tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
02.12.2016
Phan Khoang
Việt sử Xứ Đàng Trong (2)



Nền kinh tế, thương mại thời chúa Nguyễn


Hai xứ Thuận, Quảng giàu có cả về lâm sản, nông sản và hải sản, nhất là xứ Quảng Nam có nơi đất có vàng, sắt. Về thương mại, người Thuận, Quảng chỉ mua, bán thổ sản và sản phẩm tiểu công nghệ ở các chợ, chợ phiên.


Đất đai màu mỡ, phì nhiêu


Sách Phủ biên tạp lục viết: “Những sản vật quý phần nhiều xuất từ miền Nam. Xứ Quảng Nam (kể cả Gia Định) là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Ở phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, đồng ruộng rộng rãi gạo lúa tốt. Ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Gia Định thì thóc gạo nhiều không kể xiết, nhất là Gia Định đất đai màu mỡ mà không lo cái nạn hạn, lụt. Ở Gia Định, có nơi cấy một hộc thóc giống thì gặt được 100 hộc thóc, có nơi ruộng không cần cày, chỉ phát cỏ rồi cấy, cấy một hộc thóc giống gặt được 300 hộc thóc. Gạo nếp, gạo tẻ đều trắng trẻo, tôm cá rất to béo, ăn không hết”.


Ngoài ngũ cốc, Thuận, Quảng sản xuất nhiều cau, hạt tiêu, bo bo, hạt mè, đường cát, đường phổi. Về lâm sản, dãy núi Trường Sơn cho trầm hương, kỳ nam, sừng tê, ngà voi, sáp ong, dầu rái, cây lui, tre tư lao (dùng làm cán dao)... Chúa Nguyễn có đặt đội An Sơn hằng năm cứ tháng 2 thì đi tìm kiếm, tháng 6 thì đem về.


Gỗ là thứ người Việt rất cần dùng thì Thuận, Quảng sản xuất rất nhiều và nhiều thứ quý. Theo Phủ biên tạp lục, từ châu Bố Chính trở vào đều có nhiều thứ gỗ tốt. Các đầu nguồn huyện Khương Lộc có gỗ “táu” bền, đen như sắt, dân địa phương dùng làm cột nhà, gỗ “gụ” có vân mà bền, đen dùng làm giàn nhà, gỗ “bời lời” to mà sắc trắng dùng làm ván vách... Mỗi năm, tháng 8, khách buôn đóng bè chở xuống bán từng cây hoặc từng súc lớn nhỏ, có đến nghìn, trăm.


Gỗ “kiền kiền” cứng, bền, lâu hư, chôn sâu xuống đất mấy thước, trăm năm cũng không mục, ở đầu nguồn châu Nam Bố Chính (Quảng Bình) và các huyện Quảng Điền, Phú Vinh (Thừa Thiên-Huế) đều có. Nhà cửa, lầu gác, ghe thuyền của họ Nguyễn đều dùng gỗ “kiền kiền”. Gỗ “sao” có thể làm vách thuyền, loại sản xuất ở đầu nguồn H.Phú Vinh, Hương Trà thì nhẹ, vào nước thì nổi, dùng làm thuyền buôn và thuyền đánh cá.


Họ Nguyễn xây dựng cung điện, nhà cửa, thường lấy gỗ các phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Gia Định. Phủ Gia Định sản xuất nhiều gỗ tốt, các xứ, nguồn, thuộc huyện Phước Long, Tân Bình có nhiều gỗ “sao”, gỗ “trắc”, gỗ “giáng hương”…


Nghề nông là gốc, nhưng dọc theo bờ biển, nhân dân cũng sống bằng nghề chài lưới. Đánh cá, làm mắm đem lại những nguồn lợi lớn cho các miền duyên hải. Biển Thuận, Quảng còn có đồi mồi, xà cừ, các đảo trong biển Quảng Nam, Bình Khương có yến sào. Ở Hà Tiên có huyền phách sắc đen như sắt, người ta nói dùng nó tránh được gió độc, nên thường dùng làm tràng hạt.


Thương mại thịnh vượng


Người Hoa kiều tập trung đông ở nhiều thành thị, đưa ngoại hóa đến bán ở các chợ, chợ phiên. Buôn bán bằng ghe thuyền chỉ dọc theo bờ biển đi tỉnh này sang tỉnh nọ, hoặc từ châu Bố Chính qua Thuận Hóa, Quảng Nam, Thị Nại, Gia Định, đến vịnh Xiêm La là cùng. Nhờ bán sản vật cho ngoại quốc một phần lớn mà nền thương mại thịnh. Đến hậu bán thế kỷ 18, việc thương mại ở đô thành Phú Xuân đã phát đạt. Giáo sĩ Jean Koffler (sinh ở Prague, CH Czech - PV) năm 1766 đã viết: “Mỗi năm có độ 80 chiếc ghe Trung Quốc từ các tỉnh đến, ấy là bằng chứng của một nền thương mại phồn thịnh, nhất là khi thấy ngoài ra còn có tàu từ Macau, từ Batavia (Jakarta, Indonesia ngày nay - PV), từ nước Pháp đến nữa… Hàng hóa chở tấp nập bằng đường bộ hoặc đường biển đến đô thành, nơi đây người ta đem bán và mua các hàng hóa khác”.


Tiểu công nghệ có tính cách gia đình và phường bạn đã khá phát đạt. Những thợ làm nghề thường ở chung một làng hoặc một ấp. Ở Thuận, Quảng có thợ dệt vải, lụa, gấm, đoạn, trừu, sa, lãnh và nhuộm các màu; có thợ dệt chiếu, chằm nón, đãi vàng, nấu, luyện vàng, khai mỏ sắt, đúc đồ đồng, đúc súng, làm giấy, thép, đồ sành, đóng ghe thuyền, làm muối…


Phủ biên tạp lục chép, H.Hương Trà (Thừa Thiên-Huế) có phường dệt hàng tơ. Ở xã Phú Cam, thuộc địa phận 3 xã Sơn Điền, Dương Xuân, Vạn Xuân, chia làm 3 ấp, mỗi ấp 10 nhà, mỗi nhà 15 thợ dệt, ông tổ xa của họ học được nghề dệt của người Hoa rồi truyền lại cho con cháu. Ở Phú Xuân (Thừa Thiên-Huế), Điện Bàn (Quảng Nam), Lệ Thủy (Quảng Bình)... đều có thợ thêu gấm rất khéo, kiểu hoa sưa, dày khác vẻ mà đều đẹp, hay thêu ở cổ áo phụ nữ, ở các túi trầu.


Sau khi tiếp xúc với người Âu Tây, đồng hồ đã được các nhân viên công sở dùng. Phủ biên tạp lục cho biết ở xã Đại Hào, H.Đăng Xương (Quảng Trị) có Nguyễn Văn Tú, học người Hà Lan, làm được đồng hồ và sửa chữa đồng hồ. Em Văn Tú là Văn Thi, con là Văn Duy, rể là Lưu Văn Dũng đều biết nghề này.


Theo Koffler, người Đàng Trong về công nghệ rất dễ dạy và sáng dạ, họ bắt chước, làm được giống y những sản phẩm của Tây phương với dụng cụ đơn giản. Họ đóng tàu, làm nhà đúng y với bản vẽ của kiến trúc sư, họ sơn rất khéo và trên những bức sơn có những hình cây cối, hoa, cỏ, chim muông rất ngoạn mục.


Giao thương và xung đột với người Hà Lan


Từ đầu thế kỷ 17, nước Hà Lan, nước Anh lập những công ty thương mại được chính phủ cho độc quyền hoạt động ở các miền trên bờ biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, gọi là Công ty Đông Ấn Độ.


Từ đầu thế kỷ 17, nước Hà Lan, nước Anh lập những công ty thương mại, với sự hùn vốn của tư nhân, được chính phủ cho độc quyền hoạt động ở các miền trên bờ biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, gọi là Công ty Đông Ấn Độ.


Hằng năm, vào khoảng đầu năm âm lịch, sự buôn bán bắt đầu. Người Việt đem đến Faifo (Hội An) sản vật trong xứ như tơ sống, gỗ quý, trầm hương, đường, xạ hương, quế, tiêu, gạo... Còn tàu Âu châu thì chở đến đồ sành, đồ sứ, giấy, trà, bạc thoi, binh khíc, diêm sinh, lưu huỳnh, chì, kẽm, vải, nỉ đỏ, nỉ xanh, nỉ đen... Các chúa cũng thường mua sản vật của dân gian để trao đổi với thương nhân ngoại quốc, lấy ngoại hóa. Sự mua bán kéo dài trong 5, 6 tháng.


Theo giáo sĩ Christoforo Borri thì thấy người Hà Lan đến buôn bán ở Đàng Trong, người Bồ Đào Nha ở Macau sai một sứ giả đến xin chúa Nguyễn đuổi họ; sau đó lại sai một phái đoàn đến nói với chúa Nguyễn hãy đề phòng người Hà Lan nhã nhặn nhưng xảo quyệt, e họ sẽ xâm chiếm đất đai Nam Hà như họ đã làm ở Ấn Độ. Nhưng chúa Sãi khá sáng suốt, vẫn sai viết thư cho công ty Hà Lan vời họ sang buôn bán ở nước mình. Đầu năm 1636, đã có một thương điếm Hà Lan được thiết lập ở Quảng Nam.


Bấy giờ ở Nhật Bản, Mạc phủ đã xuống lệnh cấm người Nhật buôn bán với Đông Kinh (Tonquin, tức khu vực Bắc kỳ thời kỳ đó), công ty Hà Lan ở Nhật định sang Đông Kinh buôn bán, thay địa vị người Nhật ở đấy. Tháng 3.1637, tàu Grol từ Nhật Bản đến Tourane (Đà Nẵng ngày nay) rồi ra Đông Kinh, xin vua Lê, chúa Trịnh cho phép đến buôn bán ở Đàng Ngoài và dâng vua Lê hai khẩu đại bác. Những người Hà Lan được tiếp đãi tử tế và cho phép mở thương điếm ở Hiến Nam. Nhân đó, chúa Trịnh có yêu cầu người Hà Lan giúp mình trong cuộc chiến tranh với họ Nguyễn.


Nhân tàu Grol ghé Tourane, chúa Thượng đã gửi cho Toàn quyền Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Batavia (Jakarta, Indonesia ngày nay) bức thư và nửa cân trầm hương. Trong thư chúa tỏ ý mong muốn người Hà Lan đến buôn bán ở nước mình.


Những hảo tâm ấy của chúa Nguyễn không được lâu bền. Vì chúa Thượng đã biết sự giao dịch của chúa Trịnh và người Hà Lan, nhất là lời yêu cầu giúp đỡ để chống, đánh mình. Do đó, những lời hứa hẹn miễn thuế cho Hà Lan không được tuân giữ, rồi năm 1641, hai chiếc tàu Hà Lan bị đắm gần đảo Poulo Cahm, phần đông người trong tàu bị bắt giam. Các thương nhân Hà Lan bị đối xử quyết liệt: một đứa đầy tớ người Việt của thương điếm Hà Lan ăn cắp, bị người Hà Lan tự tiện đem giết, quan Trấn thủ Quảng Nam bèn thu hàng hóa, đồ đạc của thương điếm đem đốt hết, vàng bạc và đồ gì không cháy đều được vứt xuống biển, 7 thương nhân Hà Lan bị giết, 2 thương nhân khác được gửi đi một tàu ngoại quốc để về Batavia, thuật lại việc đã xảy ra cho công ty biết. Trước tình hình ấy, trong năm 1641, người Hà Lan đã phải bỏ thương điếm ở Faifo, và giao cho một người Nhật tên là Risemondono cư trú ở Senua (tức Thuận Hóa, chỉ Huế ngày nay) đại diện cho họ ở Đàng Trong.


Đầu năm 1642, một chiếc tàu Hà Lan do Van Liesvelt làm thuyền trưởng đi Batavia, ghé đến gần Faifo, xin chúa Nguyễn thả những người Hà Lan đang bị giam, nhưng chúa Nguyễn biết trên tàu ấy có mấy sứ giả Trịnh phái sang Batavia nên không thả.


Động binh


Công ty Hà Lan bèn quyết định dùng binh lực: 5 chiếc tàu có 152 thủy thủ và 70 binh sĩ được phái đến hải phận Đàng Trong, một đoàn trưởng là Van Liesvelt lên bộ, bị quân chúa Nguyễn đánh giết cùng 12 binh sĩ. Một đoàn trưởng khác là Van Linga đem giết 20 người Việt mà họ bắt trước để làm con tin, nhưng Van Linga không dám lên bộ. Chúa Thượng bèn bắt giết 1 thương nhân Hà Lan đang bị giam. Để trả thù, Van Linga bắt 107 người Việt họ gặp trên các làng ở dọc bờ biển đem xuống tàu, rồi cho tàu chạy ra bắc.


Năm 1643, hai chiếc tàu Hà Lan là Kievit và Nachtegeals đến Đàng Ngoài. Bấy giờ, chúa Trịnh đương đem quân đi đánh Đàng Trong ở Quảng Bình, được tin, liền viết thư yêu cầu hai tàu ấy, và một chiếc khác là Woec Kinde Boode đang đậu ở hải phận Đàng Ngoài, vào sông Gianh giúp mình, nhưng không biết vì sao không thấy ba tàu ấy dự chiến trận này. Đầu năm 1644, 3 chiếc tàu Hà Lan vào hải phận Đàng Trong, không biết có phải để gặp quân chúa Trịnh hay không. Được tin, Thế tử Dũng Lễ hầu (tức chúa Hiền sau này) liền đem 60 ghe chiến ra vây đánh. Chiếc tàu lớn hơn của Hà Lan bị ghe Việt xông vào đánh phá, Pieter Baek phải đốt nổ kho thuốc súng để tự tử, hai chiếc kia bỏ chạy, bị đuổi theo, một chiếc va vào đá, chìm, còn chiếc kia chạy thoát ra bắc. chúa Trịnh tức giận, không cho ghé vào hải cảng để tiếp tế lương thực. Theo Alexander de Rhodes, chúa Thượng sai cắt mũi 7 người Hà Lan thoát chết và cùng các xác chết người Hà Lan, gửi ra bắc để chúa Trịnh tưởng niệm chiến công của đội quân tinh nhuệ của mình.


Nhưng công ty Hà Lan thấy rằng tình trạng ấy không thuận tiện cho sự mở mang thương nghiệp của mình, nên năm 1650 thay đổi chính sách. Về phần chúa Nguyễn, bấy giờ là chúa Hiền, đã nối ngôi cha từ năm 1648, cũng cho Batavia biết là mình muốn hòa hảo. Ngày 9.12.1651, hai bên hiệp ước: bỏ qua sự bất hòa cũ.


Nhưng sự hòa hảo này không được duy trì lâu dài. Nhân viên của công ty liên tục bị phiền nhiễu, nên đầu năm 1654, công ty Hà Lan quyết định chiến tranh với Đàng Trong. Nhưng chiến tranh ấy, người Hà Lan không tích cực thực hành, người ta chỉ thấy thương quán Hà Lan đóng cửa từ đó.


Văn mạch dằng dặc không dứt


Truyện Sãi vãi (tức Tăng ni truyện) của Nguyễn Cư Trinh xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975


Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết: Họ Nguyễn trước kia chuyên giữ một phương, chỉ mở thi hương, chuyên dùng lai tư, không chuộng văn học, ít thu lượm được người tuấn dị... Thế mà văn mạch ở đất này dằng dặc không dứt, thật đáng khen!


Thời các chúa Nguyễn, không thấy có trường đại học công lập (cách gọi của tác giả - TN) như trường Quốc Tử Giám ở Bắc hà, cũng không thấy có chức học quan. Đó là một khuyết điểm mà chúa Trịnh đã nêu lên để chỉ trích; người ta cũng thấy hòa thượng Thạch Liêm đã khuyên chúa Hiển Tông nên mở trường quốc học (theo Hải ngoại kỷ sự), không hiểu vì sao trải qua các chúa, đến đời chúa Thế Tông xưng vương, Nam hà vẫn không có trường đại học công. Nhưng trong bài tựa sách Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: “Ngày tế đinh (tức tế Khổng Tử ở Văn Miếu - chú thích của tác giả) tôi vẫn đến học cung chiêm bái, học trò đến học có đến vài trăm người, tôi có cùng họ giảng học, luận văn, khuyến khích, dạy bảo ân cần...”. Vậy thì cũng có sinh viên đại học (cách gọi của tác giả - TN) đến nghe giảng ở nhà học, nhưng không biết tổ chức cách nào. Nhưng trong dân gian thì trường học mở rất nhiều. Giáo sĩ Christoforo Borri, trong cuốn Relation de la Nouvelle mission au Royaume de la Cochinchine đã cho biết ở Đàng Trong thời chúa Hy Tông, đã thấy nhiều trường bậc đại học với nhiều giáo sư cùng các cuộc thi, hạch các cấp y như ở Trung Quốc vậy.


Xem trong Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, chúng ta thấy tên một số tác giả và tác phẩm nhưng phần nhiều các tác phẩm ấy chỉ còn cái tên mà thôi. Vì các tác phẩm ấy chép tay, chưa khắc in, nên trải qua cuộc đánh chiếm Thuận, Quảng của quân Trịnh, cuộc chiến tranh với Tây Sơn và 25 năm loạn lạc tiếp đó ít tác phẩm còn giữ lại được dưới các cơn binh hỏa, nhiễu nhương. Điều đáng chú ý là có nhiều tác phẩm bằng quốc âm. Vậy biết rằng văn chương quốc âm cũng đã phát đạt. Ông Lê Quý Đôn khi ở Phú Xuân có sưu tập một số thơ văn mà ông chép lại trong Phủ biên tạp lục. Các thơ văn ấy đều có giá trị về văn chương và tư tưởng.


Những tài năng văn chương


Sau đây xin theo các sách trên chép lại tên tác giả, tác phẩm cùng những vị học thức, đức hạnh đã có công tài bồi văn hóa trong thời gian ấy.


Ở Thuận Hóa thời Lê có Bùi Dục Tài là người huyện Hải Lăng học rộng biết nhiều, có tiếng hay chữ, đỗ tiến sĩ năm Cảnh Hưng (1502); Dương Văn An người huyện Lệ Thủy, đỗ đồng tiến sĩ đời Mạc, năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1547), người đã sửa chữa và tập thành sách Ô châu cận lục.


Đào Duy Từ còn để lại bài Ngọa long cương ngâm và sách Hổ trướng khu cơ.


Nguyễn Hữu Dật 16 tuổi đã nổi tiếng văn học, đời chúa Hy Tông, được bổ làm văn chức, đời chúa Thái Tông, Hữu Dật làm Ký lục dinh Bố Chính. Tham tướng Nguyễn Phước Tráng vốn cùng Hữu Dật có hiềm khích, gièm với chúa rằng Hữu Dật toan mưu trở về bắc. Chúa Thái Tông bắt Hữu Dật bỏ ngục. Hữu Dật theo tập sách Anh liệt chí đời Minh, làm thành truyện Hoa Vân cáo thị để nói rõ chí mình, rồi nhờ người coi ngục dâng lên chúa. Chúa đọc xong, tha và cho làm Văn chức ở Chính dinh.


Nguyễn Phước Chu, tức chúa Hiển Tông, học rộng kinh sử, thường trước tác; đề vịnh, ý tứ tự nhiên. Ông còn để lại 4 bài thơ khóc phi là Nguyễn thị, bài minh khắc trên chuông chùa Thiên Mụ, bài văn bia ở chùa này, nhiều bài thơ, câu đối tặng, điếu các quan...


Nguyễn Phước Tứ, con thứ 8 của chúa Hiển Tông, có khí cuộc, học rộng, ưa ngâm vịnh, giỏi thơ quốc âm, có làm Hoa tình nguyện bằng quốc âm, lời rất đau buồn, được dân gian ưa đọc. Nguyễn Phước Dục con Nguyễn Phước Tứ, học rộng, có tài lược, thơ hay, ưa ngâm vịnh, tương truyền rằng đàn Nam cầm là do ông chế ra.


Nguyễn Khoa Chiêm bắt đầu làm chức Thủ hợp đời chúa Hiển Tông rồi trải qua nhiều chức, đến năm Giáp Thìn (1724) thăng Tham chính Chính đoán sự, tác giả sách Nam triều Nguyễn Chúa khai quốc diễn chí (còn có tên gọi Nam triều công nghiệp diễn chí - TN).


Nguyễn Cư Trinh, hiệu Đạm Am, làm quan đời chúa Hiển Tông đến chức Ký lục. Cư Trinh thuở bé dĩnh ngộ, tuyệt quần, 11 tuổi đã làm văn thơ hay, cùng tùng huynh là Nguyễn Đăng Thịnh tề danh một thời, năm Canh Thân đỗ Hương cống, làm quan Tri phủ, Văn chức. Sau khi chúa Thế Tông lên ngôi vương, điển chương, pháp độ do Đăng Thịnh tán định, còn từ lệnh thì do ông thảo ra. Ông từng làm Tăng ni truyện (tức truyện Sãi vãi) bằng quốc âm. Từ năm Quý Dậu (1753), ông vào cầm binh đánh Chân Lạp, lập dinh Long Hồ, đạo Đông Khẩu, đạo Tân Châu, đạo Châu Đốc, Nam thùy mở rộng đất đai đến đấy đều là công của ông. Trong thời gian ở biên cảnh hơn 10 năm này, ông thường cùng Đô đốc Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ tặng đáp thơ, văn. Ông có họa 10 bài thơ vịnh Hà Tiên và mấy bức thư ông đáp lại Mạc Thiên Tứ, nội dung nhiều tư tưởng, triết lý.


Nguyễn Quang Tiền người huyện Quảng Điền, học rộng, thơ hay. Đời chúa Hiển Tông, ông làm Văn chức, biểu cầu phong gửi vua Thanh là do ông soạn. Đời chúa Thế Tông, các bài thơ đề vịnh ở các cung đình, và văn thư thù ứng với các lân bang phần nhiều do ông soạn. Khi Lê Quý Đôn ở Phú Xuân, có đến nhà ông để sưu tầm những văn phẩm của ông còn lại.


Võ Trường Toản là người huyện Bình Dương, phủ Gia Định, thông dĩnh, kinh học uẩn súc, gặp loạn Tây Sơn ở ẩn dạy học, học trò nhiều kẻ trở thành danh thần nhà Nguyễn như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức. Khi Nguyễn Phước Ánh đóng ở Gia Định, có triệu ông đến thăm hỏi, và rất khen ngợi sự cao thượng của ông. Ông mất, Nguyễn vương cho hiệu là “Gia Định xử sĩ sung đức Võ tiên sinh”, sai khắc ở mộ chí.


PK.


Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam). NXB Khoa học Xã hội, 2016.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »