Điếu văn do cụ Phan Bội Châu đọc trong đám tang cụ Phan Châu Trinh.
- Câu đối:
“Thương hải vị điền, Tinh Vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền”.
Nghĩa:
“Biển thẳm lấp chưa bằng, Tinh Vệ còn đội đá
Chung Kỳ thôi đã mất, Bá Nha dứt dây đờn”.
Văn tế:
“Than ôi! Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri;
Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét hãy đau lòng hậu bối.
Vẫn biết tinh thần di tạo hóa, sống là còn mà thác cũng như còn; Chỉ vì thời thế khuất anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi.
Lấy ai đây nối gót nghìn thu;
Vậy ta phải kêu người chín suối.
Nhớ ông xưa:
Tú dục Nam Chu;
Linh chung Đà Hải.
Nghiệp thừa gia cung kiếm cũng pha đường;
Nền tác thánh thi thơ từng thuộc lối.
Gan to tày bể, sức xông pha nào kể ức muôn người;
Mắt sáng hơn đèn, tài lanh lợi từ khi năm bảy tuổi.
Vận nước gặp cơn dâu bể, đeo vai thân sĩ còn lòng đâu mà áo mũ xênh xang;
Thói nhà chăm việc bút nghiên, dẫu một anh hùng, khi tạm cũng khoa trường theo đuổi. Song le,
Khí vẫn chanh vanh;
Chí càng viễn đại.
Tài Mã Nê đương chứa sức hô hào;
Tuồng Lỗ Địch quyết ra tay đào thải.
Đội tiên phong đâu tá? Gió duy tân từ Đông Hải thổi vào.
Gương ngoại quốc kia là? Sóng cách mạng bởi Âu châu dồn tới.
Dọc ngang trời đất rực vẻ văn minh;
Tức tối nước nhà cam đường hủ bại.
Cá chậu chim lồng vơ vẩn thế, áo công danh thôi vất lối tầm thường;
Rồng mây cọp gió lạ lùng gì, miền thanh khí thử hô người trung ngoại.
Cậy tài học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức, so sánh người xưa;
Mượn đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân, lỏi len đường mới.
Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió đã gai ghê;
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói.
Phỏng khiến: trình độ dân ta cao, trí thức dân ta giỏi; sức dân ta ngày một dồi dào; khí dân ta ngày càng cứng cỏi.
Một tiếng xướng có muôn tiếng họa, thần tự do nên đủng đỉnh về đây;
Bạn người Việt với thầy người Tây, ma chuyên chế dám dùng dằng ở mãi.
Nào hay trời đã éo le,
Người càng quỉ quái.
Chứa chan máu quốc, nước vẩn vơ hồn;
Xao xác tiếng gà, trời mù mịt tối.
Tràng nô lệ chung quanh là rắn rít, văn cứu thời khen khéo gây oan;
Ổ dã man ngan ngát những hùm beo, miền ái quốc hóa nên buộc tội.
Thành Hà Nội ùn ùn mây ác độc, nào kẻ lánh mình, nào người chống thuế, chữ âm mưu tô vẽ đủ trăm đường;
Đảo Côn Lôn rực rực lửa oan cừu, thây người yêu nước, thây kẻ thương dân, tơ xướng loạn dệt thêu ra một mối.
Mưa dồn gió giật, xui khách lưu ly;
Biển thảm trời xa, xót ông chìm nổi.
Thân, Dậu, Tuất, bấy nhiêu năm tân khổ, khi đào cây, khi lượm đá, giữa biển trần gió bụi cũng thung dung;
Đặng, Hoàng, Ngô, ba bốn bác hàn huyên, khi cốc rượu, khi ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khảng khái.
Hồi đen mây cũng lần lữa; Lòng đỏ vẫn còn hăng hái.
Quay đầu lại trả ân tù đạo, tấm thân già còn nặng gánh giang san; Bước chân đi tìm bạn Âu châu, đôi tay trắng quyết phất cờ xã hội.
Án tại phạm vì lời thông Đức, dạ sắt vàng thêm thử lại thêm bền;
Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm chớp chẳng kinh cùng chẳng hãi.
Gương vĩ nhân treo những bao giờ;
Hồn cố quốc vừa về năm ngoái
Trước mắt nào ai hớn hở, thấy ngựa xe luống ngẩn ngơ chiều;
Bên tai những tiếng kêu van, nghe sưu thuế càng ngao ngán nỗi.
Dưới miệng cọp gửi đoàn con đỏ, phúc trùng lai thêm hận dạ tha hương;
Trên quyền người giữ giống da vàng, lòng cảm tử quyết lùa quân hậu đội.
Ước những chuông đều trống nhịp, khắp ba kỳ cho vang tiếng reo hò;
Mới là anh trước em sau, dắt một lũ để đồng bào gắng gỏi.
Khéo vô tình trời chẳng chiều người;
Nên bất hạnh mừng mà hóa tủi.
Tiệc hoan nghênh mới đó, não nùng rượu chửa phai mùi;
Hội truy điệu liền đây, thấp thoáng hương đà bén khói.
Anh em ta đất rẽ đôi đường, tình chung một khối.
Gánh tồn vong ai cũng nặng nề;
Nghĩa chung thỉ lòng càng bối rối.
Sóng gió một con thuyền chung chạ, ngọn chèo đang lúc cheo leo;
Mây mù muôn dặm đất xa khơi, dấu ngựa nhờ ai dong ruổi.
Ngại ngùng thay người ngọc núi xa; Ngẫm nghĩ những giọt châu mưa xối.
Thương ôi!
Bể bạc còn trơ:
Trời xanh khó hỏi.
Nghìn vàng khôn chuộc lấy anh hào;
Tấc dạ dám thề cùng sông núi.
Trước đã giỏi thời sau nên giỏi nữa, dấu “cộng hòa” xin ráng sức theo đòi; Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang “độc lập” quyết đều tay vin vói.
Lời này ông có xét chăng! Lòng ấy trời đà soi dọi”.
Phan Bội Châu
Sách Phan Châu Trinh toàn tập, tập I, NXB Đà Nẵng, 2005.
MONG MAI SAU NHỮNG NGƯỜI KẾ CHÍ TIÊN SINH, LÀM VẺ VANG DÂN TỘC VIỆT NAM
Điếu văn của cụ Huỳnh Thúc Kháng, thay mặt anh chị em Trung Việt đọc trong đám tang cụ Phan Châu Trinh.
Tây Hồ Phan tiên sinh,
Ngày nay là ngày tiên sinh và anh em chúng tôi vĩnh quyết! Tôi xin thay mặt cho đồng bào Trung phần đứng ngay trước linh cữu tiên sinh và trước mặt đồng bào ba phần mà tỏ ít lời ai điếu.
Vẫn biết kiếp người dường khách tạm, sinh tử là lẽ thường, tiên sinh chính là người đạt giá, chẳng bao giờ lấy làm quan tâm, nhưng mà trong lúc hiện thời nầy xã hội Việt Nam ta đặng một người ái quốc nhiệt thành như tiên sinh, tài học lịch duyệt như tiên sinh, nghị lực như tiên sinh, khí tiết như tiên sinh chắc là ít có. Vậy thì cái sống chết của tiên sinh chẳng là có quan hệ cho dân tộc ta lắm ru?
Một đoạn lịch sử của tiên sinh hơn hai mươi năm trời, nào bị tù, bị đày, ở nước này sang nước khác, trải bao nhiêu phen nguy hiểm, trong giây phút này không thể lịch thuật lại cho được; chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói sơ: Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền tự do, còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói rằng: “Tình hình trong nước bây giờ, đang vào nguy ngập, nếu muốn cải cách thì cần phải có liên lạc đoàn thể mới được”. Tiếc cho người nước mình, đang còn mê mộng, đồng chí với tiên sinh chẳng được mấy người, vì vậy mà tấm lòng bi phẫn hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh; huống gì những điều mắt thấy tai nghe dễ làm cho tiên sinh cảm xúc mà đau được, chết được, thương ơi!
Bắt đầu tiên sinh mới đau, trông thấy tiên sinh người đã gầy, khí sắc đã kém mà tiên sinh còn tổ chức hai cuộc diễn thuyết, diễn thuyết rồi thì bệnh thế một ngày một tiến thêm. Đến khi tiên sinh bệnh đã trầm trọng, mà tiên sinh vẫn cứ khẳng khái như thường, đôi khi tiên sinh còn gượng dậy vừa cười vừa nói rằng: “Tôi vẫn thường, chỉ thỉnh thoảng đau một chút thôi, rồi đây tôi sẽ về Trung phần thăm ông Sào Nam, để chung cùng bàn định”.
Ôi! Một người như tiên sinh mà chí chưa thành tựu, mà đã vội vàng già rồi, vội vàng chết rồi, đáng kính mến thay, đáng thương tiếc thay!
Từ khi tiên sinh đau, đến khi tiên sinh mất, đồng bào Trung phần chúng tôi ở đây, chỉ có năm bảy người tới lui săn sóc, sự điều hộ châu toàn phần nhiều nhờ chị em anh em Nam phần, chúng tôi vẫn tự lấy làm hối hận. Nói đến đây, càng khiến cho chúng tôi ngậm ngùi mà bi cảm vô cùng.
Thôi, đất vàng một nắm, giấc mộng nghìn thu, sự nghiệp anh hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi chỉ mong mai sau này những người kế chí tiên sinh, làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta, thì linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi chín suối vậy.
Huỳnh Thúc Kháng
Sách Phan Châu Trinh toàn tập, tập I, NXB Đà Nẵng, 2005. |