tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
09.02.2017
Pièrre-BERNARD Lafont
Champa (3)



Sau ngày sụp đổ nền văn minh Ấn Giáo ở miền bắc vào năm 1471, vương quốc Champa ở miền nam vẫn tiếp tục hiện hữu, nhưng lại từ bỏ mọi thể chế chính trị vay mượn từ Ấn Độ rất có hiệu lực cho đến thế kỷ thứ XV, để thay thế vào đó một hệ thống tổ chức quốc gia hoàn toàn mới mẻ, dựa vào truyền thống bản địa của Kauthara và Panduranga, pha lẫn với một số yếu tố của thế giới Mã Lai, một khu vực mà vương quốc Champa đã hòa nhập vào kể từ cuối thế kỷ thứ XV qua các mạng lưới thương mại hàng hải nối liền với các hải cảng nằm trên bờ biển Nam Hải của Trung Hoa (D. Lombard, Le Carrefour


javanais. Essai d’histoire globale: II. Les réseaux


asiatiques, Paris, Editions de l’EHESS, 1990). Kể từ đó,


các quốc vương Champa ở miền nam từ bỏ hoàn toàn quan


niệm thần thánh hóa bản thân của mình như thời xa xưa để


trở thành các nhà lãnh tụ chính trị điều hành quốc gia


trong nghĩa rộng của nó. Đây cũng là thời điểm đánh dấu


cho sự ra đời của một khái niệm chính trị rất mới mẻ trong


đó quyền lực của một chính quyền chỉ dựa vào sự giàu có


và thịnh vượng của một quốc gia mà thôi. Kể từ đó,


Champa không còn chú tâm nhiều đến việc phát triển


nông nghiệp cổ truyền như vào thời Ấn Giáo nữa mà là


tìm cách làm chủ hệ thống trao đổi kinh tế giữa những hải


cảng lớn nằm trong khu vực. Chính vì thế, các quốc vương


Champa đã biến hệ thống thương mại hàng hải thành một


tổ chức độc quyền của nhà vua và đã nhiều lần trở thành


các đại thương gia giống như các quốc vương Mã Lai


thường áp dụng.


Nhằm phát triển mạnh hệ thống kinh tế mới này,


các quốc vương Champa sau thế kỷ thứ XV thường tuyển


chọn vào giai cấp điều hành quốc gia của mình một số


nhân vật gốc người Đa Đảo nhằm nắm giữ các chức vụ cố


vấn kinh tế cho hoàng gia Champa cũng như việc thiết lập


và phát triển các mối quan hệ với các thương gia, các


người lái tàu, các đại diện chủ hàng và nhất là mối quan


hệ với nước ngoài mà các tài liệu Champa cũng như các


lời tường thuật của các nhà thương thuyền Tây Phương


thường kể lại. Cũng nên nhớ rằng, vào giữa thế kỷ XVI và


XVIII tiếng Mã Lai là ngôn ngữ ngoại giao rất thông dụng


ở vùng Đông Nam Á Châu. Vì rằng tất cả các cuộc trao


đổi kinh tế chính trị qua các cuộc đối thoại hay viết thành


văn bản chính thức giữa các quốc gia nằm trong khu vực


hay với những người Tây Phương đều thực hiện bằng ngôn


ngữ Mã Lai. Hiệp ước giữa vương quốc Campuchia và


Hòa Lan ký vào năm 1656 nhưng viết bằng tiếng Mã Lai


là một thí dụ điển hình. Chính vì thế, trong triều đình của


các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á Châu thời


đó thường có những người nói tiếng Mã Lai rất thông thạo.


Họ phải là những người Mã Lai chính thống mới có thể


nói rành tiếng mẹ đẻ của họ và có khả năng để đọc cả văn


bản viết bằng tiếng Ả Rập. Bên cạnh những người Mã Lai


giữ vai trò cố vấn, vua chúa Champa thường tuyển chọn


vào triều đình của mình những quan lại gốc người Chăm


Ahier (tạm gọi là Bà La Môn) và bắt đầu từ thế kỷ XVII


cả người Chăm Bani (Hồi Giáo không chính thống) và kể


cả người Tây Nguyên như sắc dân Eđê, Churu và Raglai,


tức là dân tộc nói tiếng nói Đa Đảo. Mỗi sắc dân phục vụ


trong triều đình Champa thường đóng vai trò riêng biệt


trong tổ chức tôn giáo, quân sự, tài chánh (kiểm soát việc


thu thuế, v.v..), kinh tế (kiểm soát việc đãi vàng, v.v..) và


hành chánh.


Hệ thống tổ chức chính trị mới này đã diễn ra tại


miền nam Champa cho đến giữa thế kỷ thứ XVII. Kể từ


đó, vua chúa nhà Nguyễn, sau khi đặt quyền bảo hộ trên


lãnh thổ Panduranga, đứng ra chọn lựa những nhà cầm


quyền Champa rất thân cận với mình hầu kiểm soát họ


chặt chẽ hơn bằng cách ban cho họ những vương hiệu tối


cao với mục đích dỗ dành họ phải phục tùng oai quyền của


triều đình Huế. Tình trạng này kéo dài trong suốt cuộc nội


chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn từ năm 1771 cho đến


năm 1802. Trong khoảng thời gian này, các quốc vương


Champa nắm quyền cai trị đất nước mất hết tất cả quyền


hành và chỉ hành động như kẻ múa rối theo chiêu bài của


nhà Nguyễn, nhưng họ vẫn còn tồn tại trên ngai vàng cho


đến khi hoàng đế Minh Mệnh quyết định khai trừ họ và


xóa bỏ danh xưng Panduranga-Champa ra khỏi bản đồ vào


năm 1832.


Kinh tế


Các tài liệu lịch sử ít khi bàn đến một cách sâu


đậm về tình hình tổ chức kinh tế Champa trước hay sau thế


kỷ XV. Mặc dù như thế, người ta cũng biết rằng vương


quốc này có hai nền kinh tế song phương với nhau trong


quá khứ, đó là nền kinh tế tự cung tự cấp (éonomie de


subsistance) của đại đa số quần chúng tập trung hầu hết


các nông dân và ngư dân dọc theo bờ biển và nền kinh tế


lợi nhuận (éonomie de profit) mà triều đình Champa


thường áp dụng với các nhà buôn nước ngoài.


Hầu hết các dân cư Champa sống ở vùng đồng


bằng cũng như toàn thể người Tây Nguyên chuyên sống


về nông nghiệp. Nghề trồng lúa vốn là sinh hoạt chính của


họ. Chính vì thế, “ăn cơm” trở thành cụm từ rất phổ thông


trong các quốc gia thuộc về khu vực Đông Nam Á. Cũng


nhờ các văn bia có nội dung liên quan đến việc dâng hiến


hoa màu cho các đền tháp mà người ta biết rằng cư dân


Champa sinh sống ở vùng đồng bằng là tập thể chuyên


khai thác ruộng lúa qua hệ thống dẫn thủy nhập điền


(BEFEO IV, 1904, trg.959, 962). Ngược lại, dân tộc sống ở


vùng cao thì khai thác cánh đồng đất trũng (champs de


dépressions) dọc theo ngọn đồi. Vì khí hậu khô hạn


thường diễn ra tại một số vùng ở phía nam, thành ra các


khu vực canh tác của Champa cần phải có hệ thống dẫn


thủy nhập điền bắt nguồn từ các mương đập. Kể từ đó,


cụm từ “cấp nước” trở thành công trình chính yếu của các


nhà vua dành cho tập thể nông dân (BEFEO IV, 1904, trg.


942,943). Đương nhiên người ta không biết rõ cho lắm, dù


là phỏng chừng đi nữa, về số lượng sản xuất lúa gạo vào


thời kỳ Champa Ấn Giáo, bởi vì sản phẩm nông nghiệp


thường định giá bằng jak. Ngoài sản phẩm lúa gạo, các tài


liệu Chăm cổ không bao giờ cho biết các loại giống hoa


quả và cây cối dùng trong ngành trồng trọt tại vương quốc


này, mà chỉ nhắc đến các loại thực phẩm, hạt giống và các


phương tiện kinh tế tự cung tực cấp mà thôi. Cũng nhờ tư


liệu viết bằng tiếng Mã Lai, người ta biết rằng vương quốc


Champa có một số loại cây trồng trên các mảnh đất không


cần dẫn thủy nhập điền như cây mè, cây đậu, cây chuối,


cây mía, cây dừa mà người ta dùng làm “rượu dừa” như tài


liệu Trung Hoa ghi lại. Theo nhật ký của Linh Mục Odoric


de Pordenone liên quan đến chuyến công du của ông ta tại


khu vực Á Châu vào thế kỷ XIV, người dân Champa vào


thời kỳ đó có đủ lương thực để sinh sống. Người ta cũng


không biết nhiều hơn về ngành nông nghiệp Champa sau


thế kỷ XV mặc dầu các thương thuyền Âu Châu có mặt


trên hải phận của vương quốc này kể từ năm 1540 đã


thường xuyên lập bảng kê khai các loại hàng hóa và thực


phẩm mà họ có thể dùng vào việc buôn bán. Trong số các


loại hàng hóa này, người ta cũng không biết đến các loại


sản phẩm cồng kềnh sản xuất tại Champa mà người nước


ngoài không dùng đến. Lúa là một loại giống thịnh hành


nhất trong ngành nông nghiệp của vương quốc này, nhưng


người ta cũng không biết sản lượng trồng trọt là bao nhiêu,


trong lúc đó lúa gạo là lương thực chính yếu dùng vào việc


đổi chác, vay mượn hoặc trả góp. Vì rằng dân tộc Chăm


sinh sống tại đồng bằng thời đó không trồng cau và trầu,


thành vậy họ dùng lúa gạo để đổi chác sản phẩm này với


người Việt Nam. Ngoài loại ngủ cốc này, người dân


Champa thường trồng khoai lang (Convolvulus Batatas


Linné) dùng làm lương thực thay gạo vào lúc thất mùa.


Bông vải (Gossypium hirsutum) là sản phẩm rất phát triển


trong khu vực Bình Thuận trong khi đó thuốc lá rất thịnh


hành tại vùng Phan Rang. Họ cũng trồng cây dừa và các


loại cây trồng khác ít quan trọng hơn. Song song với việc


canh tác các loại cây cối dùng để tiêu thụ, người dân


Champa còn chuyên làm nghề thu nhập những sản phẩm


thiên nhiên do núi rừng cung cấp, nhất là rau cải và hoa


quả mà họ thường sử dụng để làm món ăn hàng ngày. Họ


cũng làm nghề săn bắn các loại thú nhỏ, như thỏ rừng, gà


rừng, con tê tê (pangolin), chim rừng, con công (BEFEO


XI, 1911, trg. 291, 296). Nghề săn bắn của họ thường diễn


ra hàng ngày, nhất là nhân dịp đồng án, đã đem lại cho


bữa cơm của họ có thịt, vì việc chăn nuôi mang tính cách


gia đình không thể cung cấp cho họ những món thịt thường


xuyên, một phần do bệnh dịch súc vật, đặc biệt là cúm bò


thường hay tàn phá ngành chăn nuôi gia súc và phần khác


thì xuất phát từ lễ tế thường sử dụng quá nhiều thú vật gây


ra nạn thiếu thiếu thốn về gia súc, gia cầm mà họ chăn


nuôi trong gia đình. Cuối cùng các nông dân này cũng làm


nghề câu cá sông và cá hồ nhằm tăng cường thêm thực


phẩm để dùng trong gia đình.


Các ngư dân Champa sống ven biển Nam Hải chạy


dài hơn 800 cây số cũng có một cuộc sống kinh tế rất gần


gũi với tầng lớp nông dân, nhưng chỉ có một sự khác biệt


hơn đó là ngư dân dùng hải sản của mình để đổi lấy gạo


của nông dân. Chính vì thế cá và gạo là thực phẩm cơ bản


của vương quốc Champa thời đó, nhất là phía nam


Champa, một hải phận rất nhiều cá mà Linh Mục Odoric


de Pordenone đã ghi nhận vào thế kỷ XIV.


Hầu hết nhân dân Champa chỉ chuyên sống về


nghề nông nghiệp và ngư nghiệp. Ngược lại, vua chúa và


quan thần Champa thường đặt trọng tâm vào nền kinh tế


có lợi nhuận qua các việc buôn bán với các thương thuyền


Ấn Độ, Trung Hoa, Mã Lai, Ả Rập, và kể từ thế kỷ thứ


XVI với người Âu Châu. Các thương thuyên này thường


mua các sản phẩm có hương thơm, da thú rừng và kim loại


quí theo sự đòi hỏi của thị trường. Quốc vương Champa là


người chiếm độc quyền để cung cấp những sản phẩm cho


thị trường này.


Vào những năm đầu của Tây Lịch, vương quốc


Champa dường như đã bắt đầu tham gia vào việc trao đổi


kinh tế với một số quốc gia lân cận. Một số mảnh vỡ của


hiện vật gốc Trung Hoa và Ấn Độ được tìm thấy tại Trà


Kiệu đã chứng minh điều đó. Kể từ các năm đầu của thế


kỷ thứ V, tài liệu Trung Hoa thường ghi rằng Champa là


quốc gia đã có một đội ngũ hàng hải quan trọng thường


dùng vào việc đánh phá các bờ biển Đại Việt ở phía bắc


và chuyên về ngành di chuyển hàng hóa trên đại dương.


Chính vì thế, một số tài liệu lịch sử thường cáo buộc rằng


ngành hàng hải của Champa thời đó chỉ là đơn vị chuyên


làm nghề cướp biển. Mặc dầu người ta không biết số


lượng tàu bè thuộc đơn vị hàng hải của vương quốc này,


nhưng người ta có thể nghĩ rằng Champa phát triển rất


mạnh ngành thương thuyền của mình vào đầu thế kỷ thứ


IX, khi khu vực Tây Á và Trung Á, vì tình hình an ninh


không cho phép, không dùng được đường bộ xuyên lục địa


Châu Á còn gọi là con đường tơ lụa, để làm hệ thống giao


thông nữa. Kể từ đó, các nhà thương gia buôn bán phải


chọn đường biển để chở hàng hóa của họ.


Phải nói rằng ngành thương mại hàng hải đã đem


lại cho Champa một nguồn tư lợi vô cùng lớn lao, bởi vì


các tàu bè quốc tế phải dừng chân tại bờ bể của vương


quốc này để tiếp tế lương thực và nhất là Champa có


nhiều hải cảng nổi tiếng như Turan (Đà nẵng hiện nay),


Kam-ran (Cam Ranh), Sri Banoy (hải cảng của Vijayapura


trong vịnh Qui Nhơn hiện nay), Malithit (Phan Thiết), v.v.


Và các vị vua đầu tiên của Champa đã từng hưởng nền trù


phú của ngành thương mại này là triều đại của Indrapura


(Đồng Dương) mà các tư liệu khảo cổ học đã từng chứng


minh. Kể từ đó, Champa trở thành một quốc gia hùng


mạnh về ngành hàng hải. Năm 1177, hạm đội Champa đã


chuyên chở nguyên đoàn quân của mình để đánh phá


Angkor và vào năm 1203, có hơn hai trăm chiếc tàu buồm


đã tháp tùng vị vua Champa đóng đô ở Vijaya để vượt


biên lánh nạn (Việt Sử Lược III). Lực lượng hàng hải này


cấu thành những đơn vị hải quân đã giúp vương quốc


Champa gia tăng mạnh mẽ ngành trao đổi thương mại của


mình với Trung Hoa, Ấn Độ và các nước Trung Đông


chuyên về nghề buôn bán các sản phẩm.


Sự sụp đổ của thủ đô Vijaya vào năm 1471 không


làm cản trở nền thương mại của Champa bị thu hẹp lại ở


miền nam, vì vương quốc này trở thành một quốc gia đã


hội nhập rất nhanh vào vòng cầu kinh tế của tiểu vương


quốc Malacca (Mã Lai), tức là trung tâm thương mại quốc


tế thời đó. Kể từ đó, Champa tìm cách đưa ngành thương


thuyền của mình vào các mạng lưới thương mại hàng hải


nối liền các hải cảng của tàu bè và các kho chứa hàng hóa


nằm trên các bờ biển Nam Hải. Và tình hình thương mại


này kéo dài đến giữa thế kỷ XVII, tức là thời điểm mà vua


chúa nhà Nguyễn đã ngăn cấm các tàu bè nước ngoài cập


bến Champa và mua bán với vương quốc này, một ngành


thương mại đã mang lại nhiều lợi nhuận cho vua chúa và


quần thần Champa thời đó.


Trong số các món hàng đổi chác chính yếu trong


ngành hàng hải đã đem lại nguồn lợi nhuận quan trọng cho


triều đình Champa vào thời kỳ Ấn Giáo hay sau thế kỷ thứ


XV, người ta phải kể đến một loại sản phẩm của Champa


đã từng gây bao tiếng vang từ Nhật Bản cho đến Trung


Đông đó là gỗ trầm (gahlau), tỏa hương thơm rất là đặc


biệt mà các nhà thực vật học (botaniste) vẫn chưa tìm ra


những bí ẩn trong tinh chất hương thơm của nó. Đây là một


loại cây đòi hỏi bao kiên nhẫn và nghi lễ phiền phức trước


khi khởi công đi tìm, nó và cũng là sản phẩm rất quí trong


danh sách hàng hóa từ thuở xa xưa. Trầm hương Champa


được xem như là loại trầm quí giá nhất bởi người Ấn Độ


vào đầu kỷ nguyên ; bởi người Trung Hoa kể từ thời kỳ


Lâm Ấp (Lin Yi), vì gỗ này được liệt kê vào danh sách


của sản phẩm mà Champa phải triều cống hoàng đế của


họ ; bởi các tác giả Ả Rập như Al-Mas’udi vào thế kỷ thứ


X và Al-Idrisi vào thế kỷ XII để rồi họ gọi trầm hương


Champa là sanf ( tiếng Ả Rập: sanf = Campa) ; bởi các tác


giả Bồ Đào Nha dưới tên gọi của gỗ này là calambac kể từ


giữa thế kỷ thứ XVI và vào thế kỷ kế tiếp bởi các thương


gia Hòa Lan. Trầm hương Champa là chủ đề mà người ta


tìm thấy hầu hết trong những hồi ký của người thương gia


thời đó, vì thị trường của gỗ quí này đã mang lại một


nguồn lợi nhuận lớn lao nhất. Bởi vì thế, vào thế kỷ thứ


XV người Trung Hoa cho biết giá trầm hương mua tại


Champa, nếu tính theo trọng lượng, thì bằng giá bạc kim


vào thế kỷ thứ XVII. Người Âu Châu còn ghi rằng giá trị


của trầm hương có thể gia tăng gấp 15 lần giữa giá mua tại


Champa và giá bán lại tại Nhật Bản hay tại Trung Đông.


Theo người Âu Châu, có sự khác biệt giữa trầm hương


mang tên là bois d'aloès hay calambac với trầm hương tên


là bois d’aigle mà các nhà thực vật học vẫn không biết rõ


nguồn gốc của nó. Ngược lại nhiều tác giả hiện đại vẫn


thường nghĩ rằng trầm hương (bois d'aloès) và trầm hương


(bois d’aigle) có giá trị ngang nhau, trong khi đó các nhà


buôn Âu Châu vào thế kỷ XVII trị giá trầm hương bois


d’aigle rẻ hơn 20 lần so với trầm hương mang tên là bois


d'aloès hay calambac.


Nếu người ta biết rõ về thị trường của gỗ trầm


hương (bois d'aloès) thì ngược lại người ta ít biết về giá cả


của các sản phẩm lâm nghiệp khác mà các tài liệu Trung


Hoa và Bồ Đào Nha thường ghi lại từ đầu thế kỷ thứ XVI.


Một số sản phẩm lâm nghiệp đã trở thành món hàng


thương mại độc quyền của nhà vua hay quan lại Champa


thời đó là vỏ cây quế rừng của miền trung Viêt Nam


thường gởi sang Nhật Bản cho đến khi quốc gia này quyết


định bế môn tỏa cảng với thế giới bên ngoài vào thế kỷ


XVII. Bên cạnh quế rừng là cây đàn hương (santal) và đậu


khấu (cardamom) thường mọc trên vùng cao mà người ta


hái hạt để xuất khẩu sang Trung Hoa.


Trong số các sản phẩm khác mà các nhà thương


thuyền thường đặt mua tại Champa gồm có các loại da


thú, sừng thú, gỗ quí và một số nội tạng (viscère) thú vật


mà viện bào chế thuốc men của Trung Hoa thường yêu


cầu đó là nội tạng của trâu rừng, bò rừng Nam Á


(banteng), con hưu, tê giác cấu thành một đàn động vật rất


đông đảo trên vùng cao nguyên. Theo tài liệu Trung Hoa,


vua Champa đã chiêu cống vào năm 995 cho hoàng đế của


quốc gia này mười chiếc sừng tê giác, hơn ba trăm chiếc


ngà voi. Người ta cũng không quên những loại da của thú


dữ khác, như cọp và beo, vừa sống ở vùng đồng bằng và


trên cao nguyên, thường được xuất khẩu đến các hải cảng


có kho dự trữ hàng hóa chờ ngày chuyên chở sang Âu


Châu. Sau cùng, một sản phẩm khác cũng nằm trong danh


sách hàng hóa xuất cảng đó là ngà voi rừng mà các người


Tây Nguyên phải nộp một phần nào cho triều đình


Champa thời đó như một loại thuế có kỳ hạn mà các vua


chúa của vương quốc này thường sử dụng vào các thế kỷ


XVI và XVII để đổi chác dưới hình thức món hàng da lông


thú (pelleterie) với các thương thuyền nước ngoài trên


đường sang Trung Hoa.


Các vị vua Champa cũng kiểm soát việc khai thác


mỏ kim loại quí và nắm độc quyền thương mại về sản


phẩm này kể từ cuối thế kỷ XV. Kim loại quí quan trọng


nhất trong thị trường thời đó là vàng lẫn lộn trong cát của


sông rạch. Việc khai thác mỏ vàng tại Champa trở thành


một kỹ nghệ đáng kể vì số lượng và trọng lượng của


những bảo vật làm bằng vàng mà các vị vua Champa Ấn


Hóa đã từng dâng hiến cho các vị thần của họ là một thí


dụ điển hình. Chẳng hạn vua Harivarman V, chỉ riêng năm


1114, đã dâng hiến cho thần Sri Sanabhadresvara chín


món vật bằng vàng với trọng lượng hơn 20 kilogram


(BEFEO IV, 1904, trg. 951, 952). Món thứ hai là bạc có


khối lượng rất lớn nằm trong các mõ ở miền nam của


Indrapura, Amaravati và phía bắc của Vijaya, mà quốc


vương Champa thời Ấn Giáo đã dâng cúng một cách rộng


rãi cho các điện thờ tôn giáo. Vào năm 1174, vua Jaya


Indravarman V đã dâng hiến gần 60 kilogram bạc cho thần


Sri Sanabhadresvara nhằm trang trí một căn điện thờ nhỏ


và công trình xây dựng phần phụ thuộc của đền này nhằm


ca ngợi sự quang vinh của ông ta (BEFEO IV, 1904, trg.


971, 974. Sau ngày Vijaya sụp đổ, Champa không còn làm


chủ một số con sông có mỏ vàng và toàn bộ các mỏ bạc.


Tuy nhiên, Champa vẫn tiếp tục sản xuất vàng mặc dù số


lượng ít hơn mà các vị vua của vương quốc này nắm độc


quyền buôn bán với các thương thuyền Bồ Đào Nha, Hòa


Lan và Việt Nam. Cùng trong thời gian đó, người ta cũng


không biết Champa có khai thác mỏ bạc hay không, bởi vì


các tài liệu kể từ đầu thế kỷ XVI không nhắc đến tên của


kim loại quí này.


Nghệ thuật


Các đền đài nằm rải rác trên lãnh thổ của Champa


Ấn Hóa xưa kia đã thu hút rất nhiều sự lưu ý của những


nhà nghiên cứu người Pháp khi họ đặt chân đến các vùng


đồng bằng của miền trung Việt Nam thời đó. Về sau, việc


khám phá quần thể di tích lịch sử nằm trong thung lũng


của Mĩ Sơn với 70 đền đài của nó bị chôn vùi dưới cỏ cây


hoang phế chưa nói đến các di tích trang nghiêm trong khu


vực Đồng Dương mà H. Parmentier và C. Carpeaux đã ra


công khai quật từ đầu thế kỷ thứ XX đã giúp cho người ta


có một cách khái quát về tầm mức quan trọng của nền


nghệ thuật đền đài Champa (Missions archéologiques


francaises au Champa, Photographies et itinéraires 1902-


1904, Paris, Les Indes savants, 2005). Việc cập nhật hằng


loạt các bức tượng và các tác phẩm điêu khắc Champa


nằm trong chương trình bảo tồn di sản lịch sử do các nhà


khoa học và kiến trúc sư của Viện Viễn Đông Pháp


(EFEO) thực hiện đã xác nhận một lần nữa giá trị của các


di tích này. Một số hiện vật khảo cổ được kiểm kê một


cách có hệ thống và một số khác được đưa vào Viện Bảo


Tàng do ông H. Parmentier thành lập tại Tourane (Đà


Nẵng). Kể từ cuối năm 1969, một số đền tháp nằm trong


quần thể Mĩ Sơn và khu vực Đồng Dương cũng như các


cao địa khảo cổ và văn hóa khác của Đông Dương đã bị


tàn phá dưới bom đạn của không lực Hoa Kỳ để rồi các cơ


quan văn hóa của Cộng hòa Xã hội Việt nam phải ra công


tháo mìn và trùng tu cả chục ngôi đền nằm trong khu vực


này sau ngày chấm dứt chiến tranh vào năm 1975.


Nếu hôm nay người ta tiếp thu được một cách khái


quát về kỹ thuật kiến trúc đền tháp Champa ở miền trung


Việt Nam dù di tích này vẫn còn hiện hữu hay đã bị tàn


phá đi nữa cũng là nhờ các hình vẽ và bản in mà các


nghiên cứu chuyên về Champa đã lưu lại. Về phương diện


cấu trúc, các đền tháp Champa chỉ là công trình kiến trúc


mang tính cách tín ngưỡng của Ấn Giáo và Phật Giáo do


gia đình hoàng gia thực hiện và luôn luôn rập theo một


khuôn mẫu đồng nhất. Trong một quần thể đền tháp lúc


nào cũng có một ngôi tháp chính điện mang tên là Kalan,


bên trong có một bức tượng thần linh, thường là linga.


Chung quanh tháp chính diện là các đền phụ thuộc (thông


thường là hai đền) có diện tích không lớn cho lắm. Các


ngôi tháp này thường là hình vuông xây bằng gạch nung,


một ngành kỹ nghệ rất nổi tiếng của vương quốc này.


Trong suốt chiều dài lịch sử của Champa Ấn Hóa, nghệ


thuật kiến trúc đền tháp không thoát khỏi sự tiến hóa trong


không gian. Chính vì thế các chuyên gia phải hệ thống hóa


lại các thể loại phong cách kiến trúc và niên đại của nó


dựa vào các yếu tố rất thuyết phục mà mọi người đều nhất


trí chấp nhận cho đến hôm nay (P. Stern, L’art du Champa


(ancient Annam) et son évolution, Toulouse, Douladoure,


1942).


Mặc dù các tư liệu Trung Hoa thường cho rằng dân


cư Champa là những nghệ nhân có năng khiếu bậc thầy


chuyên về nghệ thuật xây cất đền tháp bằng gạch nung.


Các văn bia cũng không ngừng nói đến sự phát triển nghệ


thuật rất là mạnh mẽ trên lãnh thổ của Champa, nhưng


vương quốc này không để lại cho hậu thế từ thế kỷ thứ III


cho đến thế kỷ thứ VII, một di sản nghệ thuật nào ngoài


một vài món hiện vật có nguồn gốc của nước ngoài, như


bức tượng Phật Đồng Dương làm bằng đồng tuyệt đẹp,


nhưng nhập cảng từ Ấn Độ.


Kể từ thế kỷ thứ VII, nghệ thuật kiến trúc tại


Champa mới bắt đầu đi vào một kỷ nguyên mới. Việc


khám phá những di tích tráng lệ xây dựng vào giữa thế kỷ


thứ VII và đầu thế kỷ thứ VIII đã cho phép cho người ta


đưa ra kết luận rằng Champa là vương quốc có một nền


kiến trúc cao độ thường mang một phong cách nghệ thuật


riêng biệt, khởi đầu bằng phong cách kiến trúc gọi là Mĩ


Sơn E 1 (mẫu tự A, B, C, D, E, v.v. chỉ định cho nhóm đền


đài nằm trong quần thể của Mĩ Sơn và con số 1, 2, 3. v.v.


chỉ định số điện thờ của từng nhóm). Phong cách Mĩ Sơn E


1 mà ông J. Boisselier đã phân tách là một quần thể di tích


có một sắc nét rất là độc đáo, mặc dầu nó pha lẫn một


phần ảnh hưởng nghệ thuật từ nước ngoài, đặc biệt là nghệ


thuật của Ấn Độ, Môn (Dvaravati), Nam Dương và tiền


Angkor (J. Boisselier, “Arts du Champa et du Cambodge


Préang korien. La date de Mi-sơn E 1”, trong Arts


Asiatiques XIX-3-4, 1956, trg.197-202). Phong cách này có


một nét đặc trưng của nó, đó là các chân tường của đền


tháp thường được trang trí một cách lộng lẫy. Các ô trán


(tympan), mí nhà (frontons ) và cả chiếc bệ (piédestal) của


tượng đá cũng có những phù điêu chạm trổ. Điều đáng chú


ý thêm, đó là mỗi hình tượng đều có phong cách xếp nếp


quần áo riêng, chiều hướng cử động, đồ trang sức, búi tóc


và mũ mão trên đầu của nó.


Từ giữa thế kỷ thứ VIII cho đến giữa thế kỷ thứ IX,


thủ đô chính trị và quyền lực của Champa được dời vào


miền nam, nằm trong khu vực của Panduranga (xem phần


lịch sử). Kể từ đầu của thế kỷ thứ IX, người đa đang chứng


kiến rự ra đời của một phong cách kiến trúc mới gọi là


phong cách Hòa Lai thuộc tỉnh Ninh Thuân, tập trung ba


ngọn tháp, nay chỉ còn có hai. Các đền đài Hòa Lai xây


dựng theo kiểu hình khối (cubique) với chiều cao khoảng


hai mươi mét và chồng chất lên nhau bởi các bực tầng thu


nhỏ lại. Đặc trưng của tháp này là các vòm kiến trúc nhô


ra nằm trên cửa, được trang trí theo kiểu cành lá lượn


(rinceau). Cánh cửa ra vào của tháp này có khuôn hình


chiếc trụ làm đá thạch (grès) và những chỗ nào có mô


hình cửa giả tạo (fausses portes) thường có những thần linh


gác cửa (Dvarapala) đứng hai bên. Đây là phong cách


riêng biệt của miền nam Champa. Kể từ cuối tam thập


niên của thế kỷ thứ IX, phong cách Hòa Lai biến mất để


nhường bước cho một nghệ thuật kiến trúc mới rất đặc biệt


và uy nghi hơn mà người ta gọi là phong cách Đồng


Dương, tức là vào thời điểm mà thủ đô chính trị được dời


sang Vijaya của miền bắc Champa.


Mặc dù bị tàn phá bởi quân đội Hoa Kỳ trong cuộc


chiến tại Việt Nam, Đồng Dương vẫn là một quần thể di


tích Phật Giáo lớn nhất và độc đáo nhất của Champa.


Theo tác phẩm Le Musée de sculpture cham de Đà-nẵng


(Paris, AFAO, 1997, trg. 68-69), tu viện Phật Giáo Đại


Thừa tại Đồng Dương được xây dựng từ năm 875 cho đến


đầu thế kỷ thứ X chiếm một chu vi rộng lớn, dài một cây


số ba trăm thước, tập trung nhiều cánh lầu đài xây bằng


gạch chín, phân chia thành nhiều khu vực. Tất cả các điện


thờ này được trang trí bởi các bức phù điêu khắc trên


tường. Phần lớn diện tích còn lại của bức tường thường


được chạm khắc qua mô hình lá cây cấu thành những nét


cơ bản trong phong cách kiến trúc của Đồng Dương, tức là


lối trang trí có hoa văn lá cây bao phủ khoảng trống của


mặt tháp. Phong cách này cũng được áp dụng vào hai điện


thờ Phật Giáo khác có cùng niên đại của nó, đó là đền Đại


Hữu và Mĩ Đức.


Bước vào thềm của kỷ thứ X, nghệ thuật kiến trúc


Champa được chuyển sang một phong cách mới nữa gọi


phong cách Mĩ-sơn A 1 và được chia thành hai giai đoạn rõ


rệt. Giai đoạn đầu gọi là phong cách Khương Mĩ và giai


đoạn thứ hai là phong cách Trà-Kiệu.


Giai đoạn thứ nhất biểu tượng cho ba ngọn tháp rất


đặc biệt qua phong cách cấu trúc rất hài hòa của nó.


Những cảnh trang trí của những đền này đánh dấu một sự


chuyển tiếp giữa phong cách của Đồng-dương và những


giai đoạn kế tiếp. Phong cách của Mĩ-sơn A 1 đánh dấu


cho sự phát triển cao độ về nghệ thuật kiến trúc đền tháp


của vương quốc Champa. Tháp chính diện A 1 nằm trong


khu vực này là biểu tượng cho nền nghệ thuật của di tích


Mĩ-sơn mà bom đạn của quân lực Hoa Kỳ đã tàn phá


thành tro bụi. Đây là đền đài xây bằng gạch nung được


công nhận như là kỳ quang của vương quốc Champa. Mỹ


Sơn A 1 tập trung rất nhiều đền nằm trong khu vực A, B,


C, D mà người ta có thể tham khảo trên bản đồ do AFAOEFEO


(op. cit., trg. 72-73) thực hiện. Phong cách Mỹ Sơn


A 1 đánh dấu cho sự cân đối hài hòa của nền kiến trúc với


những đường nét rất trong sáng. Bức tường của nó thường


chia thành những tấm khuôn mang đường chỉ nổi và bên


trên của ngọn tháp thường có những miếng tấm thảm nhôi


ra có chạm khắc với mô hình ngọn lửa, gắn liền vào các


gốc của các mái tầng lầu giả, càng lên cao thì kích thước


của nó càng giảm dần. Giai đoạn thứ hai của Mỹ Sơn A 1


khởi đầu bằng những kiến trúc từ chân tường của tháp A 1


với những ô trán (tympan) chạm trổ, nối liền với các chân


tường của các đền đài khác. Các điện thờ hình bát giác


của khu vực Chánh Lộ cũng thuộc về đặc trưng của giai


đoạn này mà biểu tượng phong cách cuối cùng của nó là


một điện thờ Po Nagar ở Nha Trang xây dựng vào đầu thế


kỷ thứ XI.


Sau thời kỳ vàng son của thế kỷ thứ X, nghệ thuật


Champa bắt đầu trải qua một giai đoạn chuyển hóa lâu dài


kể từ đầu từ thế kỷ XII qua phong cách kiến trúc nghèo


nàn và càng nghèo nàn rõ nét hơn trong suốt thế kỷ thứ


XIII. Biểu tượng cho nghệ thuật nằm trong giai đoạn


chuyển hóa này là phong cách của các đền đài nằm trong


khu vực Bình Định và Thấp Mẫm. Đó là Tháp Bạc (5 đền)


với các khung cửa vòm nhỏ có hình mũi nhọn ; Tháp Ngà


(3 đền) còn gọi là tháp Dương Long, có hệ thống rui kèo


(linteau) rập khuôn theo kỹ thuật xây dựng của thời Bayon


Angkor; Tháp Đồng còn gọi là tháp Cánh Tiên và Tháp


Vàng còn gọi là Thốc Lộc. Đặc trưng của phong cách này


là sự xuất hiện các dãy cửa vòm nhỏ (arcature) chung


quanh các ngôi tháp và lằn quăn (frise) của những trụ cột


có những hình động vật mang tính huyền thoại. Theo ông


P. Stern, cách trang trí quá cồng kềnh này thường biểu


tượng qua mô hình điêu khắc của phong cách Thấp Mẫm,


tức là theo mô hình nếp cuộn của con ốc sên, thường chấm


dứt bằng một cái móc.


Kể thế kỷ thứ XIV, nghệ thuật kiến trúc Champa


bắt đầu suy tàn và ngày càng gia tăng. Trước hết nó biểu


lộ qua đường nét nghệ thuật quá lỗi thời rồi dần dần mất


đi vẽ tinh khiết và thanh lịch của nó. Phong cách của giai


đoạn suy đồi này bắt đầu với cách xây dựng của tháp Po


Klaong Garai có thân hình của ngôi đền rất phát triển và


đồ sộ, nhưng các bức tượng dùng vào khung trang trí ở


phần trên của tháp chỉ là những hiện vật quá nhỏ và sơ


sài. Phong cách này vẫn còn tiếp diễn với ngọn tháp nằm


về phía nam của đền Po Nagar Nha Trang mà nghệ thuật


điêu khắc rất là đơn sơ và tầm thường, chưa nói đến các


đền Yang Praong và đền Yang Mum trên miền cao


nguyên. Đền tháp cuối cùng biểu tượng cho sự suy đồi này


là tháp Po Rome. Mặc dù truyền thuyết thường rêu rao cho


sự cao niên huyền bí của nó, tháp Po Rome chỉ là một


công trình xây dựng vào cuối thế kỷ XV hay vào đầu thế


kỷ thứ XVI mà thôi. Tháp này là phong cách kiến trúc


cuối cùng của vương quốc Champa xây bằng vật liệu


cứng, nhưng đó chỉ là cái đền có hình dạng của một khối


gạch trần truồng chồng chất lên nhau.


Cũng nhờ sự khám phá kể từ cuối thế kỷ thứ XIX


rất nhiều hiện vật khảo cổ như bức tượng, tấm đúc, bệ lót,


đà ngang, phù điêu, v.v. mà một số được cập nhật hóa và


chuyển về viện bảo tàng Đà Nẵng hoặc viện bảo tàng


Guimet ở Paris hầu tránh khỏi sự tàn phá của chiến tranh,


nghệ thuật điêu khắc hình tượng Champa trở thành một đề


tài được đăng tải trên nhiều tạp chí khoa học, cụ thể nhất


là tác phẩm của tác giả J. Boisselier (La statuaire du


Champa. Racherches sur les cultes iet l’iconographie, Paris,


Publications de l’EFEO, vol LIV, 1963) nhằm trình bày và


phân tích một số hiện vật nghệ thuật của vương quốc này.


Đây là một tác phẩm nghệ thuật Champa có giá trị khoa


học rất cao mà người ta không thể bỏ qua những phần


chính yếu của nó.


Trong số các hiện vật thuộc phong cách Mĩ Sơn E


1, người ta phải nhắc đến một chiếc bệ rất đẹp và hoàn mĩ


nằm bên trong của tháp này được phát hiện vào năm 1903.


Chiếc bệ này là một hiện vật có mô hình trang trí rất tuyệt


vời trên mọi khung mặt của nó, qua các điệu múa của vũ


nam, các nhạc sĩ cùng với một số nhân vật khác. Người ta


cũng không thể bỏ qua một trán tường (fronton) biểu tượng


cho nền nghệ thuật điêu khắc rất trang nhã, nhằm trình


bày thần Vishnu ở tư thế đang nằm ngủ có chiếc bông sen


mọc từ rún của vị thần này để đánh dấu sự khai sinh của


đấng Brahma.


Ngoài hai bức tượng thần gác cửa (Dvarapala), các


hiện vật thuộc phong cách Hòa Lai (giữa thế kỷ VIII- giữa


thế kỷ IX) có số lượng rất là ít ỏi, đặc biệt là những tượng


Phật nhỏ biểu tượng cho Avalokitesvara (Quan Thế Âm)


làm bằng đồng mang ảnh hưởng nghệ thuật Nam Dương.


Phong cách Đồng Dương cũng để lại nhiều hiện vật


nghệ thuật của Champa. Nó bao gồm những hiện vật biểu


tượng của Đức Phật cũng như những hoạt cảnh đời sống


của ngài ; các vị tăng lữ ; các vị thánh dù một số bị đứt


đầu, vẫn còn khoác áo thầy tu ; một vài nhân vật khác ;


các vị Dvarapala (thần gác cửa) khoác lên mình một chiếc


sampot (váy đàn ông) ; những hình tượng có nét mặt khác


hẳn với người thông thường ; những động vật thật sự hay


mang tính cách huyền thoại (các con voi, naga, makara


v.v..). Những khuôn mặt của phái nam trong phong cách


Đồng Dương thường có mũi tẹt và môi trề với mép râu


dày nằm bên trên. Các hình tượng của phái nữ thường có


khuôn mặt không bao giờ có nụ cười, với bộ ngực trần


truồng nhằm phô trương cặp vú bán cầu và thường mặc


chiếc sarong thòng xuống tận mắt cá của chân. Một trong


những hiện vật, có lẽ là bức tượng đẹp nhất của phong


cách này, là một bức tượng lớn làm bằng đồng cao gần


120 cm được khai quật tại Đồng Dương vào năm 1978 và


đã được ông J. Boisselier nghiên cứu (“ Un bronze de Tara


du musée de Đà-nẵng et son importance pour l’histoire de


l’art cu Champa”, trong BEFEO LXXII, 1948, trg. 319-


337, 5 bản khắc). Đây là tượng Tara (Quan Thế Âm phái


nữ) có một bộ mặt với những nét hơi nghiêm khắc, với cặp


vú to và mặc hai chiếc váy chồng lên nhau phủ xuống trên


bàn chân. Tượng này cũng là một tác phẩm đáng lưu ý


nhất, vì nó biểu tượng cho sự liên hợp giữa phong cách


thuần túy của vương quốc Champa với nền nghệ thuật của


Ấn Độ và Trung hoa.


Phong cách Mĩ Sơn A 1 được xếp vào niên đại của


thế kỷ thứ X cung cấp vào những giai đoạn đầu của nó còn


gọi là giai đoạn của đền Khương Mĩ, nhiều nhân vật có


những nét tươi đẹp hơn so với thời kỳ trước và thường đeo


nhiều đồ trang sức hơn, như các sợi vòng cổ, các sợi đeo


tai thòng xuống, v.v... Nhân vật nam thường mặc tấm


sampot phủ tới đầu gối. Một trong những tác phẩm nghệ


thuật đẹp nhất vào giai đoạn này là bức tượng nửa thân


làm bằng đá gọi là tượng Devi tại Hương Quế mà búi tóc


được tô điểm bằng một mảnh trăng lưỡi liềm, biểu tượng


cho Sakti (phu nhân) của thần Siva, tức là một bức tượng


mà trên đó người ta trang điểm bằng những đồ nữ trang di


động bằng vàng trên tai và trên mái tóc, nhân các cuộc lễ


nghi nào đó. Giai đoạn này cũng là giai đoạn đánh dấu cho


sự chuyển tiếp sang phong cách của Trà Kiệu. Nghệ thuật


điêu khắc của giai đoạn này cung cấp một sự thống nhất


thực sự về phong cách, với những nhân vật thật sự thường


có búi tóc tròn được bao phủ lại và một chiếc mũ miện


(diadème) ; những nhân vật huyền thoại được trình bày


trên những phù điêu gắn ở phần trên hay phần dưới của


bức tường ; những hình vũ nữ (apsara) dường như đeo các


đồ nữ trang riêng của họ và những con vật thực sự hay


thần thoại như garuda, nandin, sư tử, gala ; những con voi,


v.v., có những bộ điệu rất là khác biệt. Một trong những


kiệt tác của phong cách Trà Kiệu là chiếc “bệ vũ nữ” mà


mỗi cột trụ phía trên đều được trang trí bằng một dáng


điệu của cô vũ nữ có một nét rất độc đáo và một vẽ đẹp


tuyệt vời, tiêu biểu cho một tác phẩm nghệ thuật thật sự


của vương quốc Champa.


Tiếp theo phong cách của Trà Kiệu là phong cách


Tháp Mẫm biểu tượng cho một nền nghệ thuật cao hơn,


không chứa đựng một ảnh hưởng nào của nghệ thuật Ấn


Độ và Java như thời trước nữa. Các hình tượng của thần


linh, nhà tu khổ hạnh và vũ nữ (apsara) luôn luôn dựa lưng


vào các điện thờ, thường có búi tóc và sắc phục (sampot


ngắn và áo bó sát vào thân) và thường đeo nữ trang, đặc


biệt là đồ vật đeo tai thòng xuống và sợi dây thắt lưng cấu


thành đặc thù của phong cách Thập Mẫm. Các loài động


vật trong phong cách này nói chung là hình tượng của các


con vật thần thoại (gajasimha, makara, con rồng, v.v..)


mang nhiều đường nét chạm trổ rất phong phú. Biểu tượng


cho phong cách này là loại vú “bán cầu” trang trí trên


những chiếc bệ dùng để làm đế cho tượng Linga. Đây là


hình thể độc đáo nhất trong nền nghệ thuật điêu khắc của


khu vực Đông Nam Á.


Trong suốt hai thế kỷ XIV và XV, nghệ thuật


Champa cung cấp ít tác phẩm điêu khắc hơn, và đơn giản


hơn. Đại đa số các nhân vật trong giai đoạn này chỉ hiện


diện trên các phù điêu ở phần trên của bức tường. Những


bức tượng này ít khi trình bày bàn chân của nhân vật và


trên đầu của nó thường có vương miện hoặc là cái mũ có


chóp cao (mitre). Bộ mặt thì có miệng khá rộng và cặp


mắt bán nguyệt. Trong số những bức tượng thuộc giai


đoạn cuối cùng của Ấn Giáo này, người ta phải nói đến


bức tượng Shiva của tháp Drang Lai (Dak Lak) và của


Yang Mum (Công Tum).


Ngoài những bức tượng bằng đá, người ta không


thể bỏ quên một số hiện vật mà các vị vua chúa Champa


thường cống hiến cho các thần linh trên đền tháp, đó là


các món nữ trang bằng vàng hay bạc dùng để trang điểm


các tượng thần, các bình chậu, bình chứa nước có quai và


những đồ vật khác dùng vào các lễ nghi. Hầu hết những


tác phẩm bằng vàng, bạc, đồng thau (laiton), đồng (cuivre)


mà các thợ kim hoàn hay thợ bạc Champa đã thực hiện,


không còn hiện hữu nữa. Trong suốt chiều dài của những


cuộc chiến do ngoại bang gây ra, những kim loại quí và nữ


trang này cấu thành những hiện vật làm cho quân địch


thèm thuồng nhất. Đánh cắp các hiện vật mà vua chúa


Champa đã dâng hiến cho thần linh cũng là mục tiêu chính


yếu nhằm tiêu diệt đi sự che chở của các thần linh đó đối


với vương quốc này. Dù sao đi nữa, người ta vẫn biết rõ


nguồn gốc một số tác phẩm nghệ thuật đó, bởi vì các văn


bia Champa chẳng những cho biết tên tuổi của nhân vật đã


dâng hiến những tác phẩm này mà còn liệt kê vào danh


sách những tên thần linh đã nhận món quà, đồng thời mô


tả một cách chi tiết liên quan đến trọng lượng và số lượng


của nó. Đây là đoạn văn mà bia kí ghi lại liên quan đến


cái chén (kosa) được dùng làm hiện vật để dâng hiến cho


thần linh vào năm 1010 của lịch Sakaraja, (“Les


inscriptions de Mĩ-sơn XVI B”, trong BEFEO IV, 1904, trg.


948, 950-951) do L. Finot dịch:


“Ngài Cri Jaya Indravarmadeva ý thức rằng thần


Bhadresvara là vị chủ tể của vạn vật hữu hình nơi thế


gian, đã đặt làm một kosa lục diện (sanmukha) bằng


vàng được trang trí hình con rồng thiên (nagabhusana)


và những hoa văn của châu báu có mầu sắc nằm trên


mũi nhọn của những vương miện. Và cái mà người ta


gọi là urdhvakosa làm bằng vàng tuyệt vời. Và người ta


làm một bệ đỡ (adhara) nằm bên dưới của Kosa này với


một miếng đá của mặt trời (suryakanti) nằm ở trên đỉnh


của vương miện. Diện hướng (?) về phía Đông có một


hồng ngọc (rubis)...ở trên đỉnh của chiếc vương miện và


trang trí hình con rồng thiên của vua chúa (nagaraja).


Các diện hướng về đông-bắc và đông-nam có một ngọc


sa phia (saphir)...trong con mắt của con rồng thiên [và]


trên đỉnh của chiếc vương miện. [Diện] hướng về phía


nam có một hồng ngọc (rubis) ... trên đỉnh của vương


miện. [Diện] hướng về phía tây có một hoàng ngọc


(topaze) ... trên đỉnh của chiếc vương miện. [Diện]


hướng về phía bắc có một hạt trai (uttaratna ?). Chiếc


kosa bằng vàng này có 314 thil 9 dram ... vàng; sáu mặt


của kosa, với vương miện, con rồng thiên [nằm] bên


trên, và cái adhara urdhvamukha cân 136 thil; tất cả là


450 thil 9 dram”.


Việc phát hiện vào năm 1995 một chiếc tàu chở


hàng bị chìm ở phía nam của hòn đảo Palawan


(Philippines) cũng cho phép cho người ta biết được vào


khoảng thế kỷ XV, các vùng lân cận của Vijaya tức là thủ


đô Champa, đã sản xuất và xuất khẩu đến các nước lân


bang và có thể xa hơn, những đồ gốm xuất xứ từ khu vực


Gò Sành và vùng lân cận của nó (K. Morimura, “Ceramics


Salvaged from a Sunken Vessel of Pandanan Island in


Philip- pines”, trong Trade Ceramics Studies số 16, 1996,


trg. 111-125). Theo đề nghị của một giả thuyết dù không


thuyết phục cho lắm, việc sản xuất đồ gốm tại Champa


vẫn còn tiếp diễn trong suốt thế kỷ thứ XVI. Có chăng đây


là sản phẩm nghệ thuật duy nhất còn tồn tại cho đến lúc


Champa Ấn Giáo bị sụp đổ.


Kể từ năm 1471 trở đi, Champa không còn tiềm lực


và năng lực để xây dựng các đền tháp, sáng tác các tác


phẩm nghệ thuật hay làm các đồ nữ trang nữa, vì năng


khiếu đã từng đưa nghệ thuật Champa lên đỉnh cao của sự


sáng chói đã biến mất đi. Chính vì thế, những tượng Kut


được sáng tác vào thời kỳ Champa bản địa để làm dấu


hiệu của những ngôi mộ thuộc về gia đình mẫu hệ, không


phải là yếu tố thuyết phục nhằm chứng minh rằng nền


nghệ thuật Champa vẫn chưa suy tàn. (Nghiêm Thẩm,


“Tôn giáo của người Chàm tại Việt Nam” trong Quê


Hương 34, 4-1962, trg. 108-123). Kut chỉ là một khối đá


nhỏ có hình dạng của một tấm bia mộ. Một số Kut thường


có hình dáng của một bóng người hay có bộ mặt được


chạm trổ ít nhiều. Nhưng đa số còn lại chỉ có một đường


viền giản dị, không biểu tượng cho sự thẩm mỹ của một


nền nghệ thuật. Chính vì thế, các nhà chuyên về nghệ


thuật Champa không bao giờ quan tâm đến cho lắm.


Cho đến hôm nay, lịch sử Champa vẫn còn là một


chủ đề cần được nghiên cứu thêm một cách sâu rộng, vì đa


số tư liệu của vương quốc này bị biến mất theo thời gian


và văn bản còn lưu lại thì có số lượng quá ít, nhưng thường


chứa đựng một nội dung rất khó hiểu. Chính đó là nguyên


nhân giải thích tại sao nhiều nhà nghiên cứu thường dựa


vào những lời tường thuật sơ sài và ngắn gọn trong biên


niên sử của Trung Hoa để thiết kế lại lịch sử thời cổ đại


của vương quốc này.


Ai cũng biết, những chi tiết của sự kiện nằm trong


biên niên sử Trung Hoa thường được chép lại sau một thời


gian dài của biến cố đã xảy ra, có phần thêm bớt để phù


hợp với quan điểm của chính quyền thời đó, bất chấp mọi


hậu quả có thể xảy ra. Thêm vào đó, biên niên sử của


quốc gia này chỉ bàn đến những gì có sự liên hệ giữa


Champa và Trung Hoa mà thôi. Riêng về bia ký viết bằng


tiếng Phạn và Chăm cổ mà người ta thường dựa vào đó để


nghiên cứu về Champa vào những thời đại kế tiếp thì


không được dồi dào cho lắm so với số lượng bia ký xuất


hiện ở Campuchia. Hơn nữa, nội dung của những bia ký


này thường bị gián đọan trong không gian của niên đại, vì


một phần bị tàn phá theo hoạch định của chính sách Nam


Tiến của dân tộc Việt. Trên tổng số 206 tấm bia Champa


còn tồn tại và đã được kiểm kê, chỉ có 81 tấm bia đã được


nghiên cứu và phiên dịch. Chính đó cũng là nguyên nhân


không cho phép các nhà khoa học đi sâu vào chi tiết của


lịch sử Champa. Vì quá quan tâm đến vấn đề tôn giáo, các


bia ký Champa thường hay bỏ qua những biến cố chính trị


quan trọng đã xảy ra tại vương quốc này. Hơn nữa, một số


bia ký đã mất đi ngày tháng và niên đại, cho nên việc sử


dụng nguồn tư liệu bia đá đòi hỏi nhiều phần khách quan


và luôn luôn dè dặt. Bên cạnh bia ký, người ta còn có một


nguồn tư liệu lịch sử nữa đó là các biên niên sử viết bằng


chữ Chăm trung đại (cham moyen) và cận đại (cham


modern). Tiếc rằng, những văn bản này chỉ đề cập đến


Champa sau thế kỷ thứ XV, tức là chỉ chú tâm vào lịch sử


của tiểu vương quốc Panduranga mà thôi, chúng tôi chưa


nói đến những kho tàng tư liệu khác đã biến mất theo môi


trường tự nhiên của khí hậu và tính vỡ vụn của phương


pháp bảo trì. Riêng về nguồn tư liệu Việt Nam vào giai


đoạn cận đại (période moderne) và hiện đại (période


contemporaine), văn bản này chỉ chú trọng đến Champa


trong giai đọan của cuộc Nam Tiến hoặc chỉ nói đến các


biến cố đã xảy ra có sự liên hệ trực tiếp đến triều đình


Việt Nam mà thôi.


Dù việc phân kỳ niên đại có hệ thống đến đâu đi


nữa, lịch sử Champa vẫn là tổng thể của những biến cố


chia thành 3 thời kỳ rõ rệt.


- Thời kỳ đầu tiên là giai đọan lập quốc và sự ra


đời của vương quốc Lin Yi (Lâm Ấp), danh xưng


lịch sử mà các sử gia Trung Hoa thường sử dụng


để ám chỉ Champa.


- Thời kỳ thứ hai gọi là thời kỳ Champa Ấn Hóa


(Champa indianisé), kéo dài qua nhiều thế kỷ,


trong đó văn hóa Phạn ngữ, Siva Giáo, Phật Giáo


đại thừa (dù là ngắn ngủi) và nhất là truyền thống


Bà La Môn du nhập từ miền nam nuớc Ấn cấu


thành nền tảng cơ bản của mọi cơ cấu tổ chức


chính trị và xã hội của vương quốc Champa. Giai


đoạn này là giai đọan đánh dấu cho một cuộc


chiến lâu dài giữa hai nền văn minh đối nghịch


nhau, đó là nền văn minh Ấn Giáo mà vương


quốc Champa dựa vào đó để xây dựng di sản văn


hóa tinh thần của mình nhằm gây tiếng vang sang


phía bắc, chống lại nền văn minh Trung Hoa, tức


là nôi sinh văn hóa của dân tộc Việt lúc nào cũng


tìm cách tràn xuống phía nam.


- Thời kỳ thứ ba gọi là thời kỳ Champa Bản Địa ra


đời sau ngày sụp đổ của Champa Ấn Hóa, nhất là


sau ngày lãnh thổ miền bắc của Champa bị rơi


vào tay của Đại Việt vào thế kỷ thứ XV. Kể từ


ngày lãnh thổ Champa bị thu hẹp lại vào hai tiểu


vương quốc Kauthara và Panduranga cho đến lúc


danh xưng của quốc gia này bị xóa bỏ trên bản đồ


vào đầu thế kỷ XIX, vương quốc Champa không


ngừng dựa vào yếu tố văn hóa bản địa của tiểu


vương quốc miền nam để xây dựng cho mình một


nền văn minh mới và một hệ thống tổ chức xã hội


hoàn toàn mới mẻ.


Nguồn gốc của Champa: Lin Yi


Nói đến nguồn gốc của vương quốc Champa, tư


liệu lịch sử Trung Hoa cho rằng vào cuối thế kỷ thứ II sau


Công Nguyên, quận Nhật Nam (Rinan) là một đơn vị hành


chánh (commanderie) nằm về phía nam của Trung Hoa, có


lãnh thổ, chạy dài từ mũi Rộn (mũi Hoành Sơn) cho đến


đèo Hải Vân của miền trung Việt Nam. Mặc dù vị trí địa


dư và qui chế chính trị như thế, nhưng tư liệu Trung Hoa


vẫn cho rằng đa số dân cư của quận Nhật Nam là người


dân bản địa; phần còn lại là dân cư người Hoa có số lượng


rất là ít ỏi. Vào cuối thế kỷ thứ II, một đơn vị hành chánh


nằm trong quận Nhật Nam mang tên là phủ (préfecture)


Xianglin lợi dụng tình hình suy yếu của Trung Hoa để tìm


cách thoát ra khỏi ách thống trị của quốc gia này. Sau khi


nghiên cứu và phân tích những văn bản Trung Hoa liên


quan đến quận Nhật Nam, học giả R. A. Stein (“Le Lin-


Yi. Sa localisation, sa contribution à la formation du


Champa et ses liens avec la Chine” in Han-Hiue, Pékin,


volume II, Fascicules 1-3, 1947, 335 trang) cho rằng vào


khoảng cuối năm 192 Tây Lịch, một nhân vật gốc người


bản địa đã giết chết vị thủ trưởng gốc người Trung Hoa


nắm quyền ở phủ Xianglin rồi tự xưng là quốc vương của


quốc gia này mà lãnh thổ đất đai bao gồm cả khu vực của


tỉnh lỵ Huế hiện nay chạy dài cho đến biên giới miền nam


của núi Bạch Mã.


Vào những năm 220-230, nhân cuộc trao đổi đại sứ


với các nước lân bang, tư liệu Trung Hoa lần đầu tiên dùng


tên gọi Lin Yi để ám chỉ cho một vuơng quốc vừa mới độc


lập này. Chính vì thế, một số nhà khoa học tin rằng Linyi


có thể là tên địa danh xuất phát từ cụm từ của phủ


Xianglin. Ngay khi ra đời, Lin Yi bắt đầu mở rộng đất đai


bằng cách sát nhập một phần đất phía bắc của quận Nhật


Nam vào lãnh thổ của mình và chấp nhận tiếp thu một số


ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa. Tài liệu Trung Hoa là


nguồn sử liệu duy nhất nói về Champa cho đến thế kỷ thứ


VII, nhưng không bao giờ đề cập đến Lin Yi chịu ảnh


hưởng của Trung Hoa trong khoảng thời gian là bao lâu và


kể từ lúc nào Lin Yi lại tiếp thu các ảnh hưởng của nền


văn minh Ấn Giáo,


Kể từ thế kỷ thứ III, Lin Yi đã thắt chặt các mối


bang giao với Phù Nam (Campuchia), một vương quốc đã


chịu ảnh hưởng Ấn Giáo kể từ ngày lập quốc vào thế kỷ


thứ nhất sau Tây Lịch. Thêm vào đó, tài liệu Trung Hoa


cho rằng 16 vị quốc vương của Lin Yi lên nắm chính


quyền giữa thế kỷ thứ III và thứ VII đều mang danh hiệu


bắt đầu bằng chữ Fan, tức là cách phiên âm từ chữ brahma


của Phạn ngữ. Từ hai yếu tố vừa nêu ra, người ta có thể


kết luận rằng vương quốc Lin Yi đã tiếp thu nền văn minh


Ấn Giáo rất sớm so với lý thuyết mà một số nhà khoa học


đã từng đưa ra cho đến hôm nay, mặc dù người ta không


biết Lin Yi bị Ấn Hóa vào năm nào. Đây là một chủ đề


trọng đại cần nghiên cứu thêm vì quá trình Ấn Hóa của


vương quốc Lin Yi cấu thành động cơ đã làm thay đổi tên


gọi Lin Yi thành danh xưng Champa mà học giả R. A.


Stein đã từng chứng minh, dựa vào nhiều nguồn tư liệu


lịch sử, ngôn ngữ và dân tộc học.


Trong suốt chiều dài của lịch sử, Lin Yi đã trải qua


bao đời vua tiếp tục thay thế nhau lên nắm chính quyền,


trong số đó có một vài thủ lãnh dùng quyền lực để chiếm


đoạt ngôi báu. Cho đến thế kỷ thứ VI, hầu hết tên tuổi vua


chúa của Lin Yi đều do người Trung Hoa biên chép, rất


khó mà khôi phục lại tên thật của họ. Nhưng đưa ra danh


sách vua chúa của Lin Yi ra đây, chắc không phải là việc


cần thiết cho lắm, bởi vì quyền nối ngôi của họ vẫn còn là


một chủ đề tranh cãi, chưa tìm ra câu trả lời thích đáng.


Một khi Trung Hoa nằm trong tư thế hùng mạnh, Lin Yi


thường gởi các phái đoàn ngọai giao và lễ vật sang triều


cống. Lợi dụng các cơ hội bang giao tốt đẹp với Trung


Hoa, Lin Yi không ngần ngại xô quân đánh phá vùng ven


biển của Giao Chỉ (Jiaozhou), tức là miền bắc Việt Nam


hôm nay. Cũng vì lý do đó mà Trung Hoa phải xua quân


chinh phạt Lin Yi, kéo theo các cuộc chiến liên hồi giữa


Lin Yi và các thống đốc người Hán nắm quyền cai trị Giao


Chỉ, một thuộc địa của Trung Hoa nằm phía cực nam, kể


từ thế kỷ thứ III.


Theo tài liệu Trung Hoa, Linyi có ranh giới phía


nam giáp với một số quốc gia hay tiểu vương quốc có hình


thái tổ chức chính trị và xã hội hoàn toàn biệt lập, nằm


trên vùng đồng bằng ven biển và các châu thổ nhỏ thuộc


về phía cực nam của bán đảo Đông Dương, chạy dài từ núi


Bạch Mã (Huế) cho đến Funan (Campuchia). Đây là khu


vực của những người man rợ (barbare) vì họ có nếp sống


hoàn toàn khác biệt với văn hóa của người Trung Hoa.


Hoàn toàn khác hẳn với vương quốc Linyi, những tiểu


vương quốc này đã tiếp thu đậm nét nền văn minh Ấn


Giáo từ đầu kỷ nguyên. Các bia ký tìm thấy ở vùng lân


cận của thánh địa Mĩ Sơn (Đà Nẵng-Hội An) và khu vực


Nha Trang đã chứng minh rằng tiếng Phạn đã trở thành


một ngôn ngữ thông dụng kể từ thế kỷ thứ III trong phần


đất nằm về phía nam của miền trung Việt Nam hôm nay,


trong khi đó tiếng Chăm chỉ được sử dụng kể từ bán thế kỷ


thứ IV trong khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng, tức là tiểu


vương quốc Amaravati (K. Bhattacharya “Précisions sur


la paléographie de l'inscription de Võ-canh” trong Artibus


Asiae XXIV - 3-4, 1961, trg. 219-224). Các bia ký ấy cũng


cho biết về sự phát triển của môn phái Siva Giáo cũng như


tầm mức thịnh hành của nó tại khu vực Quảng Nam trong


thời điểm đó. Cũng nhờ bốn bia ký bằng Phạn ngữ viết


vào đời vua Bhadravarman I, thủ lãnh của một quốc vương


đầu tiên thuộc về giai đoạn lịch sử của một quốc gia (sau


này là Champa) nằm về phía nam của núi Bạch Mã (Huế)


và cũng là nhân vật sáng lập ra điện thờ thần Siva trong


quần thể Mĩ Sơn, một thánh địa tôn giáo của vương quốc


này. Các bia ký Phạn ngữ vừa nhắc đến cũng như các bia


ký viết bằng tiếng Chăm cổ, tức là ngôn ngữ đã được sử


dụng tại khu vực Mĩ Sơn nằm ngay ở phía nam của Linyi


và có thể trong những khu vực khác nửa, không bao giờ đề


cập đến các mối liên hệ giữa Linyi với các tiểu vương


quốc nằm về phía nam của đèo Hải Vân (phía nam Huế).


Tấm bia Phạn ngữ gọi là bia của Vat Luong Kau tìm thấy


tại Champassak (miền nam nuớc Lào) là tư liệu duy nhất


viết vào cuối thế kỷ thứ V, tức là vào thời đại của Lin Yi,


nhưng tấm bia này cũng không bàn đến một chi tiết gì về


vương quốc này. Một khi không tìm ra các bia ký khác viết


vào thế kỷ thứ V và thứ VI, vì bị tàn phá trong chiến tranh,


người ta buộc phải dựa vào tài liệu Trung Hoa để tìm hiểu


thêm những biến cố đã diễn ra tại Lin Yi trong hai thế kỷ


đó. Tiếc rằng, các tài liệu Trung Hoa chỉ cung cấp một số


tin tức rất là sơ sài về vương quốc này để rồi từ đó người


ta tự đặt ra bao câu nghi vấn, có chăng vào thế kỷ thứ V


và vào đầu thế kỷ thứ VI, biên giới phía nam của Lin Yi


đã nằm bên kia đèo Hải Vân (phía nam Huế) nhưng thủ đô


của nó vẫn tọa lạc trong khu vực của thành phố Huế hiện


tại? Chỉ cần băng qua ngọn đèo Hải Vân, nguời ta có cảm


tưởng rằng Lin Yi có thể chiếm trọn cả tỉnh Quảng Nam


để thống trị các dân cư sống ở phía nam của núi Bạch Mã


(Huế) và di chuyển thủ đô của mình từ thành phố Huế


sang miền nam của đèo Hải Vân để tạo cho mình một


quốc gia lớn mạnh hơn gọi là vương quốc Champa sau


này. Đây chỉ là một giả thuyết không thuyết phục cho lắm


liên quan đến chủ đề tại sao vương quốc Lin Yi lại trở


thành tên gọi Champa! Vì rằng, sự liên hệ về tên gọi giữa


Lin Yi và Champa chỉ được xác nhận vào cuối thế kỷ thứ


VI bởi một tư liệu Trung Hoa ghi lại lộ trình viễn chinh


của Liu Fang, mặc dù người ta không thể biết rõ ngày


tháng chính xác của văn bản này (Suizhou, K. 53, 4b). Đây


là lần đầu tiên mà Liu Fang nhắc đến thủ đô của Lin Yi


vào đầu năm 605 nằm tại Simhapura (Trà Kiệu), tức là


phía nam của đèo Hải vân. Thêm vào đó, danh xưng


Champa lại xuất hiện lần đầu tiên trên một bia ký Phạn


ngữ vào năm 658 tìm thấy ở Mĩ Sơn (xem L. Finot, “Stèle


de Cambhuvarman à Mĩ-sơn” trong BEFEO III, năm


1903, trg. 209-210). Và danh xưng Champa này cũng tìm


thấy trong bia ký Campuchia kể từ năm 667 và trong các


bản văn Trung Hoa phiên âm thành Zhancheng kể từ năm


877.


(còn tiếp)


Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »