khéo cũng khó. Nay muốn giải nghĩa trong một món dệt là phải đủ các kiểu cách: hàng chìm, hàng nổi, hoặc hoa ướt, hoa khô, lương, sa, lụa, lãnh, nhiễu, đoạn, sô, là, trăm thức trăm khác; cho đến vải, bố, thao, đũi, hết thảy có dựng thành công xưởng thời học nghề mới có giá trị, chớ rải rác từng nơi, ai làm được bao nhiêu bán bấy nhiêu, đã nhẹ giá mà chắc là cũng không tinh xảo được. Đến như nghề thêu cũng vậy, đã học thêu tất phải học vẽ trước, để họa mẫu đặt lên khung thêu mới theo khuôn vừa khổ đặng. Thêu có cách nổi, phải độn giây vải hay là bông vải; có cách chìm, phải tước chỉ thêu ra cho nhỏ mà thêu, mới liền mối mịn màng như bức hàng dệt vậy. Thêu chỉ không dám dùng chính sắc toàn dùng đạm bạc sắc, xem mới nhã mà linh động biết bao nhiêu. Nghề thêu thật là một nghề khó lắm, có hai cách thêu khác nhau: một cách thêu tay cầm tấm hàng mà tự thêu; một cách mắc lên khung gỗ hoặc khung tre, như coi cho kỹ, nghiệm cho tinh, biết cách thêu bằng khung thường lợi công hơn thêu tay, mà thêu tay thời tiện một nỗi, là đi đâu ngồi đâu cũng đều làm được, chớ thêu khung thời phải dùng có chỗ có nơi mà thôi. Nghề thêu dệt thật xinh đẹp dịu dàng, hợp tư cách người đàn bà con gái lắm, trong chốn các tía lầu hồng nhởn nhơ, ngắm mẫu hoa thức bướm; thêu rồng dệt phụng, nhìn theo đường chỉ mối kim, ngồi mà dệt thêu đã tập được cái tính tịch mịch hòa nhã, lại luyện nên cái nghề nghiệp xứng đáng cho mình. Con gái nhà danh giá, thường thích việc nhẹ nhàng, nếu không học thêu dệt thời không có nghề gì xứng đáng bằng.


 Nhưng hiềm vì các nghề ấy, xưa nay thuộc về nữ công, mà nữ giới chúng ta đã lâu ngày, không ai công nhận đến nữa, cho nên các nghề ấy lại thuộc về nam giới có người trưng lãnh hết. Bởi vậy mà quyền lợi của nữ giới công nghệ, ngày một tiêu ma lần hết, khá tiếc thay.


 So sánh với nghề nghiệp, thời văn chương khó gấp mấy mươi phần, mà các chị em còn theo đòi kịp người, huống chi sự học tập nghề nghiệp, phần nhiều dùng sức hơn là dùng trí, thời có khó gì mà không làm được. Đến như những nghề chạm, nghề cẩn, nghề vẽ, thuộc về mấy nghề tinh tế, có thể dám chắc đàn bà con gái cũng học được nữa. Tùy theo nhà cha anh đã làm, thời cũng nên dạy con gái, em gái học cũng không phải là không lợi ích; cần gì phải cần học nghề của người khác mà không thành công thời cũng vô dụng, miễn sao cho biết trọng nghề nghiệp, thì nghề gì cũng là nghề. Tôi đã từng thấy có người đàn bà chạm đồ vàng đồ bạc, xem cách thức làm, cũng lanh lẹ mà có ý tinh tế, kỹ lưỡng hơn; nếu thực hành mà dạy vẽ cho cả mọi người con nhà làm nghề, không lấy con trai con gái mà phân biệt, chắc cái kết quả tương lai không thể đo lường được.


 Trong xã hội, những người có nhiệt thành tâm huyết mong cho cuộc tiến hóa mau được vẻ vang, vẫn thường than thở về đường nữ giới giáo dục hiện còn khuyết điểm, công nghệ hiện còn sinh sơ. Lại thêm lời dư luận hàng ngày chỉ trích những người đàn bà vô nghệ là tại phần không có định nghiệp mà sinh ra cả. Đã không có định nghiệp tất không có hằng sản, đã không có hằng sản tất không có hằng tâm, xin xét lại kỹ có phải bởi một lẽ thất giáo mà ra chăng? Nếu những bậc phụ huynh trong một nhà, biết phương giáo dục cho hợp thời, đúng cái trình độ buổi văn minh đời bây giờ, cần phải có sinh kế làm đầu, trong khi người con gái đương trẻ, nên xét theo tư cách mà dạy, đáng theo nghề văn chương thời cho học văn chương, đáng theo nghề nghiệp thời cho theo tập nghề nghiệp, văn chương với nghề nghiệp cũng vậy; không phải văn chương là trọng, mà nghề nghiệp là khinh. Sách có câu: “Nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh”; lại có câu: “Túng hữu lương điền vạn khoảnh, bất như bạc nghệ tùy thân”[3]. Nên chi chẳng cứ là người nào cũng nên biết nghề nghiệp hết thảy, không những kẻ nghèo đã cần có nghề nghiệp mà làm ăn đã đành phận, dầu kẻ sang lại càng học tập công nghệ cho lắm, vì mấy người ấy mới có đủ tư bản, và tư cách chấn hưng lên được nhiều mối lợi lớn, mà trong xã hội tất là trông mong về các bậc đó. Những người đàn bà mà biết có nghề nghiệp trong tay, thường thường hay chăm lo công việc đã làm, khỏi sự nhàn du lãng phí, nhờ ở nghề nghiệp mới sinh ra tính tiết kiệm đặng.


 Song le, từ xưa đến nay người đàn bà hay có tính ỷ lại, mà hiếm hoi về cái tính tự lập vì thế nên phàm làm việc ít được quả quyết; khi nào làm, người đàn bà cũng cậy có sức người đàn ông tán trợ cho, mới thành danh nổi. Nếu sự công nghệ học thức này, mà không có nương tựa theo người đàn ông đề xướng cho, thời không bao giờ người đàn bà tự mưu lấy đặng, làm sao cũng phải có kẻ dìu dắt mới hăng hái mà làm. Vậy thời những bậc yêu nòi thương giống là các bậc thượng lưu là ai? Xin mau ra tay chấn chỉnh việc học tập về đường công nghệ cho bên nữ giới một phần, ngõ hầu có định nghiệp, để gây nên cái hạnh phúc cho bọn yếu ớt chăng? Mà cuộc tiến hóa trong xã hội cũng nhân sự cạnh tranh nhau mới bổ cứu được nhiều sự khuyết điểm vậy. Mong rằng mỗi tỉnh sẽ được năm bảy trường công nghệ thuộc về đàn bà con gái học tập, sau này họ tự coi với nhau mà tỷ nghĩ[4] ra, thời không còn ai dám du thủ du thực nữa, vì đàn bà con gái đã có nghề nghiệp tất là đàn ông con trai phải đua tranh cho hơn, chớ không lẽ chịu thua kém, công nghệ tự nhiên phải hưng khởi, phải khoáng trương; người trong nước phải nong nả xô đẩy nhau vào trường kinh tế, không lẽ còn đợi đến bao giờ.


 Có người nói rằng: Hiện thời giáo dục nam giới còn chưa bổ cứu cho hoàn toàn đặng, huống rảnh công đâu lo kịp đến bên nữ giới.


 Than ôi! Khi trước thuộc về cái thời đại bế quan, thời khác với cái thời đại khai thông bây giờ; cái đời này đã gọi rằng cái đời ai ai cũng được hô hấp cái không khí văn minh; coi như nữ giới các nước bên Âu Mỹ đều có học thức về đường kinh tế, về đường công nghệ, mỹ thuật, văn chương, lừng lẫy sáng suốt biết bao. Thời chúng ta cũng phải đem cái học thức của mình mà dìu dắt nhau lên, chớ lẽ nào cứ khư khư giữ lấy cũ mãi, công nghệ không có học thức hèn kém, trách nào chẳng phẩm giá hư hỏng; để cho phẩm giá đến hư hỏng, mà không tìm phương bổ cứu lại, thời than thở nào có ích gì?


 Có người nói đàn bà ta làm gì bì với đàn bà Âu Mỹ mà cũng mong bắt chước cái địa vị ấy. Ô hay! Bởi vì không đặng mới phải học, có học thời có lần mà bước đến cái địa vị ấy, ví như muốn lên cái thang lầu ba mươi cấp, thời trước phải lần lượt mấy cấp dưới đã, rồi mới tiến lên cấp tối cao. Dẫu phép học tập cũng vậy, phải tuần tự mà tiến, lâu ngày mới kiến hiệu đặng. Chớ nếu lấy việc hiện thời mà bì ngay đi, thời nam giới cũng chưa được mấy người bằng Âu Mỹ huống hồ là bọn chị em chúng ta. Cái đó những kẻ cao minh quân tử tất có lượng xét cho. Hữu Thanh


 Số 21, ngày 1-6-1922; Mục Văn đàn bà


 Sự làm phúc


Làm phúc nghĩa là làm điều lành, như tô tượng đúc chuông, chẩn bần, tuất lão, tật bệnh tương cứu, hoạn nạn tương phò, thế là người đời gọi biết cách làm phúc đó. Vậy thời người làm phúc phải có dư dụ[5] mới khởi xướng nổi mấy việc ấy, còn như người không sẵn tiền của thời có lẽ gì làm phúc đặng không? Tưởng cũng nên bàn qua các lẽ như sau nầy, để cho rộng tư tưởng ra, phòng khi nào người gặp cảnh ngộ nào, cũng làm đặng trọn vẹn cái nghĩa làm phúc.


 Ôi! người ta sinh ra trong đời, thân thế thuận nghịch có kẻ hơn người kém, bĩ thái tuần hoàn, khi vinh khi nhục, mà sự giúp đỡ lẫn nhau, chính là nhờ khi nghèo ngặt nguy cấp ấy, mới gọi là có lòng yêu nòi chuộng giống biết thương đồng loại, biết thể cái lòng hiếu sinh chi đức của thượng đế. Mà tạo hóa đã sinh người thời khi nào ai ai cũng có cái lòng lương thiện cả, như là nghe ai làm chuyện hiếu chuyện nghĩa, thời mừng thời vui, mà nghe ai làm việc ác việc độc, thời ghét thời giận, thế là cái lương tâm phát hiện ra đó. Trong kinh Phật có câu: “Chúng sinh giai hữu Phật tính”, lại sách nho cũng có câu: “Nhơn chi sơ, tính bổn thiện”, chỉ vì sau nầy cái tính ham muốn lợi danh cạnh tranh thái quá, cho nên vật dục nó ám muội mất cái lòng trong trẻo kia, thời khó cái sự làm phúc cho chân thành. Làm phúc mà làm tự trong cái lương tâm của mình, chớ không vì nhơn dục cầu phúc mà làm phúc, thời người nào cũng làm được không cứ sự giầu nghèo. Như là trong khi đi qua đường, thấy sự rủi ro nhà người bị hỏa tai, xông vào cứu chữa, thầy người đàn bà sinh sản lỡ làng, quạnh hiu không có ai, thời ra sức dìu dắt người ta vào sở dưỡng bệnh điều trị, ngộ kẻ mù quáng nghiêng ngửa, trẻ con thất lạc, cùng hết thảy các việc cấp nạn của người đời, mà có thể đem công giúp sức được cho người, thời bất hạn người nào, giầu hay nghèo đều làm được việc phúc ấy cả. Làm như thế mới gọi là làm phúc tự lương tâm của con người ta, khi nào còn mong ai trả ơn lại nữa. Ước gì trong xã hội ai ai cũng giữ được cái lòng làm phúc chơn thành như thế, còn lo gì phong tục không thuần mỹ, đạo đức đến suy đồi, mà kẻ nghèo có khó chi mà lại không làm đặng, chỉ sợ cái lòng không muốn làm việc phải mà thôi.


 Duy có một lẽ như người làm phúc mà phải cần đến tiền của, thời mới trương la[6] nhiều việc xứng đáng, làm đình, làm chùa, ấn tống kinh văn, phóng sinh bố thí, là thuộc về sự trọng tôn giáo mà làm, hoặc xây cầu đắp đường, cho hành nhân tiện sự vãng lai, ấy cũng là có nhiệt thành với sự công ích mà làm. Nhưng mấy điều đó, mà phát tâm cho chơn thành, làm ra mà dốc một lòng bổ cứu cho đạo đức, ảnh hưởng đến phong tục, còn gì quí hóa bằng. Chỉ hiềm cái lòng người thường từ bao giờ vẫn khăng khăng về sự báo ứng, làm phúc mà hình như buôn bán, như vay trả, chủ tâm có cầu việc gì, nhiên hậu mới xướng lên việc làm phúc, chớ bình thường vô sự thời không quan thiết đến bao giờ. Mà sự cầu báo ứng, thời mong rằng, quan sang, lắm của, nhiều con, sống lâu, khỏe mạnh, trong cái ngũ cầu ấy, toàn thuộc có lợi cho mình cả, chớ ngoài ra mà không cầu sự chi, thời không có mấy người chịu đem tiền của mà làm những điều ích lợi cho ai, như là lập trường học, dựng nhà bảo sản, nhà dục anh, là điều làm phúc to hơn hết, mà lại có danh dự với đời mãi mãi; chưa từng thấy các bà, các cô trong bọn chị em mình, ai là người đứng xướng lên làm những phúc đức chung cộng đó vậy. Xem như đàn bà các nước, thời đã nhiều người giàu cái lòng làm phúc như thế, rất có lực lượng, như quyên hàng nghìn bạc cho nhà nuôi con côi, tự lập ra nhà bịnh viện để cứu giúp mọi người, vì nước mà thí thân làm công việc bảo hộ cho kẻ binh sĩ trong buổi chiến tranh, lại sự giáo dục tương lai của nhơn loại mà sẽ kết thành đoàn thể, thiết lập Học hội Thư xã, ấy có phải là một sự làm phúc đó chăng?


 Mà sự làm phúc như vậy công đức biết bao nhiêu. Tuy cái trình độ trí thức của chị em mình chưa dám so sánh với người ta được, nhưng mà đã học đòi văn chương phong hóa mới, thời nghĩ cũng nên bắt chước lần theo cái mỹ tục của người, lần lần rồi cũng có ngày hoàn toàn cái tư cách ấy đặng, nếu ta cứ nghi ngại sợ lệnh mãi, đành chịu thấp kém không mong thay đổi thời sự học của ta cũng vô ích đó mà thôi.


 Cho nên những người chỉ biết điều hay của người ta mà khen ngợi khoa trương luôn, còn tự mình không chấn hưng lên được chút nào, dầu cái hay của người đến đâu, nào có lợi gì cho mình, mà cái tính nhút nhát của mình lại thành ra đê liệt mau quá, không thể cứu vớt lại được! Chung qui cũng là nô lệ cho kẻ thắng tiến.


 Hằng ngày dư luận nói rằng: cái tính người An Nam mình hay bắt chước, thế thời cái tính ấy hay hay là dở? Thưa rằng: muôn việc học hành, tập luyện đều thuộc về tài trí kiến thức, mà tài trí kiến thức bắt chước người ta, nghĩa là học dò, bắt chước là một cái linh tính tối hảo. Bao nhiêu sự tiến hóa trong thế gian, không lấy nơi bắt chước thời lấy đâu mở mang xưởng máy này, công cuộc nọ, người này phát minh ra, kẻ khác nghiên cứu lại, nhơn đó mà châm chước khôn khéo học lẫn nhau, sự bắt chước điều hay là không hại gì, mà chị em mình phải đắn đo lo nghĩ không dám bước tới chỗ bắt chước ấy.


 Khi trước ta cũng đã sẵn cái lòng hâm mộ đạo đức, mà sùng thượng những sự làm phúc, biết bao nhiêu bà đã có tên ghi làm hội chủ đền nọ chùa kia, quí hóa thay cái thiện nguyện ấy, nhưng còn thiếu cái nghĩa vụ đối với xã hội, làm hết bổn phận của sự làm phúc cho ích lợi công chúng hiện thời. Đến nay đương buổi quốc dân nhao nhao cầu sự tiến hóa mở mang, thời trong xã hội không hạn đàn ông đàn bà, ai ai cũng nên chen vai gánh vác với nhau mới là. Muốn cho chủng tộc đặng đông nhiều, mạnh dạn, thời phải thêm nhà bảo sản, nhà dục anh. Muốn cho phong tục đặng thuần mỹ lương thiện cần có nhiều sách vở, đạo nghĩa, luân lý, bồi đắp cho nền giáo dục. Muốn cho quốc dân đặng giầu đủ, cần có nhiều công xưởng, thương hội, ngày một tăng thêm, thời cái kết quả rất viên mãn lắm vậy. Mà những việc như thế, cốt có nhiều tư bản dùm giúp lại, một cây xây nổi thành non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, khi thành tựu quả phúc thời có khác gì đúc quả chuông đồng thanh mà góp tinh thành của nhà thiện nam tín nữ lại vậy. Sự làm phúc đã nên cao thượng thay! Chúng ta há chẳng nên sốt sắng lắm ru?


Hữu Thanh.  Số 22, ngày 15-6- 922; Mục Văn đàn bà


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.


www.trieuxuan.info







[1] Nghĩa là người con gái không bàn hơn thiệt mà chính là giữ nền nếp trong nhà.




[2] Phụ nhụ: tức phụ nhũ, chỉ đàn bà và trẻ em.




[3] Nghĩa là cho dù có vạn khoảnh ruộng tốt, cũng không bằng có một nghề mọn tùy thân.




[4] Tỷ nghĩ: so sánh mà bắt chước nhau.




[5] Dư dụ: có của cải dồi dào.




[6] Trương la: giăng lưới, có nghĩa mở ra khả năng.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »