Sau ngày sụp đổ nền văn minh Ấn Giáo ở miền bắc vào năm 1471, vương quốc Champa ở miền nam vẫn tiếp tục hiện hữu, nhưng lại từ bỏ mọi thể chế chính trị vay mượn từ Ấn Độ rất có hiệu lực cho đến thế kỷ thứ XV, để thay thế vào đó một hệ thống tổ chức quốc gia hoàn toàn mới mẻ, dựa vào truyền thống bản địa của Kauthara và Panduranga, pha lẫn với một số yếu tố của thế giới Mã Lai, một khu vực mà vương quốc Champa đã hòa nhập vào kể từ cuối thế kỷ thứ XV qua các mạng lưới thương mại hàng hải nối liền với các hải cảng nằm trên bờ biển Nam Hải của Trung Hoa (D. Lombard, Le Carrefour
javanais. Essai d’histoire globale: II. Les réseaux
asiatiques, Paris, Editions de l’EHESS, 1990). Kể từ đó,
các quốc vương Champa ở miền nam từ bỏ hoàn toàn quan
niệm thần thánh hóa bản thân của mình như thời xa xưa để
trở thành các nhà lãnh tụ chính trị điều hành quốc gia
trong nghĩa rộng của nó. Đây cũng là thời điểm đánh dấu
cho sự ra đời của một khái niệm chính trị rất mới mẻ trong
đó quyền lực của một chính quyền chỉ dựa vào sự giàu có
và thịnh vượng của một quốc gia mà thôi. Kể từ đó,
Champa không còn chú tâm nhiều đến việc phát triển
nông nghiệp cổ truyền như vào thời Ấn Giáo nữa mà là
tìm cách làm chủ hệ thống trao đổi kinh tế giữa những hải
cảng lớn nằm trong khu vực. Chính vì thế, các quốc vương
Champa đã biến hệ thống thương mại hàng hải thành một
tổ chức độc quyền của nhà vua và đã nhiều lần trở thành
các đại thương gia giống như các quốc vương Mã Lai
thường áp dụng.
Nhằm phát triển mạnh hệ thống kinh tế mới này,
các quốc vương Champa sau thế kỷ thứ XV thường tuyển
chọn vào giai cấp điều hành quốc gia của mình một số
nhân vật gốc người Đa Đảo nhằm nắm giữ các chức vụ cố
vấn kinh tế cho hoàng gia Champa cũng như việc thiết lập
và phát triển các mối quan hệ với các thương gia, các
người lái tàu, các đại diện chủ hàng và nhất là mối quan
hệ với nước ngoài mà các tài liệu Champa cũng như các
lời tường thuật của các nhà thương thuyền Tây Phương
thường kể lại. Cũng nên nhớ rằng, vào giữa thế kỷ XVI và
XVIII tiếng Mã Lai là ngôn ngữ ngoại giao rất thông dụng
ở vùng Đông Nam Á Châu. Vì rằng tất cả các cuộc trao
đổi kinh tế chính trị qua các cuộc đối thoại hay viết thành
văn bản chính thức giữa các quốc gia nằm trong khu vực
hay với những người Tây Phương đều thực hiện bằng ngôn
ngữ Mã Lai. Hiệp ước giữa vương quốc Campuchia và
Hòa Lan ký vào năm 1656 nhưng viết bằng tiếng Mã Lai
là một thí dụ điển hình. Chính vì thế, trong triều đình của
các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á Châu thời
đó thường có những người nói tiếng Mã Lai rất thông thạo.
Họ phải là những người Mã Lai chính thống mới có thể
nói rành tiếng mẹ đẻ của họ và có khả năng để đọc cả văn
bản viết bằng tiếng Ả Rập. Bên cạnh những người Mã Lai
giữ vai trò cố vấn, vua chúa Champa thường tuyển chọn
vào triều đình của mình những quan lại gốc người Chăm
Ahier (tạm gọi là Bà La Môn) và bắt đầu từ thế kỷ XVII
cả người Chăm Bani (Hồi Giáo không chính thống) và kể
cả người Tây Nguyên như sắc dân Eđê, Churu và Raglai,
tức là dân tộc nói tiếng nói Đa Đảo. Mỗi sắc dân phục vụ
trong triều đình Champa thường đóng vai trò riêng biệt
trong tổ chức tôn giáo, quân sự, tài chánh (kiểm soát việc
thu thuế, v.v..), kinh tế (kiểm soát việc đãi vàng, v.v..) và
hành chánh.
Hệ thống tổ chức chính trị mới này đã diễn ra tại
miền nam Champa cho đến giữa thế kỷ thứ XVII. Kể từ
đó, vua chúa nhà Nguyễn, sau khi đặt quyền bảo hộ trên
lãnh thổ Panduranga, đứng ra chọn lựa những nhà cầm
quyền Champa rất thân cận với mình hầu kiểm soát họ
chặt chẽ hơn bằng cách ban cho họ những vương hiệu tối
cao với mục đích dỗ dành họ phải phục tùng oai quyền của
triều đình Huế. Tình trạng này kéo dài trong suốt cuộc nội
chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn từ năm 1771 cho đến
năm 1802. Trong khoảng thời gian này, các quốc vương
Champa nắm quyền cai trị đất nước mất hết tất cả quyền
hành và chỉ hành động như kẻ múa rối theo chiêu bài của
nhà Nguyễn, nhưng họ vẫn còn tồn tại trên ngai vàng cho
đến khi hoàng đế Minh Mệnh quyết định khai trừ họ và
xóa bỏ danh xưng Panduranga-Champa ra khỏi bản đồ vào
năm 1832.
Kinh tế
Các tài liệu lịch sử ít khi bàn đến một cách sâu
đậm về tình hình tổ chức kinh tế Champa trước hay sau thế
kỷ XV. Mặc dù như thế, người ta cũng biết rằng vương
quốc này có hai nền kinh tế song phương với nhau trong
quá khứ, đó là nền kinh tế tự cung tự cấp (éonomie de
subsistance) của đại đa số quần chúng tập trung hầu hết
các nông dân và ngư dân dọc theo bờ biển và nền kinh tế
lợi nhuận (éonomie de profit) mà triều đình Champa
thường áp dụng với các nhà buôn nước ngoài.
Hầu hết các dân cư Champa sống ở vùng đồng
bằng cũng như toàn thể người Tây Nguyên chuyên sống
về nông nghiệp. Nghề trồng lúa vốn là sinh hoạt chính của
họ. Chính vì thế, “ăn cơm” trở thành cụm từ rất phổ thông
trong các quốc gia thuộc về khu vực Đông Nam Á. Cũng
nhờ các văn bia có nội dung liên quan đến việc dâng hiến
hoa màu cho các đền tháp mà người ta biết rằng cư dân
Champa sinh sống ở vùng đồng bằng là tập thể chuyên
khai thác ruộng lúa qua hệ thống dẫn thủy nhập điền
(BEFEO IV, 1904, trg.959, 962). Ngược lại, dân tộc sống ở
vùng cao thì khai thác cánh đồng đất trũng (champs de
dépressions) dọc theo ngọn đồi. Vì khí hậu khô hạn
thường diễn ra tại một số vùng ở phía nam, thành ra các
khu vực canh tác của Champa cần phải có hệ thống dẫn
thủy nhập điền bắt nguồn từ các mương đập. Kể từ đó,
cụm từ “cấp nước” trở thành công trình chính yếu của các
nhà vua dành cho tập thể nông dân (BEFEO IV, 1904, trg.
942,943). Đương nhiên người ta không biết rõ cho lắm, dù
là phỏng chừng đi nữa, về số lượng sản xuất lúa gạo vào
thời kỳ Champa Ấn Giáo, bởi vì sản phẩm nông nghiệp
thường định giá bằng jak. Ngoài sản phẩm lúa gạo, các tài
liệu Chăm cổ không bao giờ cho biết các loại giống hoa
quả và cây cối dùng trong ngành trồng trọt tại vương quốc
này, mà chỉ nhắc đến các loại thực phẩm, hạt giống và các
phương tiện kinh tế tự cung tực cấp mà thôi. Cũng nhờ tư
liệu viết bằng tiếng Mã Lai, người ta biết rằng vương quốc
Champa có một số loại cây trồng trên các mảnh đất không
cần dẫn thủy nhập điền như cây mè, cây đậu, cây chuối,
cây mía, cây dừa mà người ta dùng làm “rượu dừa” như tài
liệu Trung Hoa ghi lại. Theo nhật ký của Linh Mục Odoric
de Pordenone liên quan đến chuyến công du của ông ta tại
khu vực Á Châu vào thế kỷ XIV, người dân Champa vào
thời kỳ đó có đủ lương thực để sinh sống. Người ta cũng
không biết nhiều hơn về ngành nông nghiệp Champa sau
thế kỷ XV mặc dầu các thương thuyền Âu Châu có mặt
trên hải phận của vương quốc này kể từ năm 1540 đã
thường xuyên lập bảng kê khai các loại hàng hóa và thực
phẩm mà họ có thể dùng vào việc buôn bán. Trong số các
loại hàng hóa này, người ta cũng không biết đến các loại
sản phẩm cồng kềnh sản xuất tại Champa mà người nước
ngoài không dùng đến. Lúa là một loại giống thịnh hành
nhất trong ngành nông nghiệp của vương quốc này, nhưng
người ta cũng không biết sản lượng trồng trọt là bao nhiêu,
trong lúc đó lúa gạo là lương thực chính yếu dùng vào việc
đổi chác, vay mượn hoặc trả góp. Vì rằng dân tộc Chăm
sinh sống tại đồng bằng thời đó không trồng cau và trầu,
thành vậy họ dùng lúa gạo để đổi chác sản phẩm này với
người Việt Nam. Ngoài loại ngủ cốc này, người dân
Champa thường trồng khoai lang (Convolvulus Batatas
Linné) dùng làm lương thực thay gạo vào lúc thất mùa.
Bông vải (Gossypium hirsutum) là sản phẩm rất phát triển
trong khu vực Bình Thuận trong khi đó thuốc lá rất thịnh
hành tại vùng Phan Rang. Họ cũng trồng cây dừa và các
loại cây trồng khác ít quan trọng hơn. Song song với việc
canh tác các loại cây cối dùng để tiêu thụ, người dân
Champa còn chuyên làm nghề thu nhập những sản phẩm
thiên nhiên do núi rừng cung cấp, nhất là rau cải và hoa
quả mà họ thường sử dụng để làm món ăn hàng ngày. Họ
cũng làm nghề săn bắn các loại thú nhỏ, như thỏ rừng, gà
rừng, con tê tê (pangolin), chim rừng, con công (BEFEO
XI, 1911, trg. 291, 296). Nghề săn bắn của họ thường diễn
ra hàng ngày, nhất là nhân dịp đồng án, đã đem lại cho
bữa cơm của họ có thịt, vì việc chăn nuôi mang tính cách
gia đình không thể cung cấp cho họ những món thịt thường
xuyên, một phần do bệnh dịch súc vật, đặc biệt là cúm bò
thường hay tàn phá ngành chăn nuôi gia súc và phần khác
thì xuất phát từ lễ tế thường sử dụng quá nhiều thú vật gây
ra nạn thiếu thiếu thốn về gia súc, gia cầm mà họ chăn
nuôi trong gia đình. Cuối cùng các nông dân này cũng làm
nghề câu cá sông và cá hồ nhằm tăng cường thêm thực
phẩm để dùng trong gia đình.
Các ngư dân Champa sống ven biển Nam Hải chạy
dài hơn 800 cây số cũng có một cuộc sống kinh tế rất gần
gũi với tầng lớp nông dân, nhưng chỉ có một sự khác biệt
hơn đó là ngư dân dùng hải sản của mình để đổi lấy gạo
của nông dân. Chính vì thế cá và gạo là thực phẩm cơ bản
của vương quốc Champa thời đó, nhất là phía nam
Champa, một hải phận rất nhiều cá mà Linh Mục Odoric
de Pordenone đã ghi nhận vào thế kỷ XIV.
Hầu hết nhân dân Champa chỉ chuyên sống về
nghề nông nghiệp và ngư nghiệp. Ngược lại, vua chúa và
quan thần Champa thường đặt trọng tâm vào nền kinh tế
có lợi nhuận qua các việc buôn bán với các thương thuyền
Ấn Độ, Trung Hoa, Mã Lai, Ả Rập, và kể từ thế kỷ thứ
XVI với người Âu Châu. Các thương thuyên này thường
mua các sản phẩm có hương thơm, da thú rừng và kim loại
quí theo sự đòi hỏi của thị trường. Quốc vương Champa là
người chiếm độc quyền để cung cấp những sản phẩm cho
thị trường này.
Vào những năm đầu của Tây Lịch, vương quốc
Champa dường như đã bắt đầu tham gia vào việc trao đổi
kinh tế với một số quốc gia lân cận. Một số mảnh vỡ của
hiện vật gốc Trung Hoa và Ấn Độ được tìm thấy tại Trà
Kiệu đã chứng minh điều đó. Kể từ các năm đầu của thế
kỷ thứ V, tài liệu Trung Hoa thường ghi rằng Champa là
quốc gia đã có một đội ngũ hàng hải quan trọng thường
dùng vào việc đánh phá các bờ biển Đại Việt ở phía bắc
và chuyên về ngành di chuyển hàng hóa trên đại dương.
Chính vì thế, một số tài liệu lịch sử thường cáo buộc rằng
ngành hàng hải của Champa thời đó chỉ là đơn vị chuyên
làm nghề cướp biển. Mặc dầu người ta không biết số
lượng tàu bè thuộc đơn vị hàng hải của vương quốc này,
nhưng người ta có thể nghĩ rằng Champa phát triển rất
mạnh ngành thương thuyền của mình vào đầu thế kỷ thứ
IX, khi khu vực Tây Á và Trung Á, vì tình hình an ninh
không cho phép, không dùng được đường bộ xuyên lục địa
Châu Á còn gọi là con đường tơ lụa, để làm hệ thống giao
thông nữa. Kể từ đó, các nhà thương gia buôn bán phải
chọn đường biển để chở hàng hóa của họ.
Phải nói rằng ngành thương mại hàng hải đã đem
lại cho Champa một nguồn tư lợi vô cùng lớn lao, bởi vì
các tàu bè quốc tế phải dừng chân tại bờ bể của vương
quốc này để tiếp tế lương thực và nhất là Champa có
nhiều hải cảng nổi tiếng như Turan (Đà nẵng hiện nay),
Kam-ran (Cam Ranh), Sri Banoy (hải cảng của Vijayapura
trong vịnh Qui Nhơn hiện nay), Malithit (Phan Thiết), v.v.
Và các vị vua đầu tiên của Champa đã từng hưởng nền trù
phú của ngành thương mại này là triều đại của Indrapura
(Đồng Dương) mà các tư liệu khảo cổ học đã từng chứng
minh. Kể từ đó, Champa trở thành một quốc gia hùng
mạnh về ngành hàng hải. Năm 1177, hạm đội Champa đã
chuyên chở nguyên đoàn quân của mình để đánh phá
Angkor và vào năm 1203, có hơn hai trăm chiếc tàu buồm
đã tháp tùng vị vua Champa đóng đô ở Vijaya để vượt
biên lánh nạn (Việt Sử Lược III). Lực lượng hàng hải này
cấu thành những đơn vị hải quân đã giúp vương quốc
Champa gia tăng mạnh mẽ ngành trao đổi thương mại của
mình với Trung Hoa, Ấn Độ và các nước Trung Đông
chuyên về nghề buôn bán các sản phẩm.
Sự sụp đổ của thủ đô Vijaya vào năm 1471 không
làm cản trở nền thương mại của Champa bị thu hẹp lại ở
miền nam, vì vương quốc này trở thành một quốc gia đã
hội nhập rất nhanh vào vòng cầu kinh tế của tiểu vương
quốc Malacca (Mã Lai), tức là trung tâm thương mại quốc
tế thời đó. Kể từ đó, Champa tìm cách đưa ngành thương
thuyền của mình vào các mạng lưới thương mại hàng hải
nối liền các hải cảng của tàu bè và các kho chứa hàng hóa
nằm trên các bờ biển Nam Hải. Và tình hình thương mại
này kéo dài đến giữa thế kỷ XVII, tức là thời điểm mà vua
chúa nhà Nguyễn đã ngăn cấm các tàu bè nước ngoài cập
bến Champa và mua bán với vương quốc này, một ngành
thương mại đã mang lại nhiều lợi nhuận cho vua chúa và
quần thần Champa thời đó.
Trong số các món hàng đổi chác chính yếu trong
ngành hàng hải đã đem lại nguồn lợi nhuận quan trọng cho
triều đình Champa vào thời kỳ Ấn Giáo hay sau thế kỷ thứ
XV, người ta phải kể đến một loại sản phẩm của Champa
đã từng gây bao tiếng vang từ Nhật Bản cho đến Trung
Đông đó là gỗ trầm (gahlau), tỏa hương thơm rất là đặc
biệt mà các nhà thực vật học (botaniste) vẫn chưa tìm ra
những bí ẩn trong tinh chất hương thơm của nó. Đây là một
loại cây đòi hỏi bao kiên nhẫn và nghi lễ phiền phức trước
khi khởi công đi tìm, nó và cũng là sản phẩm rất quí trong
danh sách hàng hóa từ thuở xa xưa. Trầm hương Champa
được xem như là loại trầm quí giá nhất bởi người Ấn Độ
vào đầu kỷ nguyên ; bởi người Trung Hoa kể từ thời kỳ
Lâm Ấp (Lin Yi), vì gỗ này được liệt kê vào danh sách
của sản phẩm mà Champa phải triều cống hoàng đế của
họ ; bởi các tác giả Ả Rập như Al-Mas’udi vào thế kỷ thứ
X và Al-Idrisi vào thế kỷ XII để rồi họ gọi trầm hương
Champa là sanf ( tiếng Ả Rập: sanf = Campa) ; bởi các tác
giả Bồ Đào Nha dưới tên gọi của gỗ này là calambac kể từ
giữa thế kỷ thứ XVI và vào thế kỷ kế tiếp bởi các thương
gia Hòa Lan. Trầm hương Champa là chủ đề mà người ta
tìm thấy hầu hết trong những hồi ký của người thương gia
thời đó, vì thị trường của gỗ quí này đã mang lại một
nguồn lợi nhuận lớn lao nhất. Bởi vì thế, vào thế kỷ thứ
XV người Trung Hoa cho biết giá trầm hương mua tại
Champa, nếu tính theo trọng lượng, thì bằng giá bạc kim
vào thế kỷ thứ XVII. Người Âu Châu còn ghi rằng giá trị
của trầm hương có thể gia tăng gấp 15 lần giữa giá mua tại
Champa và giá bán lại tại Nhật Bản hay tại Trung Đông.
Theo người Âu Châu, có sự khác biệt giữa trầm hương
mang tên là bois d'aloès hay calambac với trầm hương tên
là bois d’aigle mà các nhà thực vật học vẫn không biết rõ
nguồn gốc của nó. Ngược lại nhiều tác giả hiện đại vẫn
thường nghĩ rằng trầm hương (bois d'aloès) và trầm hương
(bois d’aigle) có giá trị ngang nhau, trong khi đó các nhà
buôn Âu Châu vào thế kỷ XVII trị giá trầm hương bois
d’aigle rẻ hơn 20 lần so với trầm hương mang tên là bois
d'aloès hay calambac.
Nếu người ta biết rõ về thị trường của gỗ trầm
hương (bois d'aloès) thì ngược lại người ta ít biết về giá cả
của các sản phẩm lâm nghiệp khác mà các tài liệu Trung
Hoa và Bồ Đào Nha thường ghi lại từ đầu thế kỷ thứ XVI.
Một số sản phẩm lâm nghiệp đã trở thành món hàng
thương mại độc quyền của nhà vua hay quan lại Champa
thời đó là vỏ cây quế rừng của miền trung Viêt Nam
thường gởi sang Nhật Bản cho đến khi quốc gia này quyết
định bế môn tỏa cảng với thế giới bên ngoài vào thế kỷ
XVII. Bên cạnh quế rừng là cây đàn hương (santal) và đậu
khấu (cardamom) thường mọc trên vùng cao mà người ta
hái hạt để xuất khẩu sang Trung Hoa.
Trong số các sản phẩm khác mà các nhà thương
thuyền thường đặt mua tại Champa gồm có các loại da
thú, sừng thú, gỗ quí và một số nội tạng (viscère) thú vật
mà viện bào chế thuốc men của Trung Hoa thường yêu
cầu đó là nội tạng của trâu rừng, bò rừng Nam Á
(banteng), con hưu, tê giác cấu thành một đàn động vật rất
đông đảo trên vùng cao nguyên. Theo tài liệu Trung Hoa,
vua Champa đã chiêu cống vào năm 995 cho hoàng đế của
quốc gia này mười chiếc sừng tê giác, hơn ba trăm chiếc
ngà voi. Người ta cũng không quên những loại da của thú
dữ khác, như cọp và beo, vừa sống ở vùng đồng bằng và
trên cao nguyên, thường được xuất khẩu đến các hải cảng
có kho dự trữ hàng hóa chờ ngày chuyên chở sang Âu
Châu. Sau cùng, một sản phẩm khác cũng nằm trong danh
sách hàng hóa xuất cảng đó là ngà voi rừng mà các người
Tây Nguyên phải nộp một phần nào cho triều đình
Champa thời đó như một loại thuế có kỳ hạn mà các vua
chúa của vương quốc này thường sử dụng vào các thế kỷ
XVI và XVII để đổi chác dưới hình thức món hàng da lông
thú (pelleterie) với các thương thuyền nước ngoài trên
đường sang Trung Hoa.
Các vị vua Champa cũng kiểm soát việc khai thác
mỏ kim loại quí và nắm độc quyền thương mại về sản
phẩm này kể từ cuối thế kỷ XV. Kim loại quí quan trọng
nhất trong thị trường thời đó là vàng lẫn lộn trong cát của
sông rạch. Việc khai thác mỏ vàng tại Champa trở thành
một kỹ nghệ đáng kể vì số lượng và trọng lượng của
những bảo vật làm bằng vàng mà các vị vua Champa Ấn
Hóa đã từng dâng hiến cho các vị thần của họ là một thí
dụ điển hình. Chẳng hạn vua Harivarman V, chỉ riêng năm
1114, đã dâng hiến cho thần Sri Sanabhadresvara chín
món vật bằng vàng với trọng lượng hơn 20 kilogram
(BEFEO IV, 1904, trg. 951, 952). Món thứ hai là bạc có
khối lượng rất lớn nằm trong các mõ ở miền nam của
Indrapura, Amaravati và phía bắc của Vijaya, mà quốc
vương Champa thời Ấn Giáo đã dâng cúng một cách rộng
rãi cho các điện thờ tôn giáo. Vào năm 1174, vua Jaya
Indravarman V đã dâng hiến gần 60 kilogram bạc cho thần
Sri Sanabhadresvara nhằm trang trí một căn điện thờ nhỏ
và công trình xây dựng phần phụ thuộc của đền này nhằm
ca ngợi sự quang vinh của ông ta (BEFEO IV, 1904, trg.
971, 974. Sau ngày Vijaya sụp đổ, Champa không còn làm
chủ một số con sông có mỏ vàng và toàn bộ các mỏ bạc.
Tuy nhiên, Champa vẫn tiếp tục sản xuất vàng mặc dù số
lượng ít hơn mà các vị vua của vương quốc này nắm độc
quyền buôn bán với các thương thuyền Bồ Đào Nha, Hòa
Lan và Việt Nam. Cùng trong thời gian đó, người ta cũng
không biết Champa có khai thác mỏ bạc hay không, bởi vì
các tài liệu kể từ đầu thế kỷ XVI không nhắc đến tên của
kim loại quí này.
Nghệ thuật
Các đền đài nằm rải rác trên lãnh thổ của Champa
Ấn Hóa xưa kia đã thu hút rất nhiều sự lưu ý của những
nhà nghiên cứu người Pháp khi họ đặt chân đến các vùng
đồng bằng của miền trung Việt Nam thời đó. Về sau, việc
khám phá quần thể di tích lịch sử nằm trong thung lũng
của Mĩ Sơn với 70 đền đài của nó bị chôn vùi dưới cỏ cây
hoang phế chưa nói đến các di tích trang nghiêm trong khu
vực Đồng Dương mà H. Parmentier và C. Carpeaux đã ra
công khai quật từ đầu thế kỷ thứ XX đã giúp cho người ta
có một cách khái quát về tầm mức quan trọng của nền
nghệ thuật đền đài Champa (Missions archéologiques
francaises au Champa, Photographies et itinéraires 1902-
1904, Paris, Les Indes savants, 2005). Việc cập nhật hằng
loạt các bức tượng và các tác phẩm điêu khắc Champa
nằm trong chương trình bảo tồn di sản lịch sử do các nhà
khoa học và kiến trúc sư của Viện Viễn Đông Pháp
(EFEO) thực hiện đã xác nhận một lần nữa giá trị của các
di tích này. Một số hiện vật khảo cổ được kiểm kê một
cách có hệ thống và một số khác được đưa vào Viện Bảo
Tàng do ông H. Parmentier thành lập tại Tourane (Đà
Nẵng). Kể từ cuối năm 1969, một số đền tháp nằm trong
quần thể Mĩ Sơn và khu vực Đồng Dương cũng như các
cao địa khảo cổ và văn hóa khác của Đông Dương đã bị
tàn phá dưới bom đạn của không lực Hoa Kỳ để rồi các cơ
quan văn hóa của Cộng hòa Xã hội Việt nam phải ra công
tháo mìn và trùng tu cả chục ngôi đền nằm trong khu vực
này sau ngày chấm dứt chiến tranh vào năm 1975.
Nếu hôm nay người ta tiếp thu được một cách khái
quát về kỹ thuật kiến trúc đền tháp Champa ở miền trung
Việt Nam dù di tích này vẫn còn hiện hữu hay đã bị tàn
phá đi nữa cũng là nhờ các hình vẽ và bản in mà các
nghiên cứu chuyên về Champa đã lưu lại. Về phương diện
cấu trúc, các đền tháp Champa chỉ là công trình kiến trúc
mang tính cách tín ngưỡng của Ấn Giáo và Phật Giáo do
gia đình hoàng gia thực hiện và luôn luôn rập theo một
khuôn mẫu đồng nhất. Trong một quần thể đền tháp lúc
nào cũng có một ngôi tháp chính điện mang tên là Kalan,
bên trong có một bức tượng thần linh, thường là linga.
Chung quanh tháp chính diện là các đền phụ thuộc (thông
thường là hai đền) có diện tích không lớn cho lắm. Các
ngôi tháp này thường là hình vuông xây bằng gạch nung,
một ngành kỹ nghệ rất nổi tiếng của vương quốc này.
Trong suốt chiều dài lịch sử của Champa Ấn Hóa, nghệ
thuật kiến trúc đền tháp không thoát khỏi sự tiến hóa trong
không gian. Chính vì thế các chuyên gia phải hệ thống hóa
lại các thể loại phong cách kiến trúc và niên đại của nó
dựa vào các yếu tố rất thuyết phục mà mọi người đều nhất
trí chấp nhận cho đến hôm nay (P. Stern, L’art du Champa
(ancient Annam) et son évolution, Toulouse, Douladoure,
1942).
Mặc dù các tư liệu Trung Hoa thường cho rằng dân
cư Champa là những nghệ nhân có năng khiếu bậc thầy
chuyên về nghệ thuật xây cất đền tháp bằng gạch nung.
Các văn bia cũng không ngừng nói đến sự phát triển nghệ
thuật rất là mạnh mẽ trên lãnh thổ của Champa, nhưng
vương quốc này không để lại cho hậu thế từ thế kỷ thứ III
cho đến thế kỷ thứ VII, một di sản nghệ thuật nào ngoài
một vài món hiện vật có nguồn gốc của nước ngoài, như
bức tượng Phật Đồng Dương làm bằng đồng tuyệt đẹp,
nhưng nhập cảng từ Ấn Độ.
Kể từ thế kỷ thứ VII, nghệ thuật kiến trúc tại
Champa mới bắt đầu đi vào một kỷ nguyên mới. Việc
khám phá những di tích tráng lệ xây dựng vào giữa thế kỷ
thứ VII và đầu thế kỷ thứ VIII đã cho phép cho người ta
đưa ra kết luận rằng Champa là vương quốc có một nền
kiến trúc cao độ thường mang một phong cách nghệ thuật
riêng biệt, khởi đầu bằng phong cách kiến trúc gọi là Mĩ
Sơn E 1 (mẫu tự A, B, C, D, E, v.v. chỉ định cho nhóm đền
đài nằm trong quần thể của Mĩ Sơn và con số 1, 2, 3. v.v.
chỉ định số điện thờ của từng nhóm). Phong cách Mĩ Sơn E
1 mà ông J. Boisselier đã phân tách là một quần thể di tích
có một sắc nét rất là độc đáo, mặc dầu nó pha lẫn một
phần ảnh hưởng nghệ thuật từ nước ngoài, đặc biệt là nghệ
thuật của Ấn Độ, Môn (Dvaravati), Nam Dương và tiền
Angkor (J. Boisselier, “Arts du Champa et du Cambodge
Préang korien. La date de Mi-sơn E 1”, trong Arts
Asiatiques XIX-3-4, 1956, trg.197-202). Phong cách này có
một nét đặc trưng của nó, đó là các chân tường của đền
tháp thường được trang trí một cách lộng lẫy. Các ô trán
(tympan), mí nhà (frontons ) và cả chiếc bệ (piédestal) của
tượng đá cũng có những phù điêu chạm trổ. Điều đáng chú
ý thêm, đó là mỗi hình tượng đều có phong cách xếp nếp
quần áo riêng, chiều hướng cử động, đồ trang sức, búi tóc
và mũ mão trên đầu của nó.
Từ giữa thế kỷ thứ VIII cho đến giữa thế kỷ thứ IX,
thủ đô chính trị và quyền lực của Champa được dời vào
miền nam, nằm trong khu vực của Panduranga (xem phần
lịch sử). Kể từ đầu của thế kỷ thứ IX, người đa đang chứng
kiến rự ra đời của một phong cách kiến trúc mới gọi là
phong cách Hòa Lai thuộc tỉnh Ninh Thuân, tập trung ba
ngọn tháp, nay chỉ còn có hai. Các đền đài Hòa Lai xây
dựng theo kiểu hình khối (cubique) với chiều cao khoảng
hai mươi mét và chồng chất lên nhau bởi các bực tầng thu
nhỏ lại. Đặc trưng của tháp này là các vòm kiến trúc nhô
ra nằm trên cửa, được trang trí theo kiểu cành lá lượn
(rinceau). Cánh cửa ra vào của tháp này có khuôn hình
chiếc trụ làm đá thạch (grès) và những chỗ nào có mô
hình cửa giả tạo (fausses portes) thường có những thần linh
gác cửa (Dvarapala) đứng hai bên. Đây là phong cách
riêng biệt của miền nam Champa. Kể từ cuối tam thập
niên của thế kỷ thứ IX, phong cách Hòa Lai biến mất để
nhường bước cho một nghệ thuật kiến trúc mới rất đặc biệt
và uy nghi hơn mà người ta gọi là phong cách Đồng
Dương, tức là vào thời điểm mà thủ đô chính trị được dời
sang Vijaya của miền bắc Champa.
Mặc dù bị tàn phá bởi quân đội Hoa Kỳ trong cuộc
chiến tại Việt Nam, Đồng Dương vẫn là một quần thể di
tích Phật Giáo lớn nhất và độc đáo nhất của Champa.
Theo tác phẩm Le Musée de sculpture cham de Đà-nẵng
(Paris, AFAO, 1997, trg. 68-69), tu viện Phật Giáo Đại
Thừa tại Đồng Dương được xây dựng từ năm 875 cho đến
đầu thế kỷ thứ X chiếm một chu vi rộng lớn, dài một cây
số ba trăm thước, tập trung nhiều cánh lầu đài xây bằng
gạch chín, phân chia thành nhiều khu vực. Tất cả các điện
thờ này được trang trí bởi các bức phù điêu khắc trên
tường. Phần lớn diện tích còn lại của bức tường thường
được chạm khắc qua mô hình lá cây cấu thành những nét
cơ bản trong phong cách kiến trúc của Đồng Dương, tức là
lối trang trí có hoa văn lá cây bao phủ khoảng trống của
mặt tháp. Phong cách này cũng được áp dụng vào hai điện
thờ Phật Giáo khác có cùng niên đại của nó, đó là đền Đại
Hữu và Mĩ Đức.
Bước vào thềm của kỷ thứ X, nghệ thuật kiến trúc
Champa được chuyển sang một phong cách mới nữa gọi
phong cách Mĩ-sơn A 1 và được chia thành hai giai đoạn rõ
rệt. Giai đoạn đầu gọi là phong cách Khương Mĩ và giai
đoạn thứ hai là phong cách Trà-Kiệu.
Giai đoạn thứ nhất biểu tượng cho ba ngọn tháp rất
đặc biệt qua phong cách cấu trúc rất hài hòa của nó.
Những cảnh trang trí của những đền này đánh dấu một sự
chuyển tiếp giữa phong cách của Đồng-dương và những
giai đoạn kế tiếp. Phong cách của Mĩ-sơn A 1 đánh dấu
cho sự phát triển cao độ về nghệ thuật kiến trúc đền tháp
của vương quốc Champa. Tháp chính diện A 1 nằm trong
khu vực này là biểu tượng cho nền nghệ thuật của di tích
Mĩ-sơn mà bom đạn của quân lực Hoa Kỳ đã tàn phá
thành tro bụi. Đây là đền đài xây bằng gạch nung được
công nhận như là kỳ quang của vương quốc Champa. Mỹ
Sơn A 1 tập trung rất nhiều đền nằm trong khu vực A, B,
C, D mà người ta có thể tham khảo trên bản đồ do AFAOEFEO
(op. cit., trg. 72-73) thực hiện. Phong cách Mỹ Sơn
A 1 đánh dấu cho sự cân đối hài hòa của nền kiến trúc với
những đường nét rất trong sáng. Bức tường của nó thường
chia thành những tấm khuôn mang đường chỉ nổi và bên
trên của ngọn tháp thường có những miếng tấm thảm nhôi
ra có chạm khắc với mô hình ngọn lửa, gắn liền vào các
gốc của các mái tầng lầu giả, càng lên cao thì kích thước
của nó càng giảm dần. Giai đoạn thứ hai của Mỹ Sơn A 1
khởi đầu bằng những kiến trúc từ chân tường của tháp A 1
với những ô trán (tympan) chạm trổ, nối liền với các chân
tường của các đền đài khác. Các điện thờ hình bát giác
của khu vực Chánh Lộ cũng thuộc về đặc trưng của giai
đoạn này mà biểu tượng phong cách cuối cùng của nó là
một điện thờ Po Nagar ở Nha Trang xây dựng vào đầu thế
kỷ thứ XI.
Sau thời kỳ vàng son của thế kỷ thứ X, nghệ thuật
Champa bắt đầu trải qua một giai đoạn chuyển hóa lâu dài
kể từ đầu từ thế kỷ XII qua phong cách kiến trúc nghèo
nàn và càng nghèo nàn rõ nét hơn trong suốt thế kỷ thứ
XIII. Biểu tượng cho nghệ thuật nằm trong giai đoạn
chuyển hóa này là phong cách của các đền đài nằm trong
khu vực Bình Định và Thấp Mẫm. Đó là Tháp Bạc (5 đền)
với các khung cửa vòm nhỏ có hình mũi nhọn ; Tháp Ngà
(3 đền) còn gọi là tháp Dương Long, có hệ thống rui kèo
(linteau) rập khuôn theo kỹ thuật xây dựng của thời Bayon
Angkor; Tháp Đồng còn gọi là tháp Cánh Tiên và Tháp
Vàng còn gọi là Thốc Lộc. Đặc trưng của phong cách này
là sự xuất hiện các dãy cửa vòm nhỏ (arcature) chung
quanh các ngôi tháp và lằn quăn (frise) của những trụ cột
có những hình động vật mang tính huyền thoại. Theo ông
P. Stern, cách trang trí quá cồng kềnh này thường biểu
tượng qua mô hình điêu khắc của phong cách Thấp Mẫm,
tức là theo mô hình nếp cuộn của con ốc sên, thường chấm
dứt bằng một cái móc.
Kể thế kỷ thứ XIV, nghệ thuật kiến trúc Champa
bắt đầu suy tàn và ngày càng gia tăng. Trước hết nó biểu
lộ qua đường nét nghệ thuật quá lỗi thời rồi dần dần mất
đi vẽ tinh khiết và thanh lịch của nó. Phong cách của giai
đoạn suy đồi này bắt đầu với cách xây dựng của tháp Po
Klaong Garai có thân hình của ngôi đền rất phát triển và
đồ sộ, nhưng các bức tượng dùng vào khung trang trí ở
phần trên của tháp chỉ là những hiện vật quá nhỏ và sơ
sài. Phong cách này vẫn còn tiếp diễn với ngọn tháp nằm
về phía nam của đền Po Nagar Nha Trang mà nghệ thuật
điêu khắc rất là đơn sơ và tầm thường, chưa nói đến các
đền Yang Praong và đền Yang Mum trên miền cao
nguyên. Đền tháp cuối cùng biểu tượng cho sự suy đồi này
là tháp Po Rome. Mặc dù truyền thuyết thường rêu rao cho
sự cao niên huyền bí của nó, tháp Po Rome chỉ là một
công trình xây dựng vào cuối thế kỷ XV hay vào đầu thế
kỷ thứ XVI mà thôi. Tháp này là phong cách kiến trúc
cuối cùng của vương quốc Champa xây bằng vật liệu
cứng, nhưng đó chỉ là cái đền có hình dạng của một khối
gạch trần truồng chồng chất lên nhau.
Cũng nhờ sự khám phá kể từ cuối thế kỷ thứ XIX
rất nhiều hiện vật khảo cổ như bức tượng, tấm đúc, bệ lót,
đà ngang, phù điêu, v.v. mà một số được cập nhật hóa và
chuyển về viện bảo tàng Đà Nẵng hoặc viện bảo tàng
Guimet ở Paris hầu tránh khỏi sự tàn phá của chiến tranh,
nghệ thuật điêu khắc hình tượng Champa trở thành một đề
tài được đăng tải trên nhiều tạp chí khoa học, cụ thể nhất
là tác phẩm của tác giả J. Boisselier (La statuaire du
Champa. Racherches sur les cultes iet l’iconographie, Paris,
Publications de l’EFEO, vol LIV, 1963) nhằm trình bày và
phân tích một số hiện vật nghệ thuật của vương quốc này.
Đây là một tác phẩm nghệ thuật Champa có giá trị khoa
học rất cao mà người ta không thể bỏ qua những phần
chính yếu của nó.
Trong số các hiện vật thuộc phong cách Mĩ Sơn E
1, người ta phải nhắc đến một chiếc bệ rất đẹp và hoàn mĩ
nằm bên trong của tháp này được phát hiện vào năm 1903.
Chiếc bệ này là một hiện vật có mô hình trang trí rất tuyệt
vời trên mọi khung mặt của nó, qua các điệu múa của vũ
nam, các nhạc sĩ cùng với một số nhân vật khác. Người ta
cũng không thể bỏ qua một trán tường (fronton) biểu tượng
cho nền nghệ thuật điêu khắc rất trang nhã, nhằm trình
bày thần Vishnu ở tư thế đang nằm ngủ có chiếc bông sen
mọc từ rún của vị thần này để đánh dấu sự khai sinh của
đấng Brahma.
Ngoài hai bức tượng thần gác cửa (Dvarapala), các
hiện vật thuộc phong cách Hòa Lai (giữa thế kỷ VIII- giữa
thế kỷ IX) có số lượng rất là ít ỏi, đặc biệt là những tượng
Phật nhỏ biểu tượng cho Avalokitesvara (Quan Thế Âm)
làm bằng đồng mang ảnh hưởng nghệ thuật Nam Dương.
Phong cách Đồng Dương cũng để lại nhiều hiện vật
nghệ thuật của Champa. Nó bao gồm những hiện vật biểu
tượng của Đức Phật cũng như những hoạt cảnh đời sống
của ngài ; các vị tăng lữ ; các vị thánh dù một số bị đứt
đầu, vẫn còn khoác áo thầy tu ; một vài nhân vật khác ;
các vị Dvarapala (thần gác cửa) khoác lên mình một chiếc
sampot (váy đàn ông) ; những hình tượng có nét mặt khác
hẳn với người thông thường ; những động vật thật sự hay
mang tính cách huyền thoại (các con voi, naga, makara
v.v..). Những khuôn mặt của phái nam trong phong cách
Đồng Dương thường có mũi tẹt và môi trề với mép râu
dày nằm bên trên. Các hình tượng của phái nữ thường có
khuôn mặt không bao giờ có nụ cười, với bộ ngực trần
truồng nhằm phô trương cặp vú bán cầu và thường mặc
chiếc sarong thòng xuống tận mắt cá của chân. Một trong
những hiện vật, có lẽ là bức tượng đẹp nhất của phong
cách này, là một bức tượng lớn làm bằng đồng cao gần
120 cm được khai quật tại Đồng Dương vào năm 1978 và
đã được ông J. Boisselier nghiên cứu (“ Un bronze de Tara
du musée de Đà-nẵng et son importance pour l’histoire de
l’art cu Champa”, trong BEFEO LXXII, 1948, trg. 319-
337, 5 bản khắc). Đây là tượng Tara (Quan Thế Âm phái
nữ) có một bộ mặt với những nét hơi nghiêm khắc, với cặp
vú to và mặc hai chiếc váy chồng lên nhau phủ xuống trên
bàn chân. Tượng này cũng là một tác phẩm đáng lưu ý
nhất, vì nó biểu tượng cho sự liên hợp giữa phong cách
thuần túy của vương quốc Champa với nền nghệ thuật của
Ấn Độ và Trung hoa.
Phong cách Mĩ Sơn A 1 được xếp vào niên đại của
thế kỷ thứ X cung cấp vào những giai đoạn đầu của nó còn
gọi là giai đoạn của đền Khương Mĩ, nhiều nhân vật có
những nét tươi đẹp hơn so với thời kỳ trước và thường đeo
nhiều đồ trang sức hơn, như các sợi vòng cổ, các sợi đeo
tai thòng xuống, v.v... Nhân vật nam thường mặc tấm
sampot phủ tới đầu gối. Một trong những tác phẩm nghệ
thuật đẹp nhất vào giai đoạn này là bức tượng nửa thân
làm bằng đá gọi là tượng Devi tại Hương Quế mà búi tóc
được tô điểm bằng một mảnh trăng lưỡi liềm, biểu tượng
cho Sakti (phu nhân) của thần Siva, tức là một bức tượng
mà trên đó người ta trang điểm bằng những đồ nữ trang di
động bằng vàng trên tai và trên mái tóc, nhân các cuộc lễ
nghi nào đó. Giai đoạn này cũng là giai đoạn đánh dấu cho
sự chuyển tiếp sang phong cách của Trà Kiệu. Nghệ thuật
điêu khắc của giai đoạn này cung cấp một sự thống nhất
thực sự về phong cách, với những nhân vật thật sự thường
có búi tóc tròn được bao phủ lại và một chiếc mũ miện
(diadème) ; những nhân vật huyền thoại được trình bày
trên những phù điêu gắn ở phần trên hay phần dưới của
bức tường ; những hình vũ nữ (apsara) dường như đeo các
đồ nữ trang riêng của họ và những con vật thực sự hay
thần thoại như garuda, nandin, sư tử, gala ; những con voi,
v.v., có những bộ điệu rất là khác biệt. Một trong những
kiệt tác của phong cách Trà Kiệu là chiếc “bệ vũ nữ” mà
mỗi cột trụ phía trên đều được trang trí bằng một dáng
điệu của cô vũ nữ có một nét rất độc đáo và một vẽ đẹp
tuyệt vời, tiêu biểu cho một tác phẩm nghệ thuật thật sự
của vương quốc Champa.
Tiếp theo phong cách của Trà Kiệu là phong cách
Tháp Mẫm biểu tượng cho một nền nghệ thuật cao hơn,
không chứa đựng một ảnh hưởng nào của nghệ thuật Ấn
Độ và Java như thời trước nữa. Các hình tượng của thần
linh, nhà tu khổ hạnh và vũ nữ (apsara) luôn luôn dựa lưng
vào các điện thờ, thường có búi tóc và sắc phục (sampot
ngắn và áo bó sát vào thân) và thường đeo nữ trang, đặc
biệt là đồ vật đeo tai thòng xuống và sợi dây thắt lưng cấu
thành đặc thù của phong cách Thập Mẫm. Các loài động
vật trong phong cách này nói chung là hình tượng của các
con vật thần thoại (gajasimha, makara, con rồng, v.v..)
mang nhiều đường nét chạm trổ rất phong phú. Biểu tượng
cho phong cách này là loại vú “bán cầu” trang trí trên
những chiếc bệ dùng để làm đế cho tượng Linga. Đây là
hình thể độc đáo nhất trong nền nghệ thuật điêu khắc của
khu vực Đông Nam Á.
Trong suốt hai thế kỷ XIV và XV, nghệ thuật
Champa cung cấp ít tác phẩm điêu khắc hơn, và đơn giản
hơn. Đại đa số các nhân vật trong giai đoạn này chỉ hiện
diện trên các phù điêu ở phần trên của bức tường. Những
bức tượng này ít khi trình bày bàn chân của nhân vật và
trên đầu của nó thường có vương miện hoặc là cái mũ có
chóp cao (mitre). Bộ mặt thì có miệng khá rộng và cặp
mắt bán nguyệt. Trong số những bức tượng thuộc giai
đoạn cuối cùng của Ấn Giáo này, người ta phải nói đến
bức tượng Shiva của tháp Drang Lai (Dak Lak) và của
Yang Mum (Công Tum).
Ngoài những bức tượng bằng đá, người ta không
thể bỏ quên một số hiện vật mà các vị vua chúa Champa
thường cống hiến cho các thần linh trên đền tháp, đó là
các món nữ trang bằng vàng hay bạc dùng để trang điểm
các tượng thần, các bình chậu, bình chứa nước có quai và
những đồ vật khác dùng vào các lễ nghi. Hầu hết những
tác phẩm bằng vàng, bạc, đồng thau (laiton), đồng (cuivre)
mà các thợ kim hoàn hay thợ bạc Champa đã thực hiện,
không còn hiện hữu nữa. Trong suốt chiều dài của những
cuộc chiến do ngoại bang gây ra, những kim loại quí và nữ
trang này cấu thành những hiện vật làm cho quân địch
thèm thuồng nhất. Đánh cắp các hiện vật mà vua chúa
Champa đã dâng hiến cho thần linh cũng là mục tiêu chính
yếu nhằm tiêu diệt đi sự che chở của các thần linh đó đối
với vương quốc này. Dù sao đi nữa, người ta vẫn biết rõ
nguồn gốc một số tác phẩm nghệ thuật đó, bởi vì các văn
bia Champa chẳng những cho biết tên tuổi của nhân vật đã
dâng hiến những tác phẩm này mà còn liệt kê vào danh
sách những tên thần linh đã nhận món quà, đồng thời mô
tả một cách chi tiết liên quan đến trọng lượng và số lượng
của nó. Đây là đoạn văn mà bia kí ghi lại liên quan đến
cái chén (kosa) được dùng làm hiện vật để dâng hiến cho
thần linh vào năm 1010 của lịch Sakaraja, (“Les
inscriptions de Mĩ-sơn XVI B”, trong BEFEO IV, 1904, trg.
948, 950-951) do L. Finot dịch:
“Ngài Cri Jaya Indravarmadeva ý thức rằng thần
Bhadresvara là vị chủ tể của vạn vật hữu hình nơi thế
gian, đã đặt làm một kosa lục diện (sanmukha) bằng
vàng được trang trí hình con rồng thiên (nagabhusana)
và những hoa văn của châu báu có mầu sắc nằm trên
mũi nhọn của những vương miện. Và cái mà người ta
gọi là urdhvakosa làm bằng vàng tuyệt vời. Và người ta
làm một bệ đỡ (adhara) nằm bên dưới của Kosa này với
một miếng đá của mặt trời (suryakanti) nằm ở trên đỉnh
của vương miện. Diện hướng (?) về phía Đông có một
hồng ngọc (rubis)...ở trên đỉnh của chiếc vương miện và
trang trí hình con rồng thiên của vua chúa (nagaraja).
Các diện hướng về đông-bắc và đông-nam có một ngọc
sa phia (saphir)...trong con mắt của con rồng thiên [và]
trên đỉnh của chiếc vương miện. [Diện] hướng về phía
nam có một hồng ngọc (rubis) ... trên đỉnh của vương
miện. [Diện] hướng về phía tây có một hoàng ngọc
(topaze) ... trên đỉnh của chiếc vương miện. [Diện]
hướng về phía bắc có một hạt trai (uttaratna ?). Chiếc
kosa bằng vàng này có 314 thil 9 dram ... vàng; sáu mặt
của kosa, với vương miện, con rồng thiên [nằm] bên
trên, và cái adhara urdhvamukha cân 136 thil; tất cả là
450 thil 9 dram”.
Việc phát hiện vào năm 1995 một chiếc tàu chở
hàng bị chìm ở phía nam của hòn đảo Palawan
(Philippines) cũng cho phép cho người ta biết được vào
khoảng thế kỷ XV, các vùng lân cận của Vijaya tức là thủ
đô Champa, đã sản xuất và xuất khẩu đến các nước lân
bang và có thể xa hơn, những đồ gốm xuất xứ từ khu vực
Gò Sành và vùng lân cận của nó (K. Morimura, “Ceramics
Salvaged from a Sunken Vessel of Pandanan Island in
Philip- pines”, trong Trade Ceramics Studies số 16, 1996,
trg. 111-125). Theo đề nghị của một giả thuyết dù không
thuyết phục cho lắm, việc sản xuất đồ gốm tại Champa
vẫn còn tiếp diễn trong suốt thế kỷ thứ XVI. Có chăng đây
là sản phẩm nghệ thuật duy nhất còn tồn tại cho đến lúc
Champa Ấn Giáo bị sụp đổ.
Kể từ năm 1471 trở đi, Champa không còn tiềm lực
và năng lực để xây dựng các đền tháp, sáng tác các tác
phẩm nghệ thuật hay làm các đồ nữ trang nữa, vì năng
khiếu đã từng đưa nghệ thuật Champa lên đỉnh cao của sự
sáng chói đã biến mất đi. Chính vì thế, những tượng Kut
được sáng tác vào thời kỳ Champa bản địa để làm dấu
hiệu của những ngôi mộ thuộc về gia đình mẫu hệ, không
phải là yếu tố thuyết phục nhằm chứng minh rằng nền
nghệ thuật Champa vẫn chưa suy tàn. (Nghiêm Thẩm,
“Tôn giáo của người Chàm tại Việt Nam” trong Quê
Hương 34, 4-1962, trg. 108-123). Kut chỉ là một khối đá
nhỏ có hình dạng của một tấm bia mộ. Một số Kut thường
có hình dáng của một bóng người hay có bộ mặt được
chạm trổ ít nhiều. Nhưng đa số còn lại chỉ có một đường
viền giản dị, không biểu tượng cho sự thẩm mỹ của một
nền nghệ thuật. Chính vì thế, các nhà chuyên về nghệ
thuật Champa không bao giờ quan tâm đến cho lắm.
Cho đến hôm nay, lịch sử Champa vẫn còn là một
chủ đề cần được nghiên cứu thêm một cách sâu rộng, vì đa
số tư liệu của vương quốc này bị biến mất theo thời gian
và văn bản còn lưu lại thì có số lượng quá ít, nhưng thường
chứa đựng một nội dung rất khó hiểu. Chính đó là nguyên
nhân giải thích tại sao nhiều nhà nghiên cứu thường dựa
vào những lời tường thuật sơ sài và ngắn gọn trong biên
niên sử của Trung Hoa để thiết kế lại lịch sử thời cổ đại
của vương quốc này.
Ai cũng biết, những chi tiết của sự kiện nằm trong
biên niên sử Trung Hoa thường được chép lại sau một thời
gian dài của biến cố đã xảy ra, có phần thêm bớt để phù
hợp với quan điểm của chính quyền thời đó, bất chấp mọi
hậu quả có thể xảy ra. Thêm vào đó, biên niên sử của
quốc gia này chỉ bàn đến những gì có sự liên hệ giữa
Champa và Trung Hoa mà thôi. Riêng về bia ký viết bằng
tiếng Phạn và Chăm cổ mà người ta thường dựa vào đó để
nghiên cứu về Champa vào những thời đại kế tiếp thì
không được dồi dào cho lắm so với số lượng bia ký xuất
hiện ở Campuchia. Hơn nữa, nội dung của những bia ký
này thường bị gián đọan trong không gian của niên đại, vì
một phần bị tàn phá theo hoạch định của chính sách Nam
Tiến của dân tộc Việt. Trên tổng số 206 tấm bia Champa
còn tồn tại và đã được kiểm kê, chỉ có 81 tấm bia đã được
nghiên cứu và phiên dịch. Chính đó cũng là nguyên nhân
không cho phép các nhà khoa học đi sâu vào chi tiết của
lịch sử Champa. Vì quá quan tâm đến vấn đề tôn giáo, các
bia ký Champa thường hay bỏ qua những biến cố chính trị
quan trọng đã xảy ra tại vương quốc này. Hơn nữa, một số
bia ký đã mất đi ngày tháng và niên đại, cho nên việc sử
dụng nguồn tư liệu bia đá đòi hỏi nhiều phần khách quan
và luôn luôn dè dặt. Bên cạnh bia ký, người ta còn có một
nguồn tư liệu lịch sử nữa đó là các biên niên sử viết bằng
chữ Chăm trung đại (cham moyen) và cận đại (cham
modern). Tiếc rằng, những văn bản này chỉ đề cập đến
Champa sau thế kỷ thứ XV, tức là chỉ chú tâm vào lịch sử
của tiểu vương quốc Panduranga mà thôi, chúng tôi chưa
nói đến những kho tàng tư liệu khác đã biến mất theo môi
trường tự nhiên của khí hậu và tính vỡ vụn của phương
pháp bảo trì. Riêng về nguồn tư liệu Việt Nam vào giai
đoạn cận đại (période moderne) và hiện đại (période
contemporaine), văn bản này chỉ chú trọng đến Champa
trong giai đọan của cuộc Nam Tiến hoặc chỉ nói đến các
biến cố đã xảy ra có sự liên hệ trực tiếp đến triều đình
Việt Nam mà thôi.
Dù việc phân kỳ niên đại có hệ thống đến đâu đi
nữa, lịch sử Champa vẫn là tổng thể của những biến cố
chia thành 3 thời kỳ rõ rệt.
- Thời kỳ đầu tiên là giai đọan lập quốc và sự ra
đời của vương quốc Lin Yi (Lâm Ấp), danh xưng
lịch sử mà các sử gia Trung Hoa thường sử dụng
để ám chỉ Champa.
- Thời kỳ thứ hai gọi là thời kỳ Champa Ấn Hóa
(Champa indianisé), kéo dài qua nhiều thế kỷ,
trong đó văn hóa Phạn ngữ, Siva Giáo, Phật Giáo
đại thừa (dù là ngắn ngủi) và nhất là truyền thống
Bà La Môn du nhập từ miền nam nuớc Ấn cấu
thành nền tảng cơ bản của mọi cơ cấu tổ chức
chính trị và xã hội của vương quốc Champa. Giai
đoạn này là giai đọan đánh dấu cho một cuộc
chiến lâu dài giữa hai nền văn minh đối nghịch
nhau, đó là nền văn minh Ấn Giáo mà vương
quốc Champa dựa vào đó để xây dựng di sản văn
hóa tinh thần của mình nhằm gây tiếng vang sang
phía bắc, chống lại nền văn minh Trung Hoa, tức
là nôi sinh văn hóa của dân tộc Việt lúc nào cũng
tìm cách tràn xuống phía nam.
- Thời kỳ thứ ba gọi là thời kỳ Champa Bản Địa ra
đời sau ngày sụp đổ của Champa Ấn Hóa, nhất là
sau ngày lãnh thổ miền bắc của Champa bị rơi
vào tay của Đại Việt vào thế kỷ thứ XV. Kể từ
ngày lãnh thổ Champa bị thu hẹp lại vào hai tiểu
vương quốc Kauthara và Panduranga cho đến lúc
danh xưng của quốc gia này bị xóa bỏ trên bản đồ
vào đầu thế kỷ XIX, vương quốc Champa không
ngừng dựa vào yếu tố văn hóa bản địa của tiểu
vương quốc miền nam để xây dựng cho mình một
nền văn minh mới và một hệ thống tổ chức xã hội
hoàn toàn mới mẻ.
Nguồn gốc của Champa: Lin Yi
Nói đến nguồn gốc của vương quốc Champa, tư
liệu lịch sử Trung Hoa cho rằng vào cuối thế kỷ thứ II sau
Công Nguyên, quận Nhật Nam (Rinan) là một đơn vị hành
chánh (commanderie) nằm về phía nam của Trung Hoa, có
lãnh thổ, chạy dài từ mũi Rộn (mũi Hoành Sơn) cho đến
đèo Hải Vân của miền trung Việt Nam. Mặc dù vị trí địa
dư và qui chế chính trị như thế, nhưng tư liệu Trung Hoa
vẫn cho rằng đa số dân cư của quận Nhật Nam là người
dân bản địa; phần còn lại là dân cư người Hoa có số lượng
rất là ít ỏi. Vào cuối thế kỷ thứ II, một đơn vị hành chánh
nằm trong quận Nhật Nam mang tên là phủ (préfecture)
Xianglin lợi dụng tình hình suy yếu của Trung Hoa để tìm
cách thoát ra khỏi ách thống trị của quốc gia này. Sau khi
nghiên cứu và phân tích những văn bản Trung Hoa liên
quan đến quận Nhật Nam, học giả R. A. Stein (“Le Lin-
Yi. Sa localisation, sa contribution à la formation du
Champa et ses liens avec la Chine” in Han-Hiue, Pékin,
volume II, Fascicules 1-3, 1947, 335 trang) cho rằng vào
khoảng cuối năm 192 Tây Lịch, một nhân vật gốc người
bản địa đã giết chết vị thủ trưởng gốc người Trung Hoa
nắm quyền ở phủ Xianglin rồi tự xưng là quốc vương của
quốc gia này mà lãnh thổ đất đai bao gồm cả khu vực của
tỉnh lỵ Huế hiện nay chạy dài cho đến biên giới miền nam
của núi Bạch Mã.
Vào những năm 220-230, nhân cuộc trao đổi đại sứ
với các nước lân bang, tư liệu Trung Hoa lần đầu tiên dùng
tên gọi Lin Yi để ám chỉ cho một vuơng quốc vừa mới độc
lập này. Chính vì thế, một số nhà khoa học tin rằng Linyi
có thể là tên địa danh xuất phát từ cụm từ của phủ
Xianglin. Ngay khi ra đời, Lin Yi bắt đầu mở rộng đất đai
bằng cách sát nhập một phần đất phía bắc của quận Nhật
Nam vào lãnh thổ của mình và chấp nhận tiếp thu một số
ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa. Tài liệu Trung Hoa là
nguồn sử liệu duy nhất nói về Champa cho đến thế kỷ thứ
VII, nhưng không bao giờ đề cập đến Lin Yi chịu ảnh
hưởng của Trung Hoa trong khoảng thời gian là bao lâu và
kể từ lúc nào Lin Yi lại tiếp thu các ảnh hưởng của nền
văn minh Ấn Giáo,
Kể từ thế kỷ thứ III, Lin Yi đã thắt chặt các mối
bang giao với Phù Nam (Campuchia), một vương quốc đã
chịu ảnh hưởng Ấn Giáo kể từ ngày lập quốc vào thế kỷ
thứ nhất sau Tây Lịch. Thêm vào đó, tài liệu Trung Hoa
cho rằng 16 vị quốc vương của Lin Yi lên nắm chính
quyền giữa thế kỷ thứ III và thứ VII đều mang danh hiệu
bắt đầu bằng chữ Fan, tức là cách phiên âm từ chữ brahma
của Phạn ngữ. Từ hai yếu tố vừa nêu ra, người ta có thể
kết luận rằng vương quốc Lin Yi đã tiếp thu nền văn minh
Ấn Giáo rất sớm so với lý thuyết mà một số nhà khoa học
đã từng đưa ra cho đến hôm nay, mặc dù người ta không
biết Lin Yi bị Ấn Hóa vào năm nào. Đây là một chủ đề
trọng đại cần nghiên cứu thêm vì quá trình Ấn Hóa của
vương quốc Lin Yi cấu thành động cơ đã làm thay đổi tên
gọi Lin Yi thành danh xưng Champa mà học giả R. A.
Stein đã từng chứng minh, dựa vào nhiều nguồn tư liệu
lịch sử, ngôn ngữ và dân tộc học.
Trong suốt chiều dài của lịch sử, Lin Yi đã trải qua
bao đời vua tiếp tục thay thế nhau lên nắm chính quyền,
trong số đó có một vài thủ lãnh dùng quyền lực để chiếm
đoạt ngôi báu. Cho đến thế kỷ thứ VI, hầu hết tên tuổi vua
chúa của Lin Yi đều do người Trung Hoa biên chép, rất
khó mà khôi phục lại tên thật của họ. Nhưng đưa ra danh
sách vua chúa của Lin Yi ra đây, chắc không phải là việc
cần thiết cho lắm, bởi vì quyền nối ngôi của họ vẫn còn là
một chủ đề tranh cãi, chưa tìm ra câu trả lời thích đáng.
Một khi Trung Hoa nằm trong tư thế hùng mạnh, Lin Yi
thường gởi các phái đoàn ngọai giao và lễ vật sang triều
cống. Lợi dụng các cơ hội bang giao tốt đẹp với Trung
Hoa, Lin Yi không ngần ngại xô quân đánh phá vùng ven
biển của Giao Chỉ (Jiaozhou), tức là miền bắc Việt Nam
hôm nay. Cũng vì lý do đó mà Trung Hoa phải xua quân
chinh phạt Lin Yi, kéo theo các cuộc chiến liên hồi giữa
Lin Yi và các thống đốc người Hán nắm quyền cai trị Giao
Chỉ, một thuộc địa của Trung Hoa nằm phía cực nam, kể
từ thế kỷ thứ III.
Theo tài liệu Trung Hoa, Linyi có ranh giới phía
nam giáp với một số quốc gia hay tiểu vương quốc có hình
thái tổ chức chính trị và xã hội hoàn toàn biệt lập, nằm
trên vùng đồng bằng ven biển và các châu thổ nhỏ thuộc
về phía cực nam của bán đảo Đông Dương, chạy dài từ núi
Bạch Mã (Huế) cho đến Funan (Campuchia). Đây là khu
vực của những người man rợ (barbare) vì họ có nếp sống
hoàn toàn khác biệt với văn hóa của người Trung Hoa.
Hoàn toàn khác hẳn với vương quốc Linyi, những tiểu
vương quốc này đã tiếp thu đậm nét nền văn minh Ấn
Giáo từ đầu kỷ nguyên. Các bia ký tìm thấy ở vùng lân
cận của thánh địa Mĩ Sơn (Đà Nẵng-Hội An) và khu vực
Nha Trang đã chứng minh rằng tiếng Phạn đã trở thành
một ngôn ngữ thông dụng kể từ thế kỷ thứ III trong phần
đất nằm về phía nam của miền trung Việt Nam hôm nay,
trong khi đó tiếng Chăm chỉ được sử dụng kể từ bán thế kỷ
thứ IV trong khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng, tức là tiểu
vương quốc Amaravati (K. Bhattacharya “Précisions sur
la paléographie de l'inscription de Võ-canh” trong Artibus
Asiae XXIV - 3-4, 1961, trg. 219-224). Các bia ký ấy cũng
cho biết về sự phát triển của môn phái Siva Giáo cũng như
tầm mức thịnh hành của nó tại khu vực Quảng Nam trong
thời điểm đó. Cũng nhờ bốn bia ký bằng Phạn ngữ viết
vào đời vua Bhadravarman I, thủ lãnh của một quốc vương
đầu tiên thuộc về giai đoạn lịch sử của một quốc gia (sau
này là Champa) nằm về phía nam của núi Bạch Mã (Huế)
và cũng là nhân vật sáng lập ra điện thờ thần Siva trong
quần thể Mĩ Sơn, một thánh địa tôn giáo của vương quốc
này. Các bia ký Phạn ngữ vừa nhắc đến cũng như các bia
ký viết bằng tiếng Chăm cổ, tức là ngôn ngữ đã được sử
dụng tại khu vực Mĩ Sơn nằm ngay ở phía nam của Linyi
và có thể trong những khu vực khác nửa, không bao giờ đề
cập đến các mối liên hệ giữa Linyi với các tiểu vương
quốc nằm về phía nam của đèo Hải Vân (phía nam Huế).
Tấm bia Phạn ngữ gọi là bia của Vat Luong Kau tìm thấy
tại Champassak (miền nam nuớc Lào) là tư liệu duy nhất
viết vào cuối thế kỷ thứ V, tức là vào thời đại của Lin Yi,
nhưng tấm bia này cũng không bàn đến một chi tiết gì về
vương quốc này. Một khi không tìm ra các bia ký khác viết
vào thế kỷ thứ V và thứ VI, vì bị tàn phá trong chiến tranh,
người ta buộc phải dựa vào tài liệu Trung Hoa để tìm hiểu
thêm những biến cố đã diễn ra tại Lin Yi trong hai thế kỷ
đó. Tiếc rằng, các tài liệu Trung Hoa chỉ cung cấp một số
tin tức rất là sơ sài về vương quốc này để rồi từ đó người
ta tự đặt ra bao câu nghi vấn, có chăng vào thế kỷ thứ V
và vào đầu thế kỷ thứ VI, biên giới phía nam của Lin Yi
đã nằm bên kia đèo Hải Vân (phía nam Huế) nhưng thủ đô
của nó vẫn tọa lạc trong khu vực của thành phố Huế hiện
tại? Chỉ cần băng qua ngọn đèo Hải Vân, nguời ta có cảm
tưởng rằng Lin Yi có thể chiếm trọn cả tỉnh Quảng Nam
để thống trị các dân cư sống ở phía nam của núi Bạch Mã
(Huế) và di chuyển thủ đô của mình từ thành phố Huế
sang miền nam của đèo Hải Vân để tạo cho mình một
quốc gia lớn mạnh hơn gọi là vương quốc Champa sau
này. Đây chỉ là một giả thuyết không thuyết phục cho lắm
liên quan đến chủ đề tại sao vương quốc Lin Yi lại trở
thành tên gọi Champa! Vì rằng, sự liên hệ về tên gọi giữa
Lin Yi và Champa chỉ được xác nhận vào cuối thế kỷ thứ
VI bởi một tư liệu Trung Hoa ghi lại lộ trình viễn chinh
của Liu Fang, mặc dù người ta không thể biết rõ ngày
tháng chính xác của văn bản này (Suizhou, K. 53, 4b). Đây
là lần đầu tiên mà Liu Fang nhắc đến thủ đô của Lin Yi
vào đầu năm 605 nằm tại Simhapura (Trà Kiệu), tức là
phía nam của đèo Hải vân. Thêm vào đó, danh xưng
Champa lại xuất hiện lần đầu tiên trên một bia ký Phạn
ngữ vào năm 658 tìm thấy ở Mĩ Sơn (xem L. Finot, “Stèle
de Cambhuvarman à Mĩ-sơn” trong BEFEO III, năm
1903, trg. 209-210). Và danh xưng Champa này cũng tìm
thấy trong bia ký Campuchia kể từ năm 667 và trong các
bản văn Trung Hoa phiên âm thành Zhancheng kể từ năm
877.
(còn tiếp)
Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.
|