Ngày 27 tháng 6 năm 1943, Sở Thông tin, Tuyên truyền và Báo chí hiệp cùng nhiều quan chức và trí thức tỉnh Bến Tre tổ chức lễ viếng mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu tại Ba Tri.
Ông Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh, Giám đốc các trường sơ học Bến Tre đứng trước mộ đọc một bài diễn văn kể lại thân thế và sự nghiệp của cụ Đồ.
Sau đây là bài Diễn văn của ông Ca Văn Thỉnh, chúng tôi coi như một lời điếu trước mộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.
Bẩm quan Thống đốc,
Thưa quý ngài,
Một nhà thi sĩ vô danh tỏ lòng cảm mến tài hoa tiết tháo của tác giả Lục Vân Tiên, trong một bài thi nhan đề là “Đồ Chiểu”, kết lại mấy câu đầy ý nghĩa:
Khỏe giấc sớm về ba thước đất
Giàu mà chi đó, khó mà chi?
Thiết tưởng: người đời giàu hay nghèo, trong khi từ giã cõi trần, cũng mang theo hai bàn tay trắng.
Sự nghiệp muôn xe, phỏng còn lưu lại bao lâu? Đời còn thiết chi tới tên tuổi người sản nghiệp?
Trái lại cụ Đồ Chiểu, mặc dầu nghèo khó, giữ trọn đời khí tiết tài hoa; cụ khỏe giấc ngàn thu, lưu lại cho con cháu, cho đời, một sự nghiệp tinh thần trường cửu.
Muốn biểu dương sự nghiệp quý hóa ấy, Chánh phủ tổ chức cuộc lễ hôm nay.
Quan Thống đốc Nam Kỳ, vì nghĩa cao thượng ấy, không quản đường xa và việc công đầy rẫy, tới dự lễ, đại diện cho nước Pháp, nước Pháp của Đức Thống chế Pétain đương xây dựng lại nền tri thức, đạo đức cố hữu của văn minh tinh thần Pháp.
Vinh diệu thay tánh danh cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu!
Thưa quý ngài,
Cũng giờ này, cũng ngày 25 tháng năm An Nam, nếu chúng ta đi ngược lại thời gian, 55 năm về trước, cũng tại Ba Tri này, giữa một cảnh nhà lá ba gian, hai chái, ở phía sau nhà công sở làng An Bình Đông, nay là An Đức, chúng ta trông thấy đông đảo con cháu, môn sanh, thân bằng quyến thuộc, để tỏ vẻ đau thương trước hài cốt của cha ông, của thầy bạn: nhà kỳ sĩ Nguyễn Đình Chiểu đã buông hơi thở cuối cùng trong đêm vừa qua, đêm 24 tháng năm, năm Mậu Tý, nhằm ngày mùng ba tháng bảy tây năm 1888, hưởng thọ được 67 tuổi.
Gần suốt 67 năm trường, thân thế cụ Đồ là thân thế:
Chỉ tơ kéo hết ra thân nhộng
Hơi tiếng kêu cầu nhọc sức ve!
Cụ Nguyễn Đình Chiểu hiệu là Trọng Phu, sanh năm Nhâm Ngọ, Minh Mạng thứ ba, 1822, tại làng Tân Khánh (Gia Định). Cụ là con trưởng trong một gia đình sáu người, bốn trai, hai gái. Thân phụ của cụ là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên, xã Bồ Điền, vào Nam làm một công chức nha thuộc của quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt, thân mẫu là Trương Thị Thiệt, một người mẹ hiền sanh trưởng ở làng Tân Khánh.
Hình trạng cụ Đồ: theo như một người con của cụ nói, và do bút tích của người đồng thời, cụ có một tướng mạo khôi vĩ, tác người cao lớn. Trong một bài báo l’Indépendant de Saigon, ngày 17 tháng 11 tây năm 1883, ông Ponchon, lúc bấy giờ làm quan chủ tỉnh Bến Tre, tường thuật cuộc hội diện của ngài với cụ Đồ, tại Ba Tri, ngài có tả sơ diện mạo của cụ: “Chính là một ông lão to lớn, đẹp đẽ, vẻ mặt yên lặng, mét mét, mà đầy nét cao quý, ông nói chuyện có vẻ văn hoa và lưu loát…”. Ông Pillet trong một bài báo khác, cũng năm 1883, nói rằng: “Đáng chú ý tới tác cao, vóc mình mạnh dạn, và tóc đen tốt đẹp, chỉ thấy ít ỏi vài làn tóc bạc”.
Đời của cụ Đồ là đời khắt khe, phiêu vạt, trải qua bao nhiêu nghịch cảnh. Trong bổn Lục Vân Tiên in năm 1889, cụ Trương Vĩnh Ký có để lời phê bình tác giả: “Chẳng phải bất tài mà là bất hạnh vì bạc mạng!”.
Cụ Đồ bạc mạng thật!
Kìa năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Lê Văn Khôi khởi loạn ở Gia Định. Giặc Ngụy - Khôi có ảnh hưởng sâu xa vào trí óc non nớt của một cậu học trò mới hai sáu tuổi đầu. Nước xảy loạn, nhà sanh biến: Cha tìm phương thoát loạn trở về Huế; triều đình bắt tội cách cả chức tước. Trẻ thơ sanh trốn theo cha ra kinh thành học tập.
Kìa tài cao, phận bạc, khoa thi Hương năm Quý Mão (1843) tại Gia Định, chỉ đỗ được Tú tài, ra đi thi Hội, rủi hay tin mẹ mất. “Lỡ bề báo hiếu, lỡ bề lập thân”. Trở về lại mang bịnh tới mù cả hai mắt. Kế việc hôn nhân bị lỡ làng “Linh đinh chữ phận, chữ duyên”.
Kìa thời loạn lạc trở lại: binh Pháp lấy Sài Gòn. Nam triều lần lượt nhượng sáu tỉnh cho Pháp quốc. Loạn Đốc binh Là, loạn Trương Định dấy lên. Thân mù quáng phải chạy giặc về Cần Giuộc, sau về trú ngụ tại Ba Tri, làng An Bình Đông tới ngày từ biệt cõi trần.
Có thân phải khổ với thân
Thân ôi, có biết mấy lần chẳng may!
Bao nhiêu cảnh khổ nung nấu gan vàng. Tư tưởng Khổng giáo, sự nghiệp văn chương nảy sanh tự đó.
Tư tưởng Khổng Mạnh đã tẩm nhuận đầu óc cụ Đồ từ lâu.
Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn
Dấu xe hành đạo trải trong trần.
Giữa thói đời đen bạc, cụ đinh ninh “trọn đời một tấm lòng son”. Chữ trung, chữ hiếu, tư tưởng “tu, tề, trị, bình” kích thích tâm hồn cụ, khiến cụ phản động lại cảnh ngộ, dắt tư tưởng cụ từ một tín đồ chân thành của Nho giáo tới một nhà chiến sĩ dõng mãnh:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!
Nhà chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu nhắm thẳng một mục đích: xây dựng đài quốc gia trên nền Khổng học. Muốn đi tới mục đích, cần phải tạo ra đông tay thợ vừa có sức khỏe, vừa có óc trung thành với việc kiến thiết.
Chính là công trình của nhà giáo dục, nhà y sĩ. Cụ Đồ Chiểu gồm cả hai nhà, cốt để phụng sự giang sơn Tổ quốc. “Chí lắm trả nợ nước non”, cụ cố sức trị bịnh “thế đạo đồi ba”, chống nạn “rượu dầm trong bụng, sắc kề bên thân”.
Sự nghiệp văn chương của cụ không đi ra ngoài mục đích “cải tạo quốc gia”, mục đích trị bịnh tinh thần, trị bịnh xác thịt của người đồng chủng.
“Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngục kinh gia huấn” cùng các bài thi văn khác đều là sách để chữa bịnh tinh thần.
“Ngư Tiều vấn đáp” chuyên về y thuật để chữa bịnh xác thịt.
Được truyền tụng hơn hết là thơ Lục Vân Tiên, một quyển thơ có ảnh hưởng giáo dục sâu xa trong dân gian Nam Kỳ, lại cũng là quyển sách chứa đầy tâm sự, kỳ vọng của tác giả.
Đêm hôm tĩnh mịch, khi chúng ta dạo bước trong chốn thôn quê, chúng ta thường nghe, tự túp nhà tranh đưa lại với một giọng ngâm nga trầm bổng, mấy câu thơ Vân Tiên:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Quyển luân lý giáo khoa ấy được phổ thông là dường nào!
Đã từ lâu nhiều nhà trí thức Pháp chú ý tới tập thơ bình dân ấy, dịch ra tiếng Pháp, và đọc qua để tìm hiểu xã hội Việt Nam.
Cụ Đồ Chiểu nổi tiếng do ở thơ Lục Vân Tiên nhiều vậy.
Thưa quý ngài,
Thơ Vân Tiên còn, thì thinh danh cụ Đồ Chiểu vẫn còn. Mà thinh danh cụ còn thì tấm gương tài hoa, tiết tháo của cụ không bao giờ tan vỡ.
Quý hóa thay! Tấm gương sáng suốt của người mù tối!
Gương chiến sĩ của người tàn tật,
Gương cao quý của người bần bạc,
Gương sự nghiệp tinh thần trường cửu.
Tấm gương rạng ấy, chính là nhà thi sĩ mù Nguyễn Đình Chiểu đã từng ngâm trong bài “Thuật hoài”:
Sự đời thà khuất đôi tròng mắt!
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
Tấm gương ấy được nhờ người đại diện rất sáng suốt của Quốc trưởng Pétain treo cao hôm nay cho quốc dân chung rọi. Đối với tình tri kỷ, đối với lòng sùng bái của đồng bào, ở tận chốn suối vàng, cụ không thể “khuất đôi tròng mắt”, mà trái lại cụ mở bừng mắt ra để xem cuộc cải tạo quốc gia ngày nay, và sẽ khoan khoái mà ngâm lại câu kết bài “Thi cảm” của cụ:
Ngày nào thánh đế ơn soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Bến Tre, ngày 19-6-1943)
(Rút trong sách Hào khí Đồng Nai, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014)
(còn tiếp)
Nguồn: Lời cuối với nhà văn đã đi xa. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 2016.
www.trieuxuan.info
|