tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
08.04.2014
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (8)

LƯỢC KHẢO VỀ TUỒNG HÁT AN NAM


 Điệu “hát bội” nguyên là “Chiêm thành âm”. Tuồng hát nguyên là thoát thai trong các bản tiểu thuyết của Tàu mà ra, nhưng có âm luật. Điệu hát có nhiều cách, như là “nam xướng”, là hát nam; “bắc xướng” là hát khách; lại có xướng bạch, thán, vãn, hường tán, nói lối, ngâm, lý v.v... song câu nói lối thời như cách tản văn mà phải hợp vận đúng điệu; câu hường tán thời không đúng vận, thuộc về câu chua con giải nghĩa.


 Tuy điệu hát của ta phổ theo lối hát Tàu, mà có chỗ phải tăng bổ thêm cho đúng tiết tấu nam khách nhạc bộ của mình, chớ lớp tuồng Tàu thời chỉ lấy các khúc từ điệu mà diễn, diễn các cổ tích như bản kịch Tỳ bà ký, Tây sương, Mẫu đơn đình, Đào hoa phiến, đó là toàn vở tuồng Tàu hết thảy. Hát Tàu có: sinh, dáng, tịnh, sửu, mạc; hát ta có: kép, đào, lão, tướng, bông lơn, chạy hiệu v.v...


 Nghề hát khởi thủy từ đâu, không thấy lịch sử nói đến; nhưng xét ra từ nhà Trần đã có những cách hát như là bạn hát phường chèo cũng mỉa mai như cách hát bội. Tôi lại có nghe các ngài tiền bối thuật chuyện lại rằng hồi trước đức Trần Hưng Đạo đánh giặc Tàu thắng trận, có bắt được một bạn con hát của chúng đem theo trong quân, dẫn về bắt dạy cách hát lại cho bạn hát của mình, vì thế mà y phục thời giống kiểu hát Tàu, mà bài bản câu hát lại là của bản xứ thanh âm. Đến khi lưu nhập Trung kỳ thời các tỉnh đường trong như Bình Định, Quảng Nghĩa lại thịnh hành về lối hát kể vè, vãn, như: Mã long, Mã phụng, Bạch viên, v.v… chớ không sửa lớp tuồng như bây giờ.


 Từ hồi bản triều định hình cõi Nam, mới chế lễ tác nhạc, bày ra những khúc “thài”, “xướng”, “tán”, “tấu phụng”, “phẩm nghi” để khi thiên thu khánh tiết yến diên mà diễn các thứ hí kịch ấy tấn tửu chúc thọ, cách hát có lối “bắt bài bông”, múa “bát tiên quá hải”, múa “bát dật”, múa “trinh tường”, múa “tứ linh”, múa “phước lộc thọ”, từ đó nghề hát thay đổi đã nhiều, gồm đủ các lối múa hát, mới thành ra một lối hát hoàn toàn.


 Tục truyền ngày xưa có hai vị hoàng tử mới năm sáu tuổi, ham mê về điệu hát bội lắm, mỗi khi trong nội đình có yến diên  diễn kịch, thời hai anh em mảng ham xem hát quên cả bữa ăn uống. Một hôm ẩn mình trong bức trướng hát không ai biết, kịp đến khi bãi chầu tan hát, thị vệ nữ quan tìm kiếm khắp các nơi không có, sau bọn con hát dọn buồng, mới thấy hai anh em ôm nhau ngồi sững dưới ghế hương trác, thần sắc tán loạn, cử động không biết gì, mới tâu lên vua, thương tiếc không cùng, truyền đem hậu táng. Bọn con hát cảm niệm cái lòng quyến cố của hai vị trong lúc sinh tiền, mới phụng thờ làm Tổ, hàng ngày hát các rạp đâu cũng thỉnh bàn thờ đi theo. Bây giờ gọi là ông Làng hát bội vậy. Có người nói rằng: ông Làng tức là ông Hoàng mà tiếng nói sai, người thời nói ông Hoàng Anh tên là Đàng, song không thấy sử sách chép lại, không rõ thuộc về thời đại nào, tổng chi cũng là chuyện mơ hồ không lấy gì làm đích xác cho lắm. Thế mà lấy thực sự mà chứng, thời hiện nay các rạp hát vẫn sùng hai vị tượng người con trẻ, mặc áo lá tua, cổ mang kiềng vàng khánh vàng; còn phải chẳng phải, giả chân làm sao, hãy xin các nhà khảo cổ minh cứu sẽ bổ thêm. Đây tôi lại xin nói qua về các lối tuồng hát.


 Văn chương tuồng hát là một lối văn chương đặc biệt của người An Nam mình. Tuy lột nếp Tàu mà thực không giống Tàu, có cái tôn chỉ huyền diệu linh động lạ thường, thực một lối văn chương kỳ tuyệt diệu tuyệt, không phải mọi người ai ai học thông văn thạo, thời đặt nổi tuồng hát được hết thảy đâu; người đặt tuồng hát cần phải thẩm âm luật, lại hiểu thấu nhân tình thế thái, trong xã hội bao nhiêu điều hay điều dở toàn mô tả cho ra, nghề nào, nghiệp nào phải diễn giải cho rõ, cho đến sự ly kỳ quái trạng kỳ hình, xuất một vô thường, địa ngục thiên đường, cửu lưu tam giáo, vạn vật vạn cảnh; ngộ đến câu nói thuộc về thân thế người trung thần hiếu tử, thời tả thế nào cho ra trung thần hiếu tử, ngộ đến câu đứa ngỗ nghịch phản bạn, cũng phải lấy lời ngỗ nghịch phản bạn mà diễn, khiến cho người xem sinh lòng ghét bỏ hay là sinh lòng cảm động được. Câu tuồng như vậy mới là thấu đáo thâm đắc áo lý huyền diệu của nhà diễn kịch. Thầy thuốc thời tả cho ra thầy thuốc, thầy địa thời tả cho ra thầy địa, nói cho đến cái tâm thuật của người ta; muốn bày mưu lập chước, dầu trí xảo, dầu ngu dốt làm cho người ta xem đến đấy hình như muốn để mình vào trong cuộc, thiết thân xử nghĩa nên làm làm sao, dầu mắc phải cảnh ngộ tráo chác , con tạo ghét ghen, xoay vần chăng nữa, song không thể vùi lấp được cái lòng trung nghĩa sáng suốt, sự vận động trong một đời người, cái công đức vĩ đại toàn bằng diễn ra lời nói trên mảnh giấy cả.


 Cõi đời là một trường hí kịch lớn, giữa rạp hát là một cái ảnh tử  của trường hí kịch lớn ấy, vậy cho nên nhất cử nhất động, như bóng theo hình, vai hát hay mà tuồng không hay, lấy đâu truyền cho hết cái tinh thần của người trong bản hí kịch. Bởi vậy mà phép đặt tuồng, thứ nhất là trọng mẹo mực, thứ nhì là câu hát. Mẹo không chín lớp, thời lộn xèo những lời nói như là phục bút, thấn bút, ám chỉ ; câu hát phải cho hùng hồn tao nhã, chu mật, tinh tường, đọc câu tuồng mà đã phân biệt ra được kẻ trung người nịnh, phán đoán được sự thành bại về sau, tuy chưa rõ hết nguồn cơn mà cái mẹo tuồng đã kết cấu xong nghĩa đen trắng. Nói tóm lại, cách đặt tuồng thời cũng như cách đặt tiểu thuyết, đại đồng tiểu dị, chỉ có cú pháp dóng theo âm luật mà thôi.


 Các pho tuồng xưa ít có hường tán, vì ý ngoại để cho con hát tự làm màu mỡ cũng đủ. Đại loại như: pho tuồng Tây du, Thuyết đường, Lôi phong tháp, Trung tự trung thuyết, Lão bạng sanh châu, là toàn dùng lời nói chất phác thực thà. Đến triều Thánh Tổ  có các đức ông Hoàng, nhiều ngài sáng lập ra những rạp hát to lớn, phỏng theo “Lê viên”, “Cúc bộ” của Tàu, hoặc bạn hát con trẻ, hoặc bạn hát đàn bà, bạn hát đàn ông, tuyển khúc trưng ca, cái thanh hứng hào tình đều chúc thác ở về lối văn chương hí kịch hết thảy; vì vậy mà điệu hát tuồng thịnh hành một cách rất chóng. Còn về triều Minh Mạng có lập trường Trường Xuân, sau đổi lại tên Thanh Bình thự, đến triều Thành Thái lại đổi ra Võ Can đội, hiện bây giờ lại đổi làm trường Thanh Bình, thế là biết lịch triều đều có giáo tập ba đội con hát để trong một năm có năm lễ miếu hưởng và khi tế Nam Giao, khi tế Văn Thánh, Xã Tắc, Lịch đại đế vương miếu, các lễ khánh tiết v.v… toàn dùng Thanh Bình đội thài múa bát dật , ấy là một đại lễ trong nhạc bộ vậy.


 Lại khi chầu hát trong Duyệt thị, thời Nội các các quan có dâng nhiều vở tuồng mới, nếu pho tuồng nào hay, thường được thưởng, lại sao chép thành đôi ba bản, phân trí các sở tàng thơ. Pho tuồng như là Quần phương hiến thoại, Quần anh kiệt, Bắc Tống, Nam Tống, Ngũ hổ bình Nam, Ngũ hổ bình Liêu, Thủy hử truyền kỳ, Phản Đường, Chinh đông, Chinh tây, Phong thần, Anh hùng hội v.v…


 Vì diễn kịch trong Nội đình có khi mười ngày nửa tháng mà chưa xong một lễ khánh tiết, thời bản tuồng phải thay đổi luôn. Các nhà văn nhân mặc khách, tranh nhau đặt tuồng, ngót có trăm pho, nào là tuồng vặt nói về sự tích trong một gia đình, như tuồng: Cao phi viễn tẩu, Trương Ngáo, Ông Bồ v.v… Còn tuồng đại quan nói về sự tích chính trị của nước, như tuồng: Tam quốc, Sơn Hậu. Có pho tuồng đến trăm hồi, bảy tám chục hồi là thường. Tuồng vặt bốn năm hồi, có những pho: Bạch Kỳ Châu, Châu Lý Ngọc, Hỏa Nhiệm hầu, Dương Chấn Tử, Tam nữ đồ vương, Thiên tống kỳ duyên, Sinh tài tá quốc, Lý Phụng Đình, Kim long xích phụng, Ngự văn quân, Lý tồn hiếu, Tam khôi v.v… Đó là kể qua về cái thời kỳ trước không rõ danh tánh người đặt pho nào là ai; đến triều Tự Đức biết lược lược đại khái những pho tuồng lớn mà thôi, như pho tuồng ngự chế  có pho Vạn bửu trình tường, pho Học lâm, pho Nha ngẫu, Hàm hòa … Song trong mấy pho ấy, phần nhiều các ngài Hoàng thân, các quan Nội các các ngài nào có văn tài đều có được dự vào đặt một vài hồi trình ngự lãm duyệt y mới gọi là tuồng ngự chế đó thôi. Nghe đâu Tiên đế chỉ đặt pho Vạn bửu hồi 30, 31 là thực tự lịnh  thánh ngự chế, các pho tuồng kia cũng thế. Ngự chế chỉ một vài hồi, còn bao nhiêu là các văn thần làm. Ngoài ra các bộ ấy, Đức ông Trấn Biên có soạn pho tuồng Tạc khống truyện kỳ, Đức ông Nam Sách, Đức ông Ninh Thuận, Đức ông Hoằng Hóa quận vương, ba ngài đồng soạn pho tuồng Tuyệt diệu bình yên, sự tích rất ly kỳ, biến hóa vô cùng. Các quan có cụ Đào Đăng Tấn soạn pho Tứ quốc lai vương, Tứ dân tứ thú, Diễn vũ đình; cụ Ngô Quí Đồng soạn pho Nhạc oai danh v.v… Còn nhiều bộ nữa thời không thấy danh hiệu lạc khoản , cho nên nhiều khi ngộ nhận người không soạn tuồng lại giành lấy danh hiệu có soạn tuồng ấy cũng là một việc khá tiếc, đương thời vì không chú ý để sau thành ra mai một danh tự.


 Thuộc về trung cổ dĩ tiền , lối văn chương hí kịch mà được tiến bộ như thế, là nhờ những nhà thưởng tâm lạc sự bồi dưỡng cho, mới thành ra một nhạc bộ có văn chương, có âm luật hoàn toàn ở trong lịch sử đời nay.


 Chớ như ba mươi năm về sau đây, không có ai đặt nổi những pho tuồng như trước nữa, có chăng cũng đặt được một vài hồi tuồng vặt mà chơi thôi, thế mới biết cách soạn tuồng hát là khó lắm.


 Xưa sở dĩ đặt tuồng hát ra, chẳng những để diễn kịch mà thôi, hàng ngày khi rảnh rang thong thả xem chơi cũng như xem các thứ truyện kỳ vậy.


 Trong Nội đình thường có một ban chực chầu tuồng, nghĩa là cứ ngồi mà đọc, nhưng đọc có âm vận, nghe rất êm ái. Người ngoài ít biết cái điều ấy, dầu biết cũng biết sơ lược đó thôi, chớ những câu tuồng hay thời phải hiểu điệu hát rồi nhiên hậu mới biết hay. Trước hết phải biết cái sáo tuồng. Bắt đầu mở quyển có hai câu “song quan”. Câu song quan nghĩa là thâu góp những việc hành động trong một hồi đó; tuy có tuồng không có câu song quan, nhưng pho nào đã là tuồng bộ, thời tất hẳn phải có song quan để cho người xem biết trước cái tôn chỉ của bản tuồng ấy định diễn những truyện thế nào. Đầu lớp tuồng khai diễn gọi là “giáo đầu”, hết hồi gọi là “vãn tấn”. Đến câu hát, thời có những mấy chục cách hát khác nhau. Câu hát khách có hai thứ: một là hát phú, hai là hát thơ, thời câu hát bằng chữ Hán cả, ví dụ như hát phú:


 Lưỡng đạo nga mi, uyển nhược xuân sơn hoành viễn đại


 Nhất song phụng giản, hồn như thu thủy dạng kim ba.


 Hát thơ như câu:


 Liên tử hữu tâm không vọng ngẫu


 Tân lang vô vị chuyển thành đào.


 Câu chữ liên tử trùng âm với chữ liên tử là yêu người, chữ ngẫu là đế sen, mà lại một nghĩa là đôi lứa, tân lang là hạt cau mà cũng nghĩa là người chồng mới, đào là hạt đào mà cũng nghĩa là đào trốn; bởi vì những tiếng trùng âm mà khéo sắp đặt như vậy, thật là có tài lắm.


 Người ta nghe hát ít biết được câu hát hay, phải có đọc tuồng mới rõ cách tiêm xảo  dụng tâm của nhà soạn kịch vậy, đối đáp đã cân xứng, lời lẽ lại tao nhã, tả ra một vai đào đi tìm chồng. Lại có cách hát khách mà hát tẩu mã.


 Hát nam cũng có hai thứ: một cách hát nam dựng, một cách hát nam ai. Hát nam dựng như là câu:


 Lương giới trải miền thủy quốc, gói trăng lồng một bức kỳ quan; hương trời sắc nước xuê xoan, lồng đêm tố nguyệt vẽ ngàn tịch dương; gió thanh thao dợn dàng sóng nhỏ, bóng mơ màng ai đó vấn lân? - Ấy là khúc hát một người con gái chèo thuyền đi bẻ sen.


 Còn nam ai như câu:


Bến liễu sóng sầu dập dã


Bâng khuâng lòng hai ngã khứ lưu.


 Bắt bài ban như câu:


 Nhung xa tái giá, tái giá. Kích cổ kỳ đường, kỳ đường, hổ tướng tranh tiên hề thùy cảm ngự, hùng binh tiếp hậu hề thục năng đương. Ấy là cách hát quân ban đi đánh giặc. Còn câu:


 Kiếm kích tung hoành, đông tây cộng phấn chinh. Nhất trường kích thích, thệ đại triển hùng anh. Ấy là câu hát của các vai tướng ban.


 Xướng, bạch, ngâm thời toàn dùng những bài thơ tám câu hay là bốn câu.


 Lý có nhiều cách, như câu:


 Mông mênh góc bể bên trời, thấy những người thiên hạ chớ nào người tri âm, buồn riêng thôi lại tủi thầm, một duyên đôi ba nợ, ba bốn lầm, bốn ba lầm, thương thương nhau.


 Cách lý nhà nghề có câu:


 Phù dung chúm chím miệng cười, cười chi rứa hử? hay là cười cái bóng huê phù dung?


 Lý sắc bùa có câu:


 Tuyết vừa bặt thổi rung ngô, thấy trong màu đạo mơ hồ khốn phân.


 Lý Quảng, lý Mọi, lý đào bẻ hoa, lý đào giả điên, lý bán hàng, lý quân canh, mỗi cách lý mỗi khác, kể không xiết.


 “Thán” như câu:


 Ai a! Nhất chi trường kích lục quân cung, thiên lý gian quan bách chiến trung, khưởng khái anh hùng thành để sự, thê lương không tự đối tây phong.


 Nói lối, cũng có lắm câu đối đáp rất hay, như tuồng Diễn vũ đình của cụ Đào có câu: Cánh hộc hồng, ví bằng gặp gió liệng mây xanh, thời gan ưng khuyển tao quyết nghiền tro quăng bể bạc, giọng rất bi phẫn, khéo tả ra cái vai kép có anh hùng bản lãnh.


 Tuồng Vạn bửu, lớp Ngọc Trúc tương tư Hoàng Anh có câu: Bóng trăng soi như người ngọc gần kề, hơi gió phất như tiếng vàng thú thứ; bây giờ tiếng thú thứ không ai nói đến, nguyên nghĩa thú thứ là giọng non nẽo của người con gái.


 Tuồng Tam khôi có câu tả lúc sầu tình rằng: Giấc hà tư lấp lửng bướm năm canh, lòng viễn biệt mịt mù sương ngàn dặm, như câu tả những người hàm ân: Bôi lọ toan học chước trung mưu, dã cơm dốc đền ơn tri kỷ. Ấy chữ dã cơm và chữ bôi lọ là xưa hết thảy; lắm khi câu tuồng có điển tích mà mình nhận không ra, thời cũng lạt lẽo mẹo tuồng.


 Nói đến mẹo tuồng, muốn biết cho tinh thời phải coi suốt một hồi mới hiểu cách kết cấu hay dở của người ta, chớ như một vài câu đã thấm đâu. Nhưng đó chẳng qua là kể sơ lược, góp nhặt mỗi cách hát, mỗi câu, lục ra mà coi cho biết, vì những người hậu sinh thường thường khinh dị sự đặt tuồng hát, không biết đương thời biết bao nhiêu người đã khổ tâm, dùng hết tâm huyết để vào tuồng hát. Tuồng hát có cái khí vị cổ phong phần nhiều dùng những tiếng ca dao, ngạn ngữ, thơ hay, văn cũ, tiếng trợ ngữ, câu thành ngữ rất nhiều, lại tiếng nói thông đủ trong ba kỳ, thật là một áng văn chương rất quí hóa. Thế mà áng văn chương ấy ngày nay hình như đã trái mùa lắm, không những đã ít người biết xem tuồng, mà tuồng cũng hao mòn không thành thiên thập cho người ta xem. Coi như vậy bộ tuồng Vạn bửu trình tường là một bộ tuồng có giá trị đặc sắc hơn hết trong các thứ tuồng, hỏi đến làng văn thơ nôm không người nào là không biết cái tên vẻ vang ấy, nhà nào tấn thân  sang trọng lại không trân tàng  một vài chục quyển đến bây giờ khó lòng mà kiếm cho ra năm ba quyển, huống hồ toàn bích, ấy thế mới nên tiếc cho chưa!


 Nam Phong


Số 76, tháng 10-1923


PHẢI NÊN CÓ ĐỘ LƯỢNG VỚI NGƯỜI NGOÀI


CHỚ NÊN DUNG THỨ CHO MÌNH


 Phàm việc đời, có điều phải, tất có điều chẳng phải; chẳng phải với phải, lắm khi người đời hay ngộ nhận với nhau, bởi vậy mà cách cư xử hàng ngày nên có lòng suy xét cho kẻ lầm lỗi.


 Đối với mình thì không thi cái lòng độ lượng ấy đặng, là vì dung cho mình dễ hơn dung cho người khác, nghiêm với mình khó hơn nghiêm với người khác; dung với mình hay sinh sự quấy, một lầm hai lỡ, lần lần không có sự gì là không dung nốt. Thứ nhất chỉ sợ cái lòng phóng túng, buông lung quen thói, sau khó kiềm chế là nguy cho tính hạnh của con người.


 Sở dĩ cách ngôn Tây mới có câu: “Phải nên độ lượng với người ngoài, chớ nên dung thứ cho mình”. Sách Nho có câu: “Quân tử khoan nhân khắc kỷ”, nghĩa là người quân tử rộng rãi mà đãi người, nghiêm nghị là phòng cho mình. Phương chi, cái lòng ăn ở có độ lượng thì thường được vui vẻ luôn luôn, thi thố ra công việc gì cũng xong xuôi hết cả. Ví dụ như có kẻ đồng bạn xưa nay vẫn giao hảo tử tế, trung gian xảy nghe ai dèm pha, sinh sự lôi thôi, xử tệ với mình, phỏng mình là người không có độ lượng chi khỏi tranh biện; khi đã tranh biện điều phải chẳng, dầu tòng tiền , hay cho mấy mươi cũng vô dụng, đều là điều bỏ đi, thậm chí còn kết oán gây thù, nay tiếng này mai tiếng nọ, vứt hết cái đạo bằng hữu. Người có độ lượng làm công việc hay để tâm suy xét, biết tùy tài hiểu thấu tính tình mọi người đều có một ý kiến khác nhau. Nếu lấy chỗ mình biết mà trách người chẳng biết thì việc phải bị ngăn trở, việc làm không chạy toàn bởi người không có độ lượng. Không có độ lượng thì không dung thứ cho người ta là không làm nổi việc cho mình.


 Phần nhiều những bọn hạ lưu hoặc kẻ ít học ngu dốt, không có hy vọng gì cao xa chỉ tính toán tí hào mảy mún, lợi trước mắt, càng nên độ lượng bao hàm dung nạp cho họ. Dầu họ có lầm lỗi, nhưng khi đã đặng lượng của mình tha thứ cho, ngày sau mới biết ăn năn đổi lỗi lại, chữa được cái tính gian tà, tiêu mất những cái lòng đố kỵ. Đức tốt ấy, còn danh dự nào sánh kịp.


Trung Bắc tân văn


Số ra ngày 12-11-1923; Mục Lời đàn bà


DẠY CON GÁI NÊN DẠY KIỆM ƯỚC LÀM ĐẦU


 Bao nhiêu những người cầm vững gia đạo, toàn là người biết kiệm ước hết thảy. Thử xem từ xưa như các nhà thế gia hoạn tộc mà ngày nay con cái còn thừa hưởng được cái di sản phú hậu đó, có phải do vì tiền nhân có kiệm ước, có tích súc không. Con cháu bây giờ không biết đường kiệm ước tích súc, thì ngày sau của con cháu lại phải đến nghiêng nghèo.


 Vậy thì sự dạy con cái nên dạy cách kiệm ước làm đầu. Gia đình hay dở, chốt tại tay người đàn bà trước; người đàn ông dù có biết kiệm ước, nhưng còn nhiều việc, không châu đáo như người đàn bà, công việc tế toái trong nhà; nếu nhờ được người đàn bà có tính kiệm ước, thì con cái tôi đòi đều noi theo gương tốt ấy cả. Kiệm ước không phải là nghĩa hà tiện, mà thực là cái bổn sắc của sự chất phác.


 Ở về cái thời đại mới mẻ này, phần nhiều người đương ham hố đua bơi sự mới sự lạ, run rủi nhau sánh áo sánh quần, khoe chỗ ngồi, tranh chỗ đứng, lòng người xao xác lo về cái vỏ hơn cái ruột, cho nên tập tành những thói xài phí chơi bời cho là văn minh; con nhà học trò chưa có sự nghiệp gì, cha mẹ cũng chiều chuộng cho lũ lượt trường hát rạp ca, nay thức áo này, mai thức áo nọ, còn có công nào mà học tập. Bọn thiếu nữ là một hạng người tương lai sẽ làm vợ làm mẹ, có cái trách nhiệm trọng yếu, chủ trương một gia đình, nỡ nào để phóng túng không dạy vẽ cho vào khuôn vào rập, kịp đến thành nhân, phỏng còn ngăn đón làm sao cho nổi. Dù con trai, dù con gái đương khi thơ dại ở trong nhà cái tình nhụ mộ đối với bà mẹ, có lẽ mật thiết hơn là đối với ông cha; nếu các bà mẹ mà biết cái nghĩa vụ của mình, thì dù giàu sang đến bực nào trước hết cũng phải có cần lao kiệm ước, rồi sau mới hưng khởi gia đạo nổi. Gia đình là tự tay mình chủ trương, khi trước thế nào bây giờ lại không giữ được cái nề nếp cũ, lại bổ theo thói xa xỉ, có mấy cũng đem trang sức cho con làm đỏm làm dáng. Thành ra hư văn phù hoa thì nhiều, mà thực sự chất phác ngày một kém cỏi. Phàm đứa con trẻ cốt dạy cho biết đằng tiết kiệm là khó, còn ăn sung, mặc sướng, thì khi đã làm ra tiền bạc, tự khắc là biết đủ điều, hà tất phải bày kiểm trước. Người ta thường có nói rằng: Gia phong, là khen cái thói nhà của người ấy điều độ; ai bày cái điều độ ấy ra? Chính là người khéo biết kinh lý gia vụ, mà kinh lý gia vụ khéo là biết kiệm ước đó. Tục ngữ lại có câu: Ông cái nhủi, bà cái oi, nếu cái oi để lủng thì dù nhủi mấy cá mà hãy còn?


 Trung Bắc Tân văn


 Số ra ngày 27-11-1923; Mục Lời đàn bà


MUỐN BIẾT TUỔI VÀNG BẠC LẤY ĐÁ MÀ THỬ,


MUỐN BIẾT LÒNG NGƯỜI LẤY VÀNG MÀ THỬ


 Tục ngữ ta có câu: “Có đá mới biết tuổi vàng”. Nghĩa là lời ví dụ, mà cũng là lời nói thật, vì vàng có năm tuổi, từ ngũ lên đến thập, hơn kém khác nhau, nếu không nhờ đá, làm sao phân biệt cho rõ tuổi vàng. Ấy là cái lòng con người cũng thế, lòng người có tốt có xấu, nay muốn biết tốt hay là xấu, lấy cái gì mà cân nhắc cho đúng đặng, lấy cái thước bằng vàng bạc mà đo lường chăng; cách đo lường như vậy cũng cao thượng lắm thay.


 Ôi! Cái sở dục của con người đời, phần nhiều hay đắm đuối ở chỗ vàng bạc, đến nỗi đau cả lòng dạ, quên hết mọi điều nhân nghĩa phải trái, suy thế cho nên dùng vàng bạc mà đem thử lòng người, tự khắc phân biệt hay dở. Đành rằng vàng bạc là để vận động làm cơ quan cho sự sanh hoạt, ai lại chẳng thích, nhưng thích có vàng bạc mà quá ư tham nhũng, phải đến sinh tệ. Vàng bạc hữu dụng thật, nhưng còn nhiều cái khác yêu nữa, như liêm sỉ, như thanh danh, như tính mệnh, người tham thì chỉ lây lất, miễn giữ được tính mệnh, mà liêm sỉ thanh danh thì không cần giữ, bỏ thanh danh liêm sỉ đổi lấy vàng bạc cũng nên, cư tâm hèn hạ đến thế là cùng. Chớ phàm làm người đã biết suy xét, kiến lợi thời phải tư nghĩa. Coi như xưa sách Liệt nữ chép chuyện nàng La Phu, nhà nghèo chồng đi vắng, đương đứng hái dâu trong ruộng. Bỗng có một người đàn ông đi qua đường, ngắm nghía nàng mà nói rằng: Làm ruộng không bằng gặp mùa, hái dâu không bằng đặng người yêu, ta có hai thoi vàng ròng, xin tặng cho nàng, để cùng nhau vui vầy. Nàng chẳng thèm đoái lại, sau người ấy lại nói; nàng mới quát to mắng rằng: Ngài có vợ ngài, tôi có chồng tôi, hái dâu là việc bổn phận của tôi làm, chớ cần gì vàng bạc của ngài. Chính nhà ngài há lại không có kẻ như tôi, sao ngài không biết nghĩ. Người đàn ông ấy hổ thẹn đi ngay một mạch. Kịp khi đến nhà hỏi vợ đi đâu, thì người mang giỏ dâu bước vào, tức là người đàn bà xinh đẹp hồi nãy mình mới trêu ghẹo đó, lấy làm cảm phục không biết mấy. Nguyên hai vợ chồng mới cưới được năm ngày, thì chồng phải đi làm quan phương xa lâu năm mới trở về, nên chi gặp nhau mà không nhìn đặng.


 Lại chuyện ông Dương Chấn làm Thứ sử Đông Lai, có cử trí một người mậu tài là Vương Mật làm Ấp lệnh. Cách hai ba năm sau Vương Mật đến thăm nhà Dương Chấn. Đêm khuya thanh vắng, mới đưa ra cho mười thoi vàng làm quà cho Dương, Dương Chấn kinh ngạc quá mà rằng: Tôi biết ngài, sao ngài lại không biết tôi là người thế nào. Vương Mật nói: Tối tăm chẳng ai biết, xin ngài cứ nhận cho, gọi là để chút đỉnh báo đáp ơn sâu. Dương Chấn nói: Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, bốn chỗ biết, sao ông dám nói rằng không ai biết.


 Ấy vàng bạc có thể nghiệm xét đặng lòng người là như thế, dù lòng người bao la rộng rãi, sâu sắc kín đáo đến đâu, song cũng không che lấp nổi, thế nào cũng phải tiết lộ ra, những cái lúc hành động cư xử, mà nhất là ở chỗ của tiền lại càng dễ phát hiện ra lắm. Đàn bà thất trinh tiết, đàn ông hoại tâm thuật, uốn thẳng làm vạy, đương trong khuấy thành đục, số nhiều do tiền của mà sinh nông nổi, cho nên xem người lấy ngay chỗ tài thượng phân minh thì mới là người trượng phu.


 Trung Bắc Tân văn


 Số ra ngày 6-12-1923; Mục Lời đàn bà


THÀNH NGỮ VÀ NGẠN NGỮ


Mất lòng trước hơn được lòng sau.


Khôn đâu cho qua trẻ, khỏe đâu cho qua già.


Gậy ông lại đập lưng ông.


Bếp trong nhà lại để cho gà khác bới.


Khôn cho người ta rái, dại để cho người ta thương, chớ lương ương người ta ghét.


Lểu lảo như cháo gạo lương (gạo lương là gạo để lâu năm nên ít nở).


Như thả trâu vô rú.


Như bán thịt chó treo đầu dê.


Như kẻ lộn đậu.


Lươn nằm trong lỗ, lại chê lệch dài.


Ba mặt sáu tai.


Thương ai thì đẹp, ghét ai thì hèn.


Quen mặt không quen phép.


Mặt làm răng, vác lẻ săng làm vậy (lẻ săng: lẻ gỗ).


Dẫm dẫm như bát nước đầy.


Trăm hay cho lắm chẳng tày tay quen.


Có tên thì cử, có chữ thì đọc.


Đạp vỏ dưa, thấy vỏ dừa thì sợ.


Đánh cho chết, cái nết không chừa.


Con cưng là con hư.


Hao hơi thất sắc.


Mặt xanh nanh vàng.


Gậy múa vườn hoang.


Có gan ăn trộm, có gan chịu đòn.


Cha hắn lú, có chú hắn khôn.


Mấy đời nước chảy lá môn cho đầy.


Trò nào trống ấy.


Nhà giàu đứt tay, cũng bằng ăn mày đổ ruột.


Chim nhát là chim sống lâu (nghĩa là con chim nhát ăn mồi thì khỏi bẫy sập).


Nhứt có râu, nhì bầu bụng (nghĩa là với hai hạng người ấy, ai cũng có kiêng nể).


Hôi cơm tanh cá (nghĩa là người nghén chửa hay có biểu hiện đó).


Chậu úp khôn soi.


Đầu đen máu đỏ.


Dân trời oai vua.


Trăm người bán, vạn người mua.


Khôn nói chẳng lại, dại nói chẳng cùng.


Hoa lài gặp trỗ mưa dông.


Đũa bếp đem khuấy nồi bung không vừa.


Ưa nặng như lừa.


Mê ngủ như trâu.


Năm thê bảy thiếp.


Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên.


Năn nỉ như đĩ mất tiền đêm.


Gà cồ ăn vẩn cối xay.


Mặt dày mày dạn.


Chưa có gió, mỏ đã rung.


Thỏ thẻ như trẻ lên ba.


Nói láo không lường.


Mở miệng mắc quai.


Ăn cơm người, nằm nhà ngoài (nghĩa là ví mấy người hầu thiếp).


Lính buổi mai, làm cai buổi chiều.


Dây khoai dải muống.


Để một thì giàu, chia nhau thì khó.


Nhọn như đòn xóc hai đầu.


Máu cha thì gần, máu mẹ thì xa.


Trẻ khôn qua, già lú lại.


Trẻ cậy cha, già cậy con.


Nồi tròn lại úp vung tròn.


Muốn ngon ăn chả giò, muốn no ăn bánh đúc.


Khéo ăn thì no, khéo nằm co thì ấm.


Tiền mất mà tật hẵn lưa.


Lấp lửng như đánh đu với tinh.


Ách giữa đàng mang vô cổ.


Chàng ràng cá đắt hàng hương (hàng hương là chỗ chợ).


Như thẩu mắm đầu dàn.


Như ăn cướp đầu truông.


Một cục lại vắt một hòn, như khúc gỗ lăn tròn, mặc sức mà lăn.


Sáng sao không bằng sáng trăng.


Hay chữ mà không hay giữ.


Bà con xa, láng giềng gần.


Cây da cậy thần, thần cậy cây da.


Đẻ sau khôn trước sao qua.


Con nít manh áo.


Bà già miếng canh.


Tuy nhiều sãi, không ai đóng cửa chùa.


Hình hạc xương mai.


Cửa đóng then cài.


Quí giá đậu đen (nghĩa là thứ không đáng quí mà quí).


No thì thành phật thành tiên.


Thần linh cho lắm phải kiêng lính phàm.


Nơi lột áo chỗ nuôi cơm.


Dại làm dại chịu.


Khôn làm khôn ăn.


Con ruồi đậu nặng đòn cân.


Chạy xóc xóc không bằng một góc nương.


Chó ỷ nhà, gà ỷ vườn.


Ăn xưa phải chừa nay.


Rày đó mai đây.


Con một cháu bầy.


Mẹ đánh chẳng bằng cha ngăm.


Rắn đi còn dằm (dằm: đường mòn).


Con là nợ, vợ là oan gia.


Thức khuya dậy sớm.


Ngủ ngày cày đêm.


Chân cứng đá mềm.


Tìm vàng tìm bạc, khôn tìm mẹ cha.


Ếch tháng ba, ca (gà) tháng mười.


Gỏi vược rau tờn.


Vịt già gà tơ.


Thương thì trải chiếu đắp dơ,


Khôn ba năm không ai biết, dại một giờ bạn hay.


Làm dâu nơi cả thể.


Phấn đem dồi, ai hầu dồi chân.


No hết ngon, giận hết khôn.


Để chi cho nước đến trôn mới nhảy.


Ăn tại phủ, ngủ tại công đường.


Tội nhà vạ nước.


Xui mưu làm loạn.


Tay bằng miệng, miệng bằng tay.


Đâm xay tối ngày là xong.


Cách đời vợ, trở đời chồng.


Lánh nặng tìm nhẹ.


Đi không về rồi.


Khéo nghe thầy bói nói đui.


Bán lộ đào hồi.


Lưng dài vai rộng.


Đi buôn thời lỗ, ngồi không thì buồn.


Quần đầu gối, áo đầu trôn.


Phật trong nhà chẳng thờ, lại thờ Thích Ca ngoài đường.


Tính dê nết ngựa.


Mình ốc chẳng dựa lại mang gộc rều.


Xắc vắt như mặt đánh bồng.


Đỏ mày cay mắt.


Nói chyện con cà con kê.


Trai không là quê.


Bán trời không chứng.


Trâu cày ngựa cưỡi.


Nói thật mất lòng.


Thuốc đắng đã tật.


Tốt vàng son, ngon mật mỡ.


Cả ngày như chó chạy khao.


Em khó mà họ em sang.


Cá béo coi màng màng đã hay.


Rút dây động rừng.


Giàu là họ, khó là người dưng.


Ngọc có vết ai màng.


Ngọc lành ai dễ bán rao.


Quần trơn áo mỏng, mâm cao cỗ đầy.


Đau chóng đã chày


Phước chủ may thầy.


Lấy của che thân.


Thôi quan hoàn dân.


Tận đâu xâu đó.


Quen mặt đắt hàng.


Họa gửi tai bay.


Ăn no ngủ kỹ.


Tối rày còn mai.


Thiệt vàng không sợ chi lửa.


Nước xao đầu vịt, đàn gẩy tai trâu.


Phách lá tìm sâu.


Sống gửi nạc, thác gửi xương.


Hữu sự thì vái tứ phương.


Bỏ thì thương, sương thì nặng (sương: là gánh).


Mượn đầu heo nấu cháo.


Trâu ngã ghe kẻ cầm rìu.


Bắt râu cha nọ đặt cằm mẹ kia.


Lường thưng tráo đấu, không qua đong đầy.


Mèo quào phên đất chi sờn.


Quan yêu bạn ghét.


Có quyền có duyên.


Làm ả thì ngả mặt lên.


Bảy mươi chưa què, chớ khoe mình lành.


Giàu người mà tiếng mình.


Khi rách thì gặp khách, khi lành thì không ai.


Thầy có của, sãi có công.


Người sống hơn đống vàng.


Còn người còn của.


 Kính Phật chuộng tăng.


Cưa sừng xẻ tai.


Hộ hôn điền thổ, thù hoài muôn năm.


Miệng hùm gan sứa.


Thân tàn ma dại.


Tay không chân rồi.


Chịu đấm ăn xôi.


Tránh voi xấu mặt gì.


Đông có mây, tây có sao.


Ruột bỏ ra, da ném vào.


Ăn tham chắc, mặc tham dày.


Đất bồi thì ở, đất lở thì đi


Nuốt xương, lường giọng.


Làm chi nên giàu.


Như tôm cứt lộn lên đầu.


Bền quai dai cuống


Sống lâu già đời.


Lụt lịt mà chín mà mười.


Ăn nhiều người thì tức, làm một mình thì bực.


Đi đêm ghe ngày gặp ma.


Ngon chanh ngọt dấm.


Trâu cột ghét trâu ăn.


Đường ngay lẽ thẳng.


Ngồi dai khoai nát.


Động đâu đoán đấy


Ngang bằng sổ ngay.


Đạm Phương biên tập


 Trung Bắc Tân văn, các số: 13-12, 14-12, 15-12-1923 và 13-3-1924


BÀ GIA VỚI NÀNG DÂU


 Thế tình thường hay nói bà gia với nàng dâu là hay sinh lắm sự lôi thôi, làm mất cái cảnh lạc thú trong gia đình, tưởng cũng nên bàn góp mấy lời, họa may bổ cứu cho đôi chút chăng.


 Phàm ở chung một nhà với nhau, trước là dây máu mủ, sau là cái dây tình nghĩa; nay bà gia với nàng dâu, nghĩa tuy thân mà tình cũng không đặng thân lắm, vì những sự bó buộc, cho nên việc rắc rối do đó mà ra cả. Đành rằng dâu là con, nhưng con đẻ không thương, cũng là thường tình, mà nàng dâu, lẽ thời bà gia, mẹ chồng tức là mẹ mình, thế mà phần yêu mến thì ít, phần sợ hãi thì nhiều, hóa nên cái tình không đặng thân cho lắm, lẽ ấy xưa nay không phải là không có. Theo cổ lễ dạy con gái, làm dâu tất phải cung kính bà gia, chớ không ai dạy cách bà gia đối đãi với nàng dâu bao giờ, vì thế mà người có lòng bác ái từ tâm, không hạn ở với dâu tử tế, ở với người khác cũng vậy; người không có nhơn đức, ở với dâu lại càng hà khắc hơn nữa, oai có, ân không, khiến cho nàng dâu già cái lòng bố úy bao nhiêu, lại càng non cái lòng luyến ái đi bấy nhiêu. Suy vậy mà hiểu lẽ đời, lắm người trách dâu không được hiếu thuận với mình, nhưng tôi thiển nghĩ, phần nhiều tại kẻ bề trên không đặng công bằng một chút, hoặc thiên ái, hoặc.. (mất mấy chữ) mình phải suy xét mà đổi ý... (mất mấy chữ) nên nhứt nhứt chỉ thâm... (mất mấy chữ) ví dụ như mình ở với... (mất mấy chữ) có độ lượng dung... (mất mấy chữ) yêu thương nó thì nó còn cảm mến cái lòng mình thay, huống hồ người đôi bạn với con mình suốt đời, từ hàng theo đòi dưới gối, ra vào bên cạnh, há lòng nào lại không có chút cảm tình đối với mình hay sao, dù gián hoặc có đứa tánh khí thô bỉ, kiêu ngạo, nhiều lời, dạy bảo không nghe, thế cũng bởi xuất ư nhà vô giáo dục, nên chi không biết cách ăn ở, làm bà gia, phải nên tuần tuần thiện dụ, không nên dùng lời nghiêm khác lắm.


 Thầy Mạnh tử nói rằng: “Cha con mà trách điều lành lắm, thì đến lìa nhau, lìa nhau thì không nguy hiểm gì lớn bằng”; dâu con trong đạo gia đình, thôi thì dẹp nỗi bất bình là hơn.


 Còn nàng dâu ở với bà gia làm sao, sách vở đã từng răn dạy, và khen ngợi kẻ hiếu phụ, xưa nay biết bao nhiêu người danh ghi “liệt nữ”, như bà Đường Thị cho bà mẹ chồng bú mớm sữa, làm dâu hết đạo thờ cô, da mồi tóc bạc bốn mùa như xuân; khi bà gia lâm chung có câu: “xin cho nguyện đặng như nguyền: dâu, dâu , ngày khác lại hiền như dâu”, ấy cái sự tuần hoàn báo đáp có đến như thế, mình ở với bà gia làm sao, sau dâu mình lại ở như vậy, có phải là làm cái gương tốt cho xã hội không. Lại nói cho cùng đi nữa, chẳng may gặp phải bà mẹ chồng không phải là bậc từ cô, thì cũng phải ẩn nhẫn mà chịu, nghĩ đi nghĩ lại cho chín lẽ, những cái lời bà trách mắng mình, có phải là lời dạy vẽ cho mình, cốt sợ liên lụy cho thân sau của đôi bạn mình, và gia đình hạnh phúc của mình không? Bao giờ lời nói thật cũng hay mất lòng, thuốc đắng mới dã tật, con người ta tuổi còn non nớt, tránh sao khỏi các sự lỗi lầm đặng. Lầm lỗi mà tự mình biết thì chẳng phải lầm nữa; chỉ sợ lầm mà không hay, nay có kẻ chực sửa lỗi cho mình là những lời dạy vẽ đó, thì nỡ nào không vâng theo mà còn cưu dạ oán giận, chẳng cũng khờ dại lắm ru. Tựu trung cũng có chỗ thực uy khúc, song hãy nén lòng một buổi, có cay đắng mới mặn mà hơn. Khi nào người vợ có chịu khó nhọc với mẹ chồng, là người chồng tất phải trọng nể yêu vì hơn trước, duyên cầm sắt càng thêm đằm thắm, cái đó không phải là lời nói phỏng, thực là một cái chính lý hiển nhiên, phàm người làm dâu nên biết.


 Nói tóm lại, thà theo phong tục mình, một điều không hay là cưới vợ sớm cho con, đem dâu về như mua một đứa ở mãn nhất đại, cho nên dễ sinh ra cái ác cảm trong gia đình. Chi bằng khi con cái trưởng thành, có nghề nghiệp trị sinh thì hãy nên cưới vợ, để xuất tư xuất tác cho nó biết mưu sự tự lập không nên ỷ lại vào đâu đặng. Dại khôn khuyên bảo lẫn nhau, cha mẹ chẳng qua sắp đặt đại khái trong buổi lúc đầu đôi chút đó mà thôi, chớ hơi nào mà làm trâu ngựa cho con cái mãi. Con cái phải cần tự ra sức của con cái mà học phép làm ăn với đời. Vì thế mà đương sơ bổn phận cha mẹ mới phải lao thần tiều tứ chăm chăm nuôi dạy, tập tành, cho thành lập một con người đủ tư cách ở đời, như con chim khẳm cánh lông, tự khắc bay nhảy tìm mồi, mới thành chim khôn. Một điều nữa phải nên biết rằng: cha mẹ dạy con gái, còn dễ hơn trao cái gánh nặng lại bắt người khác thay quyền giáo dục cho mình, thực là giá họa cho người ta cả, như bà gia mà dạy nàng dâu vậy.


 Trung Bắc Tân văn


 Số ra ngày 28-12-1923; Mục Lời đàn bà


THẤY VÀNG KHÔNG THAM


 Đời Hậu Hán có bà Ứng Ẩu sinh đặng ba người con trai, chồng mất sớm, nhà nghèo, bà tự làm lụng công việc ruộng nương, con cái đều cho đi học.


 Một hôm đi trồng cây, đào đất thấy một chĩnh vàng, bèn chống cuốc mà nghĩ thầm rằng: vàng là một vật quí hóa nhất trong thế gian, nhưng phải biết cách lợi dụng, làm ra công này việc khác, chớ không phải để ăn lún đi, tức sinh nhiều sự chẳng lành. Vả nhà ta ngày nay mẹ góa con côi, có nhiều tiền của cũng chẳng thi thố đặng điều gì, mà con cái thấy lắm vàng nhiều bạc, lại sinh lười biếng trễ nải, bỏ học nghiệp theo du đãng, ta yếu đuối không thể kềm chế nổi, tất phải hư con, làng họ thấy tiền của sao khỏi sự tranh giành, sẽ gây nên kiện cáo lôi thôi cho mình, chi bằng lấp đi, để người khác có phước hưởng đặng, còn làm được nhiều việc hơn mình. Nghĩ thôi bèn cuốc đất vùi kín đi không cho ai biết. Sau ba người con bà Ứng Ẩu đều đậu tiến sĩ, bà thọ bảy mươi tuổi, một nhà sum họp, danh tiếng vẻ vang. Khi lâm chung mới bảo cho con cái biết, đặng làm thiện sự cho hết cái của ấy.


 Lời tổng bình:


 Đại phàm tiền của là vật giao dịch ở đời, có luân chuyển, có vận động, thì mới gây nên sự tiến hóa lợi ích cho đời, cho người. Nếu bo bo mà giữ lấy của mãi, hóa ra mình lại làm nô lệ cho tiền của đó mà thôi, chớ không phải mình làm ông chủ sai khiến đặng tiền của nữa. Mà muốn để lại đời sau cho con cháu, tất phải trù hoạch cái công cuộc làm sao cho vĩnh viễn vững bền, có tài năng mới lợi dụng đồng tiền đặng. Vì tài năng không có, chẳng trù hoạch phương sách gì, thà rằng không tiền của, mà con cháu tự lo lắng sức của con cháu còn êm hơn; bà Ứng Ẩu là người rất minh đại nghĩa vậy.


 Trung Bắc Tân văn


 Số ra ngày 29-12-1923; Mục Lời đàn bà


 


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »