Champa Ấn Hóa
Thời kỳ đầu của Champa
Vị quốc vương đầu tiên của quốc gia mang tên Champa, ám chỉ cho vương quốc Lin Yi có lãnh thổ nới
rộng về phía nam của đèo Hải Vân, có thể là vua Sambhuvarman (?-629) hay thân phụ của ông ta tên là
Rudravarman I (530 - ?) và cũng có thể là Vijayavarman (? - 529), tức là người đã lên ngôi trước vua Rudravarman.
I. Lần đầu tiên, người ta nhắc đến vua Sambhuvarman
cùng một lúc với sự ra đời của danh xưng Champa. Ông ta
là vị vua chủ trương mở rộng chính sách bang giao thân
thiện với Zhenla (Campuchia). Dưới thời trị vì của ông,
Champa cũng bị nhiều lần tấn công bởi đoàn quân Trung
Hoa do Liu Fang chỉ huy. Sau đó, con trai của ông ta tên là
Kandarpadharma lên nối ngôi vua cha và tiếp tục duy trì
mối bang giao chặt chẽ với Campuchia. Vua
Kandarpadharma nhường ngôi lại cho đứa con của mình là
hoàng tử Prabhasadharma. Các quốc vương kế tiếp của
vua Prabhasadharma đã gây ra một khúc quanh trong biên
niên sử Champa thời đó. Bởi vì bia ký Champa và
bản văn Trung Hoa phiên âm thành Zhancheng kể từ năm
877.
Champa Ấn Hóa
Thời kỳ đầu của Champa
Vị quốc vương đầu tiên của quốc gia mang tên
Champa, ám chỉ cho vương quốc Lin Yi có lãnh thổ nới
rộng về phía nam của đèo Hải Vân, có thể là vua
Sambhuvarman (?-629) hay thân phụ của ông ta tên là
Rudravarman I (530 - ?) và cũng có thể là Vijayavarman
(? - 529), tức là người đã lên ngôi trước vua Rudravarman
I. Lần đầu tiên, người ta nhắc đến vua Sambhuvarman
cùng một lúc với sự ra đời của danh xưng Champa. Ông ta
là vị vua chủ trương mở rộng chính sách bang giao thân
thiện với Zhenla (Campuchia). Dưới thời trị vì của ông,
Champa cũng bị nhiều lần tấn công bởi đoàn quân Trung
Hoa do Liu Fang chỉ huy. Sau đó, con trai của ông ta tên là
Kandarpadharma lên nối ngôi vua cha và tiếp tục duy trì
mối bang giao chặt chẽ với Campuchia. Vua
Kandarpadharma nhường ngôi lại cho đứa con của mình là
hoàng tử Prabhasadharma. Các quốc vương kế tiếp của
vua Prabhasadharma đã gây ra một khúc quanh trong biên
niên sử Champa thời đó. Bởi vì bia ký Champa và
Campuchia cũng như tư liệu Trung Hoa không đồng quan
điểm về tên tuổi cũng như tổng số quốc vương cai trị
Champa cho đến ngày lên ngôi của vua Prakasadharma
vào năm 653. Prakasadharma là người con trai của giòng
tộc Kandarpadharma. Mẹ của ông ta xuất thân từ gia đình
hoàng gia Campuchia, tức là một trong những đứa con gái
của Isanavarman I, quốc vương Campuchia thời đó.
Prakasadharma lên ngôi qua sự biểu quyết của hội đồng
hoàng gia Champa, một qui chế thường diễn ra tại vương
quốc này. Sau ngày lên ngôi, ông ta lấy tên vuơng hiệu là
Vikrantavarman và nhận chức phong là Po Tana Raya
Champa (vị vua tối cao của đất đai Champa). Trong những
năm trị vì, ông ta gia tăng công trình xây dựng nhiều đền
đài tôn giáo tại Mĩ Sơn và tại nhiều nơi khác trong khu vực
Amaravati. Vikrantavarman là vị vua đầu tiên đã sáng tạo
ra phong cách nghệ thuật của nền điêu khắc Champa, và
đã để lại một số bia ký, nhất là bia nằm về phía bắc của
khu vực Nha Trang. Sự hiện diện của bia ký này đã chứng
minh rằng vua Vikrantavarman có một ảnh huởng chính trị
lớn lao ở miền nam Champa, nhất là tiểu vương quốc
Kauthara. Mặc dù có ảnh hưởng như thế, nhưng chưa chắc
ông ta đã nắm trọn trong tay quyền cai trị trên tiểu vương
quốc Panduranga nằm trong hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận hiện nay. Vị vua nối ngôi của Vikrantavarman cũng
mang tên là Vikrantavarman, đã gởi nhiều phái đoàn
ngoại giao sang Trung Hoa cho đến năm 731. Sau đó, tài
liệu Trung Hoa tiếp tục nói đến sự hiện diện tại quốc gia
này vào năm 749 một phái đoàn ngọai giao Champa do
vua Rudravarman II gởi sang, một thủ lãnh Champa mà
người ta cũng không biết gì nhiều về lai lịch của ông ta.
Và sau đó, các tài liệu Trung Hoa vẫn tiếp tục dùng cụm
từ Lin Yi để ám chỉ cho Champa, nhưng đột nhiên danh
xưng Lin Yi bị biến mất vào năm 757-758, để thay vào đó
bằng một tên gọi mới, đó là Huan Wang (Hoàng Vương).
Thời kỳ Hoàng Vương
Tên gọi vương quốc Hoàng Vương mà các nhà sử
quan (historiographe) Trung Hoa thường xử dụng cho đến
năm 859 tương ứng với giai đoạn mà trung tâm chính trị
của Champa đã dời về phía nam nằm trong tiểu vương
quốc Kauthara và Panduranga. Bằng chứng cụ thể đó là
sau ngày dời thủ đô Champa sang miền nam, nguời ta
không tìm thấy bia ký Phạn ngữ và Chăm cổ ở miền bắc
Champa nữa, trong khi đó số lượng bia ký này lại tăng
thêm rất nhiều ở miền nam. Thêm vào đó, vị quốc vương
Champa mà hội đồng hoàng gia đã chọn lựa để thay thế
vua Rudravarman II là hoàng tử Prthivindravarman, người
gốc miền nam. Thay vì đặt trung tâm chính trị tại phía bắc,
vua Prthivindravarman và những vị vua kế tiếp của ông ta
có quyền chọn tiểu vương quốc của mình ở miền nam để
làm thủ đô của Champa thời đó, kéo dài trong suốt một
liệu Trung Hoa tiếp tục nói đến sự hiện diện tại quốc gia
này vào năm 749 một phái đoàn ngọai giao Champa do
vua Rudravarman II gởi sang, một thủ lãnh Champa mà
người ta cũng không biết gì nhiều về lai lịch của ông ta.
Và sau đó, các tài liệu Trung Hoa vẫn tiếp tục dùng cụm
từ Lin Yi để ám chỉ cho Champa, nhưng đột nhiên danh
xưng Lin Yi bị biến mất vào năm 757-758, để thay vào đó
bằng một tên gọi mới, đó là Huan Wang (Hoàng Vương).
Thời kỳ Hoàng Vương
Tên gọi vương quốc Hoàng Vương mà các nhà sử
quan (historiographe) Trung Hoa thường xử dụng cho đến
năm 859 tương ứng với giai đoạn mà trung tâm chính trị
của Champa đã dời về phía nam nằm trong tiểu vương
quốc Kauthara và Panduranga. Bằng chứng cụ thể đó là
sau ngày dời thủ đô Champa sang miền nam, nguời ta
không tìm thấy bia ký Phạn ngữ và Chăm cổ ở miền bắc
Champa nữa, trong khi đó số lượng bia ký này lại tăng
thêm rất nhiều ở miền nam. Thêm vào đó, vị quốc vương
Champa mà hội đồng hoàng gia đã chọn lựa để thay thế
vua Rudravarman II là hoàng tử Prthivindravarman, người
gốc miền nam. Thay vì đặt trung tâm chính trị tại phía bắc,
vua Prthivindravarman và những vị vua kế tiếp của ông ta
có quyền chọn tiểu vương quốc của mình ở miền nam để
làm thủ đô của Champa thời đó, kéo dài trong suốt một
thế kỷ. Vua Prthivindravarman dường như là người xuất
thân từ tiểu vương quốc Kauthara, vì đền Po Nagar (Nha
Trang) là nơi tập trung hầu hết những bia ký thuộc triều
đại của ông ta cho đến năm 854, trong lúc đó các bia ký
liên quan đến quan chức thuộc về triều đình của ông ta
cũng nằm rải rác ở phía nam của thánh địa Po Nagar Nha
Trang và trong tiểu vương quốc Panduranga mà thôi. Các
bia ký này đã cung cấp rất nhiều tin tức, nhất là chú trọng
đến việc tôn vinh các vị vua miền nam và đề cao dòng tộc
của họ, chứ không bao giờ nhắc đến công lao của các vua
chúa ngự trị ở phía bắc của Champa. Những bia ký này
cũng quan tâm rất nhiều đến việc thờ phụng Bhagavati
(phu nhân của Siva) có đền thờ mang tên là đền Po Nagar
tại Nha Trang, một vị nữ thần quan trọng nhất của tiểu
vương quốc Kauthara và có nguồn gốc xuất xứ lâu đời
nhất tại Champa, để rồi quên đi Bhadresvara của thánh
địa Mĩ Sơn, một vị nam thần và cũng là vị vua Champa
đầu tiên ghi trên bia ký, được tôn thờ nhất ở khu vực miền
bắc.
Triều đại Champa của miền nam dường như có thủ
đô đặt tại Virapura, tức là khu vực Phan Rang, một địa
điểm mà các nhà khoa học vẫn còn tranh luận về lý thuyết
của nó. Vị thủ lãnh đầu tiên đóng đô tại Virapura là vua
Prthivindravrman. Ông ta và các vị vua nối nghiệp là
những người có công đưa các truyền thống bản địa ở miền
nam vào hệ thống nghi lễ của triều đình Champa ở miền
bắc. Ông ta cũng sáng chế ra việc sử dụng danh xưng
thánh hiệu (nom posthume) sau ngày băng hà của vua
chúa. Tên thánh hiệu của ông ta là Rudraloka. Các vị vua
miền nam cũng tiếp tục dùng tên thánh hiệu này sau khi
chấm dứt việc cai trị của họ. Cháu của vua
Prthivindravrman tên là Satyavarman là nguời được tôn
lên làm vua kế vị ông ta. Vừa mới lên ngôi, Satyavarman
phải đương đầu vào năm 774 với những cuộc quấy nhiễu
bằng đường biển bởi một nhóm người ốm yếu và đen thui
đến từ Java (quốc gia Đa Đảo) để đánh cắp tượng Linga ở
đền Po Nagar (Nha Trang) và đốt phá điện thờ này. Một
bia ký tại đền Po Nagar Nha Trang cũng ghi rằng vua
Satyavarman đã xua quân đánh bại đoàn quân cướp biển
Java và ra lệnh xây dựng lại một điện thờ mới vào năm
784 ở thánh địa Po Nagar Nha Trang (Barth và A.
Bergaigne, Inscriptions sanskrites du Cambodge et du
Campa, Paris, 1885, trg. 252-253). Sau khi băng hà, vua
Satyavarman nhận tên thánh hiệu là Isvaraloka và nhường
ngôi lại cho con trai của mình tên là Indravarman. Trong
thời gian trị vì, vua Indravarman cũng bị những đoàn quân
Java đột kích một lần nữa bằng đường biển vào năm 787
để tàn phá một điện thờ gần Virapura (Phan Rang), thủ đô
của Champa thời đó. Mười hai năm sau, Indravarman ra
công xây dựng lại đền này, bị tàn phá vào năm 787. Ông
ta trị vì ít nhất đến năm 801 và nhường ngôi lại cho
Harivarman I, dường như là anh rể của ông ta. Harivarman
I là vị vua hiếu chiến. Cũng vì trung thành với truyền
thống gây chiến của Lin Yi, vua Harivarman I tổ chức hai
cuộc viễn chinh vào năm 803 và 809 tấn công biên giới
quốc gia láng giềng miền bắc, lúc đó là thuộc địa của
Trung Hoa. Sau khi xóa bỏ chính sách bang giao thân
thiện với Campuchia kể từ đầu thế kỷ thứ VII, vua
Harivarman I ra lệnh cho chỉ huy trưởng quân đội
(Senapati) tên là Par xua quân tấn công vương quốc này.
Chính vì thế, một bia ký của vua Harivarman I lưu lại tại
đền Po Nagar Nha Trang có ghi lại cuộc chiến thắng của
đoàn quân Champa chống lại vương quốc Campuchia vào
thời buổi đó, nhưng không đưa ra một lý do nào để giải
thích cho cuộc tấn công này. Sau khi vua Harivarman I
băng hà, người con trai của ông ta tên Vikrantavarman III
lên nối ngôi vào giữa năm 813 và 817. Trước khi lên ngôi,
bia ký cho biết vua cha đã trao cho Vikrantavarman III
quyền cai trị Panduranga, một tiểu vương quốc mà các tài
liệu Trung Hoa thường ghi rằng Panduranga không phải là
một quốc gia độc lập có chủ quyền trong nghĩa rộng của
nó và cũng không phải là một tỉnh của vương quốc
Champa. Cũng theo tài liệu Trung Hoa, Panduranga là một
xứ sở có biên giới chung với Champa, thường triều cống
vương quốc này và sẵn sàng chấp nhận các vị thống đốc
do triều đình trung ương của Champa phái đến để cai trị
họ, nhưng lúc nào Panduranga cũng tìm cách để bảo vệ
nền tự trị của mình. Chính đó là nguyên nhân đã giúp L.
Finot (“Panduranga”, trong Album Kern, Leide, E. J.
Brill, 1903, trg. 386) đưa ra kết luận rằng kể từ thế kỷ thứ
IX, Panduranga có một qui chế tổ chức chính trị như là một
quốc gia chư hầu (feudataire) của vương quốc Champa,
được cai trị bởi một phó vương (Adhipati), thường là một
tướng lãnh cao cấp nhất (Senapani) và mang phẩm tước
Pandurangesvara, tức là vương hầu của Panduranga. Lãnh
thổ của Panduranga thường được xem như là đất phong
(apanage) dành cho những vị thái tử thừa kế ngôi vua
(Yuvaraja). Các bia ký mà vua Vikrantavarman III đã lưu
lại, có nội dung rất là ngắn ngủi, đột nhiên ngưng bặt vào
năm 854 không biết vì lý do gì, để rồi không ai biết đến
cuộc đời của ông kết liễu như thế nào, cũng như vị vua nối
ngôi của ông ta là ai. Thêm vào đó, sau ngày trị vì của vua
Vikrantavarman III, tất cả các bia ký ở miền nam Champa
tự nhiên ngưng lại, giống như việc bia ký Phạn ngữ đã
biến mất một thế kỷ trước ở miền bắc.
Cũng trong thời kỳ này, người ta nhận thấy rằng
nền thương mại hàng hải nối liền thế giới Ả Rập, Ấn Độ
với miền nam Trung Hoa càng ngày càng phát triển mạnh
mẽ kéo dài trong suốt một thế kỷ, vì lý do bất an ở vùng
Trung Á đã làm gián đọan trục giao thông trên lục địa mà
người ta thường gọi là con đường tơ luạ. Thông thường, các
thuyền buồm di chuyển trên đại dương có tộc độ rất là
chậm chạp, cho nên các thủy thủ buộc phải dừng chân để
lấy tiếp liệu, nhất là nước uống. Thêm vào đó, ngoài khơi
của biển Nam Hải là khu vực có đá ngầm buộc các thuyền
buồm di chuyển trên con đường nối liền Ấn Độ Dương với
Trung Hoa phải lái dọc theo bờ biển của Champa, biến
quốc gia này trở thành những hải cảng dừng chân hầu như
bắt buộc của tất cả thương thuyền quốc tế (xem thêm P.
Pelliot, “Textes chinois sur Panduranga” trong BEFEO
III, 1903, trg. 630-654, và Relation de la Chine et de l'Inde
redigée en 851. Texte établi, traduit et commenté par J.
Sauvaget, Paris, Les Belles Lettres, 1948, trg. 8-9). Vào
giữa thề kỷ thứ VIII và giữa thế kỷ thứ IX, hệ thống giao
lưu hàng hải này đã đưa đẩy Champa và Panduranga - tài
liệu Á Rập thường phân biệt rõ rệt hai địa danh này - vào
chu trình giao lưu quốc tế. Việc phát triển hệ thống hàng
hải của vương quốc Champa là điều tất nhiên, vì người
Chăm là dân tộc chuyên về nghề thủy thủ. Về phương
diện kinh tế, Champa cũng là quốc gia đã từng xuất cảng
rất nhiều sản phẩm lâm nghiệp mà các thương thuyền
quốc tế rất cần mua. Đứng trên khía cạnh văn hóa,
Champa cũng là vương quốc đã từng đón nhận nhiều nền
văn minh. Bằng chứng cụ thể là Phật Giáo đã từng nắm
giữ một vi trí quan trọng trong triều đình và sự hiện diện
rất sớm của những thương thuyền Hồi Giáo tại vương quốc
này mặc dù người ta không biết họ sang Champa để
truyền đạo hay không.
Vương triều Indrapura
Ai cũng biết, tư liệu Champa khắc trên bia ký tự
nhiên biến mất vào năm 854. Hai mươi năm sau, tức là
vào năm 875, người ta mới tìm thấy lại các văn bản này,
nhưng hầu hết nằm trong lãnh thổ của tiểu vương quốc
Amaravati. Điều này chứng tỏ rằng tình hình chính trị
Champa dưới danh nghĩa là một quốc gia thống nhất đã
từng xảy ra trước bán thế kỷ thứ VIII được phục hồi trở lại.
Vào thời kỳ này, các bia ký thường đề cập đến sự ra đời
của một triều đại mới của Champa đặt thủ đô tại
Indrapura. Sáng lập viên của vương triều Indrapura là vua
Indravarman II, xuất thân từ một gia đình trong đó vua cha
của ông ta là Bhadravarman, tức là người chỉ nhận tước
vua nhưng chưa chắc ông ta lên ngôi để trị vì. Vua
Indravarman II tự cho mình là người xuất thân từ một dòng
tộc mang tính cách huyền thọai (généalogie fictive) được
ghi lại trên bia ký vào năm 875, được tìm thấy tại Đồng
Dương, khoảng 20 cây số về phía đông nam của Mĩ Sơn.
Bia ký này nhấn mạnh rằng vương quyền của vua
Indravarman II không phải do ông nội hay thân phụ truyền
lại mà là do thành quả của công trình tu luyện mà ông ta
đã thực hiện trong nhiều kiếp sống, cho nên định mệnh đã
đưa đẩy ông ta trở thành vị thủ lãnh của vương quốc
Champaọ (xem L. Finot, “Inscriptions du Quang nam I,
Première stèle de Dong-duong”, trong BEFEO IV, 1904,
trg. 92 và 94). Indravarman II là vị vua rất tôn sùng Phật
Giáo. Chính đó là nguyên nhân giải thích cho sự ra đời của
nhiều công trình xây dựng các đền Phật Giáo ở Đồng
Dương. Mặc dù đã từng đứng ra thực hiện những trung tâm
Phật Giáo đại thừa rất là đồ sộ có chu vi lớn hơn một cây
số cộng thêm đức tin của ông đối với đạo Phật, nhưng vua
Indravarman II vẫn còn giữ nguyên truyền thống Siva
Giáo của các vị vua tiền bối đã từng cai trị miền bắc của
Champa trước đó. Sau khi băng hà, Indravarman II nhận
thêm thánh hiệu là Paramabuddhaloka.
Sau mấy năm trị vì, Indravarman II nhường ngôi lại
dường như vào năm 898 cho cháu trai tên là Jaya
Simhavarman I, một vị vua chỉ để lại hai công trình duy
nhất, đó là xây dựng một số đền Shiva Giáo và Visnu
Giáo. Vị thủ lãnh kế thừa của Jaya Simhavarman I chính
là người con trai của ông ta, tên là Jaya Saktivarman mà
người ta chỉ biết đến tên tuổi được ghi trên một tấm bia ký
do một vị quan chức xuất thân từ gia đình hoàng tộc khắc
lại. Jaya Saktivarman cũng là nhân vật đã từng phục vụ
cho 4 vị quốc vương kế thừa vua Indravarman II (xem E.
Huber, “La stèle de Nhan-biễu”, trong BEFEO XI-
3,1911, trg. 309). Vị vua kế tiếp tên là Bhadravarman II
mà người ta không biết thế nào là mối quan hệ thân tộc
của ông ta đối với gia đình của vua Jaya Saktivarman. Nối
gót chính sách của bậc tiền nhân đã để lại, Bhadravarman
II tiếp tục phát triển các mối liên hệ tôn giáo với Java
(quốc gia Đa Đảo). Điều này không có gì đáng ngạc nhiên
cho lắm, bởi vì dân tộc Đa Đảo (Nam Dương và Mã Lai)
và dân tộc Chăm đã có các mối quan hệ thân thiết từ lâu
đời, nhất là các đoàn thủy thủ của hai dân tộc này, ngoài
việc đảm trách các công tác thương mại hàng hải, thường
xuyên cấu kết với nhau trong các cuộc tấn công đánh phá
bờ biển của các nuớc láng giềng, càng làm tăng thêm uy
quyền và sức mạnh ngành hải quân của Champa thời đó.
Người lên kế vị để thay thế vua Bhadravarman II chính là
con trai của ông ta tên là Indravarman II, trị vì từ năm 916
đến năm 960. Vua Indravarman II là người đã cống hiến
một bức tượng làm bằng vàng của nữ thần Bhagavati (phu
nhân Siva) cho đền Po Nagar ở Aya Trang (Nha Trang).
Hành động của một vị vua Champa gốc miền bắc đã dâng
hiến một phẩm vật cho nữ thần Bhagavati nằm trên đất
thánh Kauthara ở phía nam, đã bộc lộ một ý nghĩa mang
mầu sắc chính trị hơn là lòng tin vào tôn giáo. Vì rằng, vua
Indravarman II muốn dựa vào thế tôn giáo để xây dựng lại
một quốc gia Champa thống nhất, một chủ thuyết mà các
tiểu vương quốc miền nam, vì quá đề cao nền tự trị của họ,
không bao giờ chấp nhận. Bên cạnh đó, Indravarman II
còn phải đối phó trước mối bang giao với vương triều
Angkor (Campuchia) càng ngày càng gay gắt. Lúc ban
đầu, sự khủng hoảng giữa Champa và Campuchia chỉ là
cuộc tranh chấp đơn thuần giữa hai gia đình hoàng gia mà
thôi. Sau đó, cuộc tranh chấp này biến thành các cuộc
chạm trán quân sự. Bằng chứng cụ thể là vào năm 947,
vua Campuchia ra lệnh xua quân đốt phá thánh địa
Kauthara thành tro bụi mà một tấm bia ký của Campuchia
đã từng xác nhận, sau đó chiếm lấy bức tượng bằng vàng
của nữ thần Bhagavati (G. Coedes, “Stèle de Pré-Rup”
trong Inscriptions du Cambodge I, Paris, Publications de
l'École Francaise d'Extrême-Orient, Textes et documents
sur l'Indochine III, 1937, trg. 73 sq). Nhưng sau đó, lực
lượng quân sự Champa vùng dậy phản công, đánh bại và
đẩy lùi đoàn quân xâm lược Campuchia. Khoảng một năm
sau, vua Indravarman II tìm cách tái lập lại mối quan hệ
ngoại giao với Trung Hoa đã bị gián đoạn kể từ năm 877.
Năm 960, vua Indravarman II băng hà và nhường lại ngai
vàng cho Jaya Indravarman I để cai trị Champa cho đến
năm 971 hay 972. Vị vua này là người có công trùng tu lại
điện thờ Po Nagar Nha Trang vào năm 965 và thiết kế lại
bức tượng của nữ thần Bhagavati, lần này làm bằng đá chứ
không phải là kim quí nữa hầu né tránh lòng tham lam của
kẻ cướp. Tương tự như vua cha và các vua kế nghiệp, Jaya
Indravarman I thường xuyên gởi các phái bộ sang Trung
Hoa để tăng cường chính sách bang giao giữa hai quốc gia.
Vị vua nối ngôi kế tiếp tên là Paramesvaravarman
I, một thủ lãnh đầu tiên của vương quốc Champa bắt đầu
đối diện trực tiếp với quốc gia láng giềng miền bắc vừa
mới giải phóng ra khỏi ách đô hộ của Trung Hoa để hình
thành một quốc gia độc lập mang tên là Đại Cồ Việt tức là
Đại Việt sau này, nằm trong vùng châu thổ sông Hồng Hà
và tỉnh Thanh Hóa. Kể từ đó, mối bang giao giữa Champa
và Đại Việt đã trở thành mối quan hệ giữa hai đối tượng
thù địch. Sau cuộc đánh phá lần đầu tiên của quân đội
Champa trên lãnh thổ của Đại Việt vào năm 979, vua Lê
Đại Hành, người sáng lập triều đại Tiền Lê, trả lời ngay
cho sự quấy nhiễu này bằng cách cử một đoàn binh sang
đánh phá Champa, giết chết vua Paramesvaravarman I
ngay từ đầu của cuộc chiến vào năm 981 hay là 982. Vị
vua Champa kế thừa tên là Indravarman IV, vì không
kháng cự nổi với đoàn quân của Lê Đại Hành, phải bỏ
chạy về miền nam lánh nạn, trong lúc đó đối phương tha
hồ đốt phá thủ đô Indrapura của Champa cho đến năm
983. Một năm sau, Lưu Kỳ Tông, nhân vật gốc dân tộc
Việt, lợi dụng tình hình rối ren tại Indrapura, vùng dậy
cướp lấy chính quyền. Chờ khi vua Indravarman IV băng
hà vào năm 986, Lưu Kỳ Tông tự phong cho mình là quốc
vương Champa và trình báo với hoàng đế Trung Hoa về
triều đại mới này. Để phản lại cuộc tiếm quyền của Lưu
Kỳ Tông, các quan lại của triều đình Champa đã chạy vào
miền nam lánh nạn bốn năm về trước, quyết định tôn một
nhân vật gốc Champa lên ngôi vào năm 988 tại Vijaya
(tỉnh Bình Định hiện nay) mang vương hiệu là Harivarman
II. Sau ngày từ trần của Lưu Kỳ Tông vào năm 989,
Harivarman II dời thủ đô Champa về Indrapura lại. Một
năm sau, Đại Việt xua quân tấn công miền bắc của
Champa vào năm 995 và năm 997 nhằm trả đũa cho các
cuộc quấy rối của quân Champa trên lãnh thổ của mình.
Kể từ đệ tam niên thế kỷ thứ X, hầu hết các bia ký
Champa bị biến mất vì sự phá hủy của chiến tranh. Trong
khoảng thời gian này, người ta chỉ tìm thấy một tảng đá
viết bằng tiếng Chăm cổ có nội dung chỉ nói về tôn giáo
mà thôi, khiến cho việc nghiên cứu về lịch sử Champa cho
đến bán thế kỷ thứ XI hoàn toàn tùy thuộc vào các tư liệu
Trung Hoa và các biên niên sử Việt Nam. Cũng vì thế mà
người ta không biết ai là người kế thừa vua Harivarman II,
cũng như tên tuổi của các vị quốc vương Champa kế tiếp
cho đến năm 1044.
Vương triều Vijaya
Mặc dù khiếm khuyết tư liệu, nhưng người ta biết
sau khi vua Harivarman II băng hà vào năm 998, vị tân
vương Champa với tên thực thụ là Yang Po Ku Vijaya Sri
đã dời thủ đô Indrapura vào năm 1000, vì quá gần biên
giới của Đại Việt, về phía nam tại Vijaya. Kể từ đó,
Vijaya được xem như trung tâm chính trị của Champa, mặc
dù vương quốc này đã thành công mấy lần thu hồi lại lãnh
thổ miền bắc bị nước láng giềng xâm chiếm. Năm 1000,
đánh dấu sự nhường bước của Champa trước sức ép của
dân tộc Việt, tức là một sự thoái lui dần dần về phương
Champa vào năm 995 và năm 997 nhằm trả đũa cho các
cuộc quấy rối của quân Champa trên lãnh thổ của mình.
Kể từ đệ tam niên thế kỷ thứ X, hầu hết các bia ký
Champa bị biến mất vì sự phá hủy của chiến tranh. Trong
khoảng thời gian này, người ta chỉ tìm thấy một tảng đá
viết bằng tiếng Chăm cổ có nội dung chỉ nói về tôn giáo
mà thôi, khiến cho việc nghiên cứu về lịch sử Champa cho
đến bán thế kỷ thứ XI hoàn toàn tùy thuộc vào các tư liệu
Trung Hoa và các biên niên sử Việt Nam. Cũng vì thế mà
người ta không biết ai là người kế thừa vua Harivarman II,
cũng như tên tuổi của các vị quốc vương Champa kế tiếp
cho đến năm 1044.
Vương triều Vijaya
Mặc dù khiếm khuyết tư liệu, nhưng người ta biết
sau khi vua Harivarman II băng hà vào năm 998, vị tân
vương Champa với tên thực thụ là Yang Po Ku Vijaya Sri
đã dời thủ đô Indrapura vào năm 1000, vì quá gần biên
giới của Đại Việt, về phía nam tại Vijaya. Kể từ đó,
Vijaya được xem như trung tâm chính trị của Champa, mặc
dù vương quốc này đã thành công mấy lần thu hồi lại lãnh
thổ miền bắc bị nước láng giềng xâm chiếm. Năm 1000,
đánh dấu sự nhường bước của Champa trước sức ép của
dân tộc Việt, tức là một sự thoái lui dần dần về phương
nam cho đến lúc vương quốc này cáo chung vào 800 năm
sau.
Sau cuộc băng hà của Yang Po Ku Vijaya Sri, có lẽ
trước năm 1010, các tư liệu có nói đến bốn đời vua kế tiếp
lên nắm chính quyền mà người ta không biết rõ tên tuổi
của họ. Ngoài việc gởi phái đoàn ngoại giao thường xuyên
sang Trung Hoa để xin hậu thuẫn và sang Đại Việt để né
tránh mọi sự đe dọa, thì người ta được biết vương quốc
Champa, trong suốt thời gian trị vì của 4 vị vua này, đã
chuốt lấy bao lần thất bại trước sự tấn công của các vị vua
đầu tiên thuộc triều đại nhà Lý vừa lên thay thế nhà Lê
vào năm 1009. Năm 1021, con của Lý Thái Tổ xua quân
tấn công miền bắc Champa. Năm 1026 ông ta trở lại quấy
nhiễu Champa. Sau khi lên nối ngôi vua cha vào năm
1028 với danh xưng Lý Thái Tông kể từ năm 1039, ông ta
bắt đầu nhúng tay vào việc tranh giành quyền hành giữa
các vị hoàng tử Champa. Rồi viện cớ một tân vương
Champa được tấn phong vào năm 1042 đánh phá bờ biển
Đại Việt, Lý Thái Tông cầm đầu một đoàn quân đổ bộ lên
bờ biển Champa trong vùng Thừa Thiên vào năm 1044.
Thành Đồ Bàn bị thất thủ và cướp phá. Quân đội Champa
bị đánh tan và vua Champa bị giết trong khi đó một phần
dân chúng của thủ đô Champa bị quân Đại Việt tàn sát mà
Việt Sử Lược đã từng ghi lại.
Sau cuộc thảm họa này, một vị quốc vương mới của
Champa mà người ta không biết rõ nguồn gốc, đã lên ngôi
tại Vijaya vào năm 1044. Vị vua đầu tiên của triều đại này
là Jaya Paramesvaravarman I. Ngay từ lúc nhận vương
phong là Rajadiraja (vua của các vua), Jaya
Paramesvaravarman I phải đương đầu với sự chống đối
của Panduranga không công nhận ông ta là thủ lãnh của
liên bang Champa, vì tiểu vương quốc này đã chọn một
hoàng tử xuất thân từ miền nam lên làm vua vương quốc
này. Vị hoàng tử nối ngôi (Yuvaraja), tức là cháu của quốc
vương Jaya Paramesvaravarman I nhận lệnh đem quân
sang miền nam dẹp loạn vào năm 1050. Đó là những biến
cố mà 3 bia ký đã ghi lại trong đó có tấm bia ghi trên tảng
đá gần đền Po Klaung Garai (Ninh Thuận) cho rằng dân
cư của Panrang (Phan Rang) là những người “hư hỏng,
hung dữ, ngu dốt, luôn luôn nổi loạn chống lại các nhà vua
…” đã bị quân đội Champa đánh bại. Những quân phản
loạn ở miền nam bị bắt và chia ra thành hai nhóm. Một
nhóm giữ lại tại chỗ để tái thiết thành phố, nhóm còn lại
để phục vụ cho các điện thờ và các tu viện (L. Finot,
“Inscriptions inédites de Panrang”, trong BEFEO III,
1903, trg. 645-646). Vua Paramesvaravarman I cũng là
người có công tái thiết nhiều công trình xây dựng cho đền
Po Nagar tại Nha Trang vào năm 1050 và 1055 mà các bia
ký bằng Phạn ngữ và Chăm ngữ ghi lại. Vị vua nối ngôi kế
tiếp là Bhadravarman III mà người ta không biết gì nhiều
về tiểu sử của ông ta. Tiếp theo là người em trai của
Bhadravarman III lên ngôi vào năm 1061 tại Vijaya lấy
vương hiệu là Rudravarman III. Ông ta đã xây dựng nhiều
công trình vào năm 1064 trong khu vực của đền Po Nagar
tại Nha Trang. Năm 1068, Rudravarman III xua quân tấn
công Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông phản công tức khắc
bằng cách tiến quân theo đường biển, đổ bộ gần khu vực
Vijaya, đánh tan quân đội Champa, trong lúc đó vua
Rudravarman III phải chạy sang Campuchia lánh nạn và
đã bị đội quân Đại Việt đuổi theo bắt được vào năm 1069.
Sau khi phá hủy thủ đô Vijaya, Lý Thánh Tông đưa vua
Rudravarman III về thủ đô Thăng Long vào năm 1069. Để
chuộc mạng của mình, vua Rudravarman III chấp nhận
dâng hiến cho Đại Việt phần đất phía bắc của Champa
nằm giữa cửa Hoành Sơn và đèo Lao Bảo, tức là khu vực
Quảng Bình và Quảng Trị, sau này Đại Việt sát nhập vào
đơn vị hành chánh của mình mang tên là Địa Lý, Ma Linh
và Bố Chính.
Sau ngày được trả tự do, Rudravarman III phải
đương đầu với tình hình chính trị Champa đang lâm vào
con đường suy sụp, chia năm xẻ bảy thành hàng chục khu
vực tự trị, nhất là đối đầu với Panduranga, một tiểu vương
quốc có qui chế độc lập trong liêng bang Champa cho đến
1084 (E. Aymonier, “Première étude sur les inscriptions
tchames” trong Journal Asiatique XVII-1, 1891, trg. 33 và
tiếp theo). Người ta không biết vương triều của
Rudravarman III cáo chung như thế nào và có phải ông ta
hay vị vua kế tiếp là người đứng ra triều cống nhà Lý vào
năm 1071 và 1074 như là một quốc gia chư hầu của Đại
Việt. Cho đến hôm nay, không có một tài liệu nào đưa ra
giải đáp cho vấn đề đó. Ngược lại, nhờ một bia ký Mĩ Sơn
bằng Phạn ngữ và Chăm ngữ mà người ta được biết có hai
vị hoàng tử không biết thuộc về dòng tộc nào, tên là
Thang và Pang tìm cách chấm dứt tình trạng hỗn loạn và
thiếu thống nhất do chế độ ‘phong kiến’ gây ra từ ngày
ra đời của vương quốc này bằng cách chia cắt đất đai
Champa thành 5 tiểu quốc : Indrapura ở phía bắc rồi
xuống dần về phía nam là Amravati, Vijaya, Kauthara và
Panduranga, chưa kể đến nhiều khu vực hành chánh khác
nằm trong một tiểu vương quốc cũng vùng dậy đấu tranh
đòi quyền tự trị có nhiều quyền hạn hơn, một khi chưa đạt
đến qui chế độc lập.
Năm 1074, hoàng tử Thang lên nắm chính quyền.
Sau khi trùng tu lại đền Bhadresvara tại Mĩ Sơn, tức là vị
nam thần che chở Champa, ông ta tự phong vương cho
mình với danh hiệu là Harivarman IV. Một năm sau,
Harivarman IV đã đẩy lùi một cuộc tấn công của Đại Việt
và tiếp tục khai trừ các vị hoàng tử Champa tìm cách ly
khai với triều đình. Tiếp đó, ông ta tiến quân xâm chiếm
Campuchia nhưng không nêu ra vì lý do gì bằng cách phá
hủy các điện thờ Sambor nằm trên bờ sông Mékong và di
tản dân chúng Campuchia ra khỏi khu vực này. Một khi
phục hưng lại Champa thành một ‘quốc gia huy hoàng’
như xưa, Harivarman IV quyết định về hưu trí bằng cách
đưa con trai của mình tên Vak vừa mới 9 tuổi, lên nối ngôi
vào năm 1080 dưới danh hiệu là Jaya Indravarman II.
Năm sau, Harivarman IV băng hà. Nhiều người vợ (hoàng
hậu và thứ phi) của ông ta cũng lên dàn hỏa táng theo nghi
lễ Sati mà một bia ký đã từng xác nhận. Sau ngày hỏa
táng của vua Harivarman IV, các quan thần trong triều
đình nhận thấy rằng Jaya Indravarman II, vì tuổi chưa
trưởng thành, không đủ khả năng để điều hành quốc gia,
thành ra phải đưa người chú của ông ta, tức là hoàng tử
Pang lên thay thế để lãnh đạo quốc gia vào năm 1081, lấy
vương hiệu là Pamarabodhisattva, một tên gọi mang ảnh
hưởng Phật Giáo. Pamarabodhisattva tiếp tục triều cống
Đại Việt và dẹp tan những vị hoàng tử nắm quyền tự trị
của tiểu vương quốc Panduranga từ 16 năm qua để phục
hưng lại vương quốc Champa thống nhất và độc lập vào
năm 1084. Sau đó ông ta nhường ngôi lại cho người cháu
là Jaya Indravarman II vào năm 1086. Sau ngày lên ngôi,
vua Jaya Indravarman II tiếp tục triều cống Thăng Long
(Hà Nội) nhưng vẫn chuẩn bị cuộc chiến vào năm 1103
nhằm thu hồi lại phần đất phía bắc của Champa đã lọt vào
tay của Đại Việt vào năm 1069, nhưng bất thành. Sau đó,
ông mất vào năm 1113 và được phong chức thánh hiệu là
Paramabuddhaloka. Cháu của ông ta là người lên nối ngôi
vua với danh hiệu là Harivarman V. Người ta chỉ biết về
lai lịch của Harivarman V qua các công trình kiến trúc tại
Mĩ Sơn và các phái đoàn ngoại giao mà ông ta cử sang Đại
Việt và Trung Hoa.
Champa đối đầu với Angkor
Người kế thừa vua Harivarman V là một vị thái tử
(Yuvaraja) lên ngôi vào năm 1139 với danh hiệu là Jaya
Indravarman III. Chưa đầy 2 năm, sau khi hoàn tất các
công trình xây dựng môt số đền đài tôn giáo tại thánh địa
Mĩ Sơn vào năm 1140 và tại khu vực Po Nagar ở Nha
Trang vào năm 1143, Jaya Indravarman III phải đối phó
với cuộc tấn công của Campuchia mà người ta không tìm
ra lý do tại sao. Thế là thủ đô Vijaya của Champa lại lọt
vào tay của quân đội Khmer và vua Jaya Indravarman III
bị tử trận trong cuộc chiến.
Trong khi thủ đô Vijaya bị chiếm đóng bởi quân
viễn chinh Campuchia, Jaya Rudravarman IV được tấn
phong làm vua Champa, nhưng sau đó ông ta với đoàn tùy
tùng phải bỏ Vijaya để chạy sang Panduranga lánh nạn.
Đây là cuộc thảm họa đã đưa đến cuộc chiến giữa
Champa và Campuchia kéo dài trong suốt 75 năm. Cho
đến hôm nay, nguời ta không tìm thấy một tư liệu nào nói
về tình hình Champa ngoại trừ lời kể mà con trai của vua
Jaya Rudravarman IV ghi lại trong bia ký tìm thấy ở phía
nam Champa và ở Mĩ Sơn cho rằng quốc vương này băng
hà vào năm 1147, mang thánh hiệu là Paramabrahmaloka.
Mĩ Sơn và các phái đoàn ngoại giao mà ông ta cử sang Đại
Việt và Trung Hoa.
Champa đối đầu với Angkor
Người kế thừa vua Harivarman V là một vị thái tử
(Yuvaraja) lên ngôi vào năm 1139 với danh hiệu là Jaya
Indravarman III. Chưa đầy 2 năm, sau khi hoàn tất các
công trình xây dựng môt số đền đài tôn giáo tại thánh địa
Mĩ Sơn vào năm 1140 và tại khu vực Po Nagar ở Nha
Trang vào năm 1143, Jaya Indravarman III phải đối phó
với cuộc tấn công của Campuchia mà người ta không tìm
ra lý do tại sao. Thế là thủ đô Vijaya của Champa lại lọt
vào tay của quân đội Khmer và vua Jaya Indravarman III
bị tử trận trong cuộc chiến.
Trong khi thủ đô Vijaya bị chiếm đóng bởi quân
viễn chinh Campuchia, Jaya Rudravarman IV được tấn
phong làm vua Champa, nhưng sau đó ông ta với đoàn tùy
tùng phải bỏ Vijaya để chạy sang Panduranga lánh nạn.
Đây là cuộc thảm họa đã đưa đến cuộc chiến giữa
Champa và Campuchia kéo dài trong suốt 75 năm. Cho
đến hôm nay, nguời ta không tìm thấy một tư liệu nào nói
về tình hình Champa ngoại trừ lời kể mà con trai của vua
Jaya Rudravarman IV ghi lại trong bia ký tìm thấy ở phía
nam Champa và ở Mĩ Sơn cho rằng quốc vương này băng
hà vào năm 1147, mang thánh hiệu là Paramabrahmaloka.
Sau đó, các quan chức Champa đang lánh nạn tại tiểu
vương quốc Panduranga tôn người con trai của ông lên nối
ngôi lấy danh hiệu là Jaya Harivarman I. Để trả lời cho
thái độ này, vua Campuchia ra lệnh cho đoàn quân viễn
chinh Campuchia ở Vijaya (thành Đồ Bàn) có sự hỗ trợ
của quân đội Champa ở miền bắc kéo quân sang miền
nam tấn công vua Jaya Harivarman I, nhưng không đạt
được kết quả. Cuộc tấn công lần thứ hai cũng bị thất bại.
Trước tình thế này, vua Campuchia là Suryavarman II tự
phong cho hoàng tử Harideva, tức là người em vợ của
mình, lên làm vua Champa ở miền bắc, đóng đô tại
Vijaya. Vừa nghe tin này, vua Jaya Harivarman I đang
lánh nạn ở miền nam, xuất quân tấn công miền bắc, giết
chết hoàng tử Campuchia là Harideva và làm chủ tình
hình Vijaya. Sau đó Jaya Harivarman I tự xưng là vua
Champa vào 1149 và cũng là năm kết thúc cuộc chiến
giữa Champa và Campuchia (L. Finot, “Les inscriptions
de Mĩ-sơn XXI”, trong BEFEO IV, 1904, trg. 964-965).
Mặc dù đã thành công đánh đuổi quân Campphuchia, Jaya
Harivarman I phải đương đầu với một người anh rễ tìm
cách tranh quyền chiếm ngôi, bằng cách kêu gọi dân tộc
Cao Nguyên vùng dậy chống lại ông ta. Bị đánh bại vào
năm 1150, anh rể của vua Jaya Harivarman I phải chạy
sang Đại Việt để xin cầu cứu. Mặc dù có sự giúp quân của
Đại Việt, anh rể này vẫn bị đánh bại và biến mất trên bàn
cờ chính trị. Sau biến cố này, vua Jaya Harivarman I xua
quân chinh phạt tiểu vương quốc Amaravati về tội vùng
dậy chống lại uy quyền của ông ta vào năm 1151, sau đó
trở lại miền nam để dẹp những cuộc nổi loạn ở
Panduranga. Mãi cho đến năm 1160, tiểu vương quốc
Panduranga mới chấp nhận phục tùng uy quyền của Jaya
Harivarman I như một vị lãnh tụ tối cao của liêng bang
Champa. Jaya Harivarman I là vị vua dũng cảm và cũng là
nhân vật đã thực hiện nhiều công trình xây dựng đền đài
tại Mĩ Sơn và tại Po Nagar ở Nha Trang và băng hà có thể
vào những năm 1162-1166. Theo bia ký do cháu của vua
Jaya Harivarman I để lại, con trai của ông ta đã nhận
vương hiệu là Jaya Harivarman II, nhưng người ta cũng
không biết vị tân quốc vương này có lên ngôi trị vì hay
không? Vào năm 1167, Jaya Indravarman IV tổ chức cuộc
đảo chánh để chiếm quyền ngôi vua và gởi phái đoàn sang
Trung Hoa để xin phong chức. Jaya Indravarman IV là một
vị quan lại đã từng phục vụ trong triều đình của Jaya
Harivarman I trước kia và cũng là vị vua đã từng cống
hiến nhiều công trình xây dựng đền đài tại Mĩ Sơn và Po
Nagar ở Nha Trang. Ông ta cũng là người mà các bia ký
đã từng ca tụng đức độ, sự hiểu biết và am tường về nhiều
lãnh vực. Nếu Jaya Indravarman IV lên nắm chính quyền,
là vì ông muốn trả thù cho sự thất bại của Champa vào
năm 1145, kéo theo sự chiếm đóng Champa của
Campuchia. Trong suốt mười năm đầu của vương triều,
Jaya Indravarman IV tập trung mọi nổ lực vào việc chiến
đấu chống lại vương quốc Campuchia, mặc dù không
mang lại kết quả. Vì không thể tiến quân đến thủ phủ
Angkor bằng đường bộ, vua Jaya Indravarman IV thay đổi
chiến thuật bằng cách di chuyển quân đội Champa trên
các chiến thuyền chạy dọc theo bờ biển tiến vào vùng
châu thổ sông Mékong. Nhờ sự giúp đỡ của một viên
thuyền trưởng người Trung Hoa, vua Jaya Indravarman IV
đưa quân đi ngược giòng sông Mékong và Tonlé Sap để
tiến đến Biển Hồ vào năm 1177. Cuộc tấn công bất ngờ
này đã giúp cho quân đội Champa thành công đốt phá
thành Angkor đầy vàng bạc và châu báu và giết luôn nhà
vua Campuchia, cũng là một vị vua tiếm quyền tại vương
quốc này (M. Giteau, Histoire d'Angkor, Paris, Ed. Kailash,
1966, trg. 77-78).
Sau ngày đánh phá Angkor, một vị hoàng tử
Campuchia thuộc dòng hoàng gia chính thống và cũng là
vị vua tương lai mang vương hiệu là Jayavarman VII, xua
quân phản chiến, nhất là trận thủy chiến chống lại đoàn
quân viễn chinh Champa trên Biển Hồ và Tonlé Sap, và
một trận chiến khác, có lẽ là bãi chiến trường quyết liệt
nhất, tại đền Preah Khan cũng nằm trong khu vực Angkor.
Trận chiến này đã giúp người Campuchia giải phóng hoàn
toàn đất nước của họ ra khỏi ách thống trị của Champa
vào năm 1180-1181 và cũng là năm mà Jayavarman VII
đã nhận tấn phong tại Angkor.
Người ta không biết ngày tháng băng hà của Jaya
Indravarman IV, một vị vua chiến thắng tại đền Angkor,
mặc dù sự hiện hữu của ông ta vẫn còn được xác nhận vào
năm 1183 và nhất là vào lúc Jaya Indravarman Ong Vatuv
lên ngôi để kế vị thay thế ông ta. Sau ngày lên ngôi, Jaya
Indravarman Ong Vatuv lại mở trận chiến tấn công vào
Campuchia vào năm 1190. Kể từ đó, vua khmer là
Jayavarman VII buộc phải ra tay giải quyết vấn đề bang
giao với Champa. Để thực hiện dự án này, Jayavarman
VII trao quyền chỉ huy quân đội Campuchia cho một vị
hoàng tử trẻ tuổi gốc Champa tên là Vidhyanandana đã
từng sinh sống tại triều đình Angkor từ thuở thiếu thời.
Hòang tử này là người rất tôn sùng Đạo Phật đại thừa, một
tín ngưỡng hoàn toàn mới lạ đối với vua chúa Campuchia
thời đó và đã từng tuyên thệ trung thành với vua
Jayavarman VII. Một khi đã nhận lệnh, Hoàng tử
Vidhyanandana dẫn đầu một đoàn quân Campuchia sang
đánh chiếm Vijaya vào năm 1191 và bắt sống vị vua
Champa Jaya Indravarman Ong Vatuv làm tù binh đưa về
Angkor.
Kể từ năm 1191, Champa bị chia cắt thành hai
quốc gia riêng biệt. Champa miền bắc đặt dưới quyền cai
trị của một vị hoàng tử tên là In, gốc người Campuchia, tức
là anh rể của vua Jayavarman VII. Khi lên ngôi, hoàng tử
In lấy danh hiệu là Suryajayavarmadeva. Champa phía
nam đặt dưới quyền điều hành của hoàng tử
Vidhyanandana, gốc Champa nhưng đã từng lánh nạn ở
Campuchia. Khi lên ngôi, Vidhyanandana lấy vương hiệu
là Suryavarmadeva, đặt thủ đô của mình tại Panrang (tức
Phan Rang hiện nay) và đã để lại nhiều tin tức thời sự cho
đến năm 1194 trên một tấm bia viết bằng Chăm ngữ cổ
tìm thấy tại Mĩ Sơn do L. Finot nghiên cứu. Theo nội dung
của tấm bia này, trong khoảng 2 năm sau ngày chia đôi đất
nước, dân tộc Champa ở miền bắc vùng dậy chống lại
hoàng tử In, gốc nguời Campuchia nắm quyền điều hành ở
thủ đô Vijaya, buộc ông ta phải tháo chạy về nước để tôn
một vị hoàng tử gốc Champa tên là Rasupati lên ngôi vua
ở miên bắc lấy danh hiệu là Jaya Indravarmadeva. Vì
muốn tái lập quyền thống trị trên Champa, vua Campuchia
là Jayavarman VII gởi một đoàn quân sang Vijaya cùng
với Jaya Indravarman Ong Vatuv, tức là vị vua Champa đã
bị bắt làm tù binh đưa về Campuchia. Với sự hợp tác của
Vidhyanandana-Suryavarmadeva, tức là thủ lãnh của tiểu
vương quốc Panduranga, Jaya Indravarman Ong Vatuv tiến
quân đánh chiếm Vijaya và giết chết Rasupati. Lợi dụng
cơ hội thắng trận này, Vidhyanandana-Suryavarmadeva
lọai bỏ Jaya Indravarman Ong Vatuv ra khỏi bàn cờ chính
trị và tự tôn mình là quốc vương Champa tại Vijaya, thống
nhất lại hai miền nam bắc của vương quốc. Trước tình thế
này, Jaya Indravarman Ong Vatuv tìm cách chạy sang tiểu
vương quốc Amaravati nhằm dấy quân trở lại đánh chiếm
Vijaya. Vidhyanandana-Suryavarmadeva xua quân phản
chiến, giết chết Jaya Indravarman Ong Vatuv. Để trả lời
cho biến cố này, vua Campuchia gởi quân sang Champa
vào năm 1193 và 1194 để chinh phạt hoàng tử
Vidhyanandana-Suryavarmadeva, nhưng cả hai lần đều bị
thất bại. Theo tài liệu Trung Hoa, VidhyanandanaSuryavarmadeva
xin Trung Hoa tấn phong vào năm 1198
và được triều đình của quốc gia này phong vương vào năm
1199. Năm 1203, ông ta bị truất phế bởi một vị thái tử
(Yuvaraja) Champa khác tên là Ong Dhanapatigrama,
cũng là một nhân vật đã từng sinh sống trong triều đình
Angkor và rất trung thành với vua Campuchia. Kể từ đó,
vương quốc Champa đặt duới quyền cai trị của hoàng tử
Ong Dhanapatigrama và trở thành một tỉnh lỵ của
Campuchia.
Việc sát nhập Champa vào lãnh thổ của
Campuchia kéo dài 17 năm đã biến vương quốc này trở
thành một quốc gia nghèo đói và suy sụp. Trong khoảng
thời gian này, tài liệu lịch sử lại nhắc đến một vị hoàng tử
Champa thuộc dòng hoàng tộc Ansaraja, nhưng sinh
trưởng trong triều đình Angkor và đã từng chỉ huy quân đội
Campuchia sang tấn công Đại Việt. Tại Campuchia, hoàng
tử dòng Ansaraja này đã nhận nhiều chức hàm bên cạnh
thái tử (Yuvaraja) Ong Dhanapatigrama, cũng là nhận vật
đã từng trưởng thành tại Campuchia. Chính sách chiếm
đóng Champa và chủ nghĩa bành trướng đất đai của
Campuchia thời đó đã làm suy yếu trầm trọng vương quốc
này, vì không đủ tiềm năng để kiểm soát quá nhiều thuộc
địa cũng như việc duy trì an ninh trên lãnh thổ quá rộng
lớn này. Đó cũng là nguyên nhân có thể giải thích một
phần nào lý do tại sao Campuchia tự động rút quân ra khỏi
Champa vào năm 1220, nhưng lúc nào cũng tìm cách duy
trì uy quyền của mình tại Champa bằng cách giao cho
hoàng tử thuộc dòng hoàng tộc Ansaraja đã từng sinh
trưởng trong triều Angkor, quyền cai trị Champa với niềm
hy vọng rằng Campuchia vẫn tiếp tục giữ một vai trò ảnh
hưởng trên bàn cờ chính trị tại quốc gia này.
Lên ngôi vào năm 1226, hoàng tử dòng Ansaraja
lấy vương hiệu là Jaya Paramesvaravarman II. Trong suốt
những năm trị vì, ông ta trùng tu lại các di tích đền đài bị
tàn phá bởi chiến tranh dưới thời đô hộ của Campuchia.
Jaya Paramesvaravarman II cũng là vị vua có một chính
sách rất ưu đãi đối với tiểu vương quốc Panduranga ở
miền nam nơi mà ông ta đã để lại hầu như toàn bộ bia ký
nói về cuộc đời của ông. Sau ngày từ trần mà người ta
không biết rõ ngày tháng, người em của ông lên nối ngôi,
có thể vào khoảng giữa năm 1230 và 1243, lấy danh hiệu
là Jaya Indravarman VI.
Champa vào đệ nhị bán thế kỷ XIII
Sau ngày lên ngôi, Jaya Indravarman VI đã thực
hiện nhiều công trình xây dựng tại Mĩ Sơn, nhưng lại gặp
này, vì không đủ tiềm năng để kiểm soát quá nhiều thuộc
địa cũng như việc duy trì an ninh trên lãnh thổ quá rộng
lớn này. Đó cũng là nguyên nhân có thể giải thích một
phần nào lý do tại sao Campuchia tự động rút quân ra khỏi
Champa vào năm 1220, nhưng lúc nào cũng tìm cách duy
trì uy quyền của mình tại Champa bằng cách giao cho
hoàng tử thuộc dòng hoàng tộc Ansaraja đã từng sinh
trưởng trong triều Angkor, quyền cai trị Champa với niềm
hy vọng rằng Campuchia vẫn tiếp tục giữ một vai trò ảnh
hưởng trên bàn cờ chính trị tại quốc gia này.
Lên ngôi vào năm 1226, hoàng tử dòng Ansaraja
lấy vương hiệu là Jaya Paramesvaravarman II. Trong suốt
những năm trị vì, ông ta trùng tu lại các di tích đền đài bị
tàn phá bởi chiến tranh dưới thời đô hộ của Campuchia.
Jaya Paramesvaravarman II cũng là vị vua có một chính
sách rất ưu đãi đối với tiểu vương quốc Panduranga ở
miền nam nơi mà ông ta đã để lại hầu như toàn bộ bia ký
nói về cuộc đời của ông. Sau ngày từ trần mà người ta
không biết rõ ngày tháng, người em của ông lên nối ngôi,
có thể vào khoảng giữa năm 1230 và 1243, lấy danh hiệu
là Jaya Indravarman VI.
Champa vào đệ nhị bán thế kỷ XIII
Sau ngày lên ngôi, Jaya Indravarman VI đã thực
hiện nhiều công trình xây dựng tại Mĩ Sơn, nhưng lại gặp
phải bao cuộc vùng dậy tại Panduranga mà ông ta phải cử
một người cháu tên là hoàng tử Harideva dẫn đoàn quân
sang miền nam dẹp loạn vào năm 1249. Thêm vào đó, ông
ta không ngừng đương đầu với một triều đại mới của Đại
Việt, đó là nhà Trần vừa mới lên thay thế nhà Lý vào năm
1225.
Ai cũng biết, Champa là quốc gia thường gia tăng
các cuộc đánh phá tàu bè trên bờ biển của Bắc Việt và
vùng châu thổ sông Hồng. Đã mấy lần, vua Trần Thái
Tông yêu cầu vương quốc này phải ngưng các cuộc đột
kích đó. Vua Champa đáp lời bằng việc yêu cầu nhà Trần
phải trả lại các phần đất đai phía bắc của Champa đã bị
chiếm đóng vào năm 1069. Trước sự trả lời khiêu khích
này, vua Trần Thái Tông đích thân dẫn một đoàn quân
chinh phạt Champa vào năm 1252, tịch thu rất nhiều của
cải, bó buộc vương quốc này phải phục tùng và chấp nhận
triều cống như một nước “chư hầu” của Đại Việt. Năm
năm sau, tức là 1257, Jaya Indravarman VI bị ám sát bởi
người cháu của ngài tên là Harideva (Yuanchi, XX, 55a).
Sau vụ án thành công, Harideva lên nắm chính quyền, gởi
đồ vật sang triều cống Đại Việt vào năm 1262 và dẫn
đoàn quân để phá tan sự vùng dậy của Panduranga vào
năm 1265, sau đó ông được tấn phong lên làm vua
Champa năm 1266 với vương hiệu là Indravarman V. Năm
1277, Panduranga lại tiếp tục vùng dậy nữa. Vừa đánh dẹp
xong cuộc phiến loạn này, vua Indravarman V nhận lệnh
phải đi trình diện trước mặt thủ lãnh của Mông Cổ tên là
Kubilai Khan vào năm 1278 để dâng cống lễ vật của một
nước chư hầu như ông ta đã từng thi hành đối với triều đại
nhà Tống của Trung Hoa trước kia. Cũng nhờ chiến lược
trì hoãn thi hành mệnh lệnh và bày tỏ lòng trung thành của
mình bằng cách gởi các phái đoàn và nhiều lễ vật sang
Mông Cổ, vua Indravarman V đã tránh được những yêu
sách của Kubilai Khan cho đến năm 1281. Vì không chờ
đợi được nữa, Kubilai Khan cử hai vị sứ thần quan trọng
đến Champa để áp đặt nền hành chánh Mông Cổ tại
vương quốc này. Nếu vua Indravarman V tỏ vẻ chấp nhận
sự hiện diện của Mông Cổ trên lãnh thổ của mình, thì
người con trai của ông tên là Harijit từ chối điều đó. Vào
năm 1282 hoàng tử Harijit tổ chức một cuộc vùng dậy
nhằm đánh đuổi các sứ thần Mông Cổ về nước. Để trả lời
cho thái độ bất qui phục của hoàng tử Harijit, Kubilai
Khan quyết định biến Champa thành một thuộc địa của
Mông Cổ bằng cách xua quân tấn công vương quốc này
bằng đường biển và đường bộ từ tháng chạp 1282 cho đến
tháng giêng 1283. Sau khi thủ đô Vijaya lọt vào tay quân
Mông Cổ, Indravarman V cùng với con trai chạy lên vùng
Tây Nguyên để lập chiến khu. Nhờ sự hỗ trợ của dân cư
miền núi, Indravarman V cầm cự chống quân ngoại xâm
kéo dài cho đến năm 1285, năm mà nhà du hành Tây
Phương tên là Marco Polo có mặt tại Champa. Cũng vào
năm 1285 này, Mông Cổ rút quân ra khỏi Champa để tấn
công Đại Việt, nhưng bị đẩy lui bởi lực lượng quân sự của
vua Trần Nhơn Tông vừa mới lên ngôi vào năm 1278. Kể
từ đó, Champa đã thoát ra khỏi mối đe dọa của Mông Cổ.
Tuy nhiên, sự xâm chiếm trong vòng hai năm của quân
Mông Cổ đã làm suy yếu tiềm năng Champa một cách
mãnh liệt, một vương quốc vừa mới tìm ra lối thoát sau 75
năm chiến tranh liên tục với Campuchia. Cuộc chiến
chống quân Mông Cổ càng tàn phá Champa nhanh hơn, vì
lúc đó nền văn hóa Phạn ngữ bắt đầu suy sụp (năm 1253
đánh dấu bia ký cuối cùng bằng Phạn ngữ tại Champa)
kéo theo sự phai mờ dần dần triết lý Ấn Giáo và Phật
Giáo đại thừa mà Champa thường dựa vào đó để làm cơ sở
cho các hệ thống tổ chức chính trị và xã hội của mình.
Sau khi Indravarman V băng hà vào năm 1287,
người con trai của ông ta là hoàng tử Harijit lên ngôi vua
với danh hiệu Jaya simhavarman III (Chế Mân). Vị vua
này là người có công xây dựng tháp Po Klaung Garai ở
Phan Rang và ngôi đền Yang Prong ở cực bắc của Darlac
(H. Parmentier, Inventaire descriptif des monuments căms
de l'Annam, tome I, Paris, Imprimerie Nationale, Ernest
Leroux, 1909, trg. 81-95 và 557-559). Điều này đã chứng
minh rằng dân cư khu vực Tây Nguyên thời đó nằm trong
biên giới chính trị của vương quốc Champa. Jaya
simhavarman III cũng là vị vua đã kết hôn với công chúa
của vương quốc Java. Cuộc tình này càng làm tăng thêm
mối quan hệ thân thiện giữa gia đình hoàng tộc Champa
và vương quốc Đa Đảo vào cuối thế kỷ XIII.
Bên cạnh công chúa của vương quốc Java, Jaya
simhavarman III còn kết hôn với công chúa của Đại Việt.
Sau khi thoái vị để nhường ngôi lại cho người con trai là
Trần Anh Tông, vua cha Trần Nhơn Tông hứa gả con gái
của ông ta tên là Huyền Trân cho vua Chế Mân, tức là
Jaya simhavarman III, vào năm 1301. Sự kiện này đã gây
bao phản ứng trong triều đình và người dân Đại Việt thời
đó. Chính vì thế, cuộc hôn nhân của công chúa Huyền
Trân mà lịch sử Việt Nam thường nhắc đến, đã trải qua
một cuộc thương thuyết lâu dài. Để được kết hôn với công
chúa Huyền Trân, vua Jaya Simhavarman III đồng ý dâng
cho Đại Việt hai châu Ô và Lý tức là phần đất nằm giữa
đèo Lao Bảo và đèo Hải Vân (Quảng Trị và Thừa Thiên
hiện nay). Đó cũng là nguyên nhân để giải thích tại sao
hôn nhân này chỉ được cử hành vào năm 1306.
Việc quyết định dâng hiến lãnh thổ cho nước láng
giềng vào năm 1069 đã chứng minh rằng giai cấp lãnh đạo
dưới thời phong kiến Champa chỉ xem lãnh thổ quốc gia
như một tài sản riêng tư của mình, hoàn toàn tùy thuộc vào
ý muốn riêng tư của nhà vua. Chính vì thế, người ta không
thể kết tội Đại Việt thời đó đã có ý định xâm chiếm đất
đai Champa, bởi vì quốc gia này chỉ bắt đầu áp dụng chính
sách đế quốc kể từ cuối thế kỷ XV hầu mở rộng bờ cõi về
phía Nam. Như người ta đã thấy và còn thấy nữa về sau,
trước thế kỷ thứ XV, Đại Việt chỉ lợi dụng vào các cuộc
chiến thắng quân sự nhằm buộc các nước thua trận phải
chấp nhận làm chư hầu, nhưng chưa nghĩ đến việc xâm
chiếm lãnh thổ của các quốc gia này.
Jaya Simhavarman III từ trần vào năm 1307, vì tuổi
già. Vua Trần Anh Tông thừa cơ hội tìm cách đưa Huyền
Trân về Thăng Long, nhưng vẫn tiếp tục chiếm giữ hai
Châu Ô và Lý. Kể từ đó, núi Bạch Mã (Huế) trở thành
ranh giới phía bắc của Champa. Thế là lãnh thổ Champa
bị lọt vào tay của Đại Việt vào năm 1069 và năm 1306
chính là đất đai nguyên thủy của vương quốc Lin Yi (Lâm
Ấp) thời trước.
Champa đối đầu với Đại Việt
Cũng vì không còn bia ký bàn về Champa kể từ
cuối thế kỷ XIII, người ta không nắm vững cho lắm những
chi tiết liên quan đến vương triều của người con trai lên
ngôi thay thế vua Jaya Simhavarman III. Người ta cũng
không biết danh xưng vương hiệu của các vị vua kế tiếp
hay những yếu tố nhằm chứng minh rằng họ có được tấn
phong lên làm thủ lãnh Champa hay không. Do đó, người
ta buộc phải gọi các vị vua nối ngôi thay thế Jaya
Simhavarman III hay những vị vua kế tiếp khác bằng
những tên gọi như Chế, Chi, v.v. mà các biên niên sử Việt
Nam đặt ra mà thôi.
này, vì không đủ tiềm năng để kiểm soát quá nhiều thuộc
địa cũng như việc duy trì an ninh trên lãnh thổ quá rộng
lớn này. Đó cũng là nguyên nhân có thể giải thích một
phần nào lý do tại sao Campuchia tự động rút quân ra khỏi
Champa vào năm 1220, nhưng lúc nào cũng tìm cách duy
trì uy quyền của mình tại Champa bằng cách giao cho
hoàng tử thuộc dòng hoàng tộc Ansaraja đã từng sinh
trưởng trong triều Angkor, quyền cai trị Champa với niềm
hy vọng rằng Campuchia vẫn tiếp tục giữ một vai trò ảnh
hưởng trên bàn cờ chính trị tại quốc gia này.
Lên ngôi vào năm 1226, hoàng tử dòng Ansaraja
lấy vương hiệu là Jaya Paramesvaravarman II. Trong suốt
những năm trị vì, ông ta trùng tu lại các di tích đền đài bị
tàn phá bởi chiến tranh dưới thời đô hộ của Campuchia.
Jaya Paramesvaravarman II cũng là vị vua có một chính
sách rất ưu đãi đối với tiểu vương quốc Panduranga ở
miền nam nơi mà ông ta đã để lại hầu như toàn bộ bia ký
nói về cuộc đời của ông. Sau ngày từ trần mà người ta
không biết rõ ngày tháng, người em của ông lên nối ngôi,
có thể vào khoảng giữa năm 1230 và 1243, lấy danh hiệu
là Jaya Indravarman VI.
Champa vào đệ nhị bán thế kỷ XIII
Sau ngày lên ngôi, Jaya Indravarman VI đã thực
hiện nhiều công trình xây dựng tại Mĩ Sơn, nhưng lại gặp
phải bao cuộc vùng dậy tại Panduranga mà ông ta phải cử
một người cháu tên là hoàng tử Harideva dẫn đoàn quân
sang miền nam dẹp loạn vào năm 1249. Thêm vào đó, ông
ta không ngừng đương đầu với một triều đại mới của Đại
Việt, đó là nhà Trần vừa mới lên thay thế nhà Lý vào năm
1225.
Ai cũng biết, Champa là quốc gia thường gia tăng
các cuộc đánh phá tàu bè trên bờ biển của Bắc Việt và
vùng châu thổ sông Hồng. Đã mấy lần, vua Trần Thái
Tông yêu cầu vương quốc này phải ngưng các cuộc đột
kích đó. Vua Champa đáp lời bằng việc yêu cầu nhà Trần
phải trả lại các phần đất đai phía bắc của Champa đã bị
chiếm đóng vào năm 1069. Trước sự trả lời khiêu khích
này, vua Trần Thái Tông đích thân dẫn một đoàn quân
chinh phạt Champa vào năm 1252, tịch thu rất nhiều của
cải, bó buộc vương quốc này phải phục tùng và chấp nhận
triều cống như một nước “chư hầu” của Đại Việt. Năm
năm sau, tức là 1257, Jaya Indravarman VI bị ám sát bởi
người cháu của ngài tên là Harideva (Yuanchi, XX, 55a).
Sau vụ án thành công, Harideva lên nắm chính quyền, gởi
đồ vật sang triều cống Đại Việt vào năm 1262 và dẫn
đoàn quân để phá tan sự vùng dậy của Panduranga vào
năm 1265, sau đó ông được tấn phong lên làm vua
Champa năm 1266 với vương hiệu là Indravarman V. Năm
1277, Panduranga lại tiếp tục vùng dậy nữa. Vừa đánh dẹp
xong cuộc phiến loạn này, vua Indravarman V nhận lệnh
phải đi trình diện trước mặt thủ lãnh của Mông Cổ tên là
Kubilai Khan vào năm 1278 để dâng cống lễ vật của một
nước chư hầu như ông ta đã từng thi hành đối với triều đại
nhà Tống của Trung Hoa trước kia. Cũng nhờ chiến lược
trì hoãn thi hành mệnh lệnh và bày tỏ lòng trung thành của
mình bằng cách gởi các phái đoàn và nhiều lễ vật sang
Mông Cổ, vua Indravarman V đã tránh được những yêu
sách của Kubilai Khan cho đến năm 1281. Vì không chờ
đợi được nữa, Kubilai Khan cử hai vị sứ thần quan trọng
đến Champa để áp đặt nền hành chánh Mông Cổ tại
vương quốc này. Nếu vua Indravarman V tỏ vẻ chấp nhận
sự hiện diện của Mông Cổ trên lãnh thổ của mình, thì
người con trai của ông tên là Harijit từ chối điều đó. Vào
năm 1282 hoàng tử Harijit tổ chức một cuộc vùng dậy
nhằm đánh đuổi các sứ thần Mông Cổ về nước. Để trả lời
cho thái độ bất qui phục của hoàng tử Harijit, Kubilai
Khan quyết định biến Champa thành một thuộc địa của
Mông Cổ bằng cách xua quân tấn công vương quốc này
bằng đường biển và đường bộ từ tháng chạp 1282 cho đến
tháng giêng 1283. Sau khi thủ đô Vijaya lọt vào tay quân
Mông Cổ, Indravarman V cùng với con trai chạy lên vùng
Tây Nguyên để lập chiến khu. Nhờ sự hỗ trợ của dân cư
miền núi, Indravarman V cầm cự chống quân ngoại xâm
kéo dài cho đến năm 1285, năm mà nhà du hành Tây
Phương tên là Marco Polo có mặt tại Champa. Cũng vào
năm 1285 này, Mông Cổ rút quân ra khỏi Champa để tấn
công Đại Việt, nhưng bị đẩy lui bởi lực lượng quân sự của
vua Trần Nhơn Tông vừa mới lên ngôi vào năm 1278. Kể
từ đó, Champa đã thoát ra khỏi mối đe dọa của Mông Cổ.
Tuy nhiên, sự xâm chiếm trong vòng hai năm của quân
Mông Cổ đã làm suy yếu tiềm năng Champa một cách
mãnh liệt, một vương quốc vừa mới tìm ra lối thoát sau 75
năm chiến tranh liên tục với Campuchia. Cuộc chiến
chống quân Mông Cổ càng tàn phá Champa nhanh hơn, vì
lúc đó nền văn hóa Phạn ngữ bắt đầu suy sụp (năm 1253
đánh dấu bia ký cuối cùng bằng Phạn ngữ tại Champa)
kéo theo sự phai mờ dần dần triết lý Ấn Giáo và Phật
Giáo đại thừa mà Champa thường dựa vào đó để làm cơ sở
cho các hệ thống tổ chức chính trị và xã hội của mình.
Sau khi Indravarman V băng hà vào năm 1287,
người con trai của ông ta là hoàng tử Harijit lên ngôi vua
với danh hiệu Jaya simhavarman III (Chế Mân). Vị vua
này là người có công xây dựng tháp Po Klaung Garai ở
Phan Rang và ngôi đền Yang Prong ở cực bắc của Darlac
(H. Parmentier, Inventaire descriptif des monuments căms
de l'Annam, tome I, Paris, Imprimerie Nationale, Ernest
Leroux, 1909, trg. 81-95 và 557-559). Điều này đã chứng
minh rằng dân cư khu vực Tây Nguyên thời đó nằm trong
biên giới chính trị của vương quốc Champa. Jaya
simhavarman III cũng là vị vua đã kết hôn với công chúa
của vương quốc Java. Cuộc tình này càng làm tăng thêm
mối quan hệ thân thiện giữa gia đình hoàng tộc Champa
và vương quốc Đa Đảo vào cuối thế kỷ XIII.
Bên cạnh công chúa của vương quốc Java, Jaya
simhavarman III còn kết hôn với công chúa của Đại Việt.
Sau khi thoái vị để nhường ngôi lại cho người con trai là
Trần Anh Tông, vua cha Trần Nhơn Tông hứa gả con gái
của ông ta tên là Huyền Trân cho vua Chế Mân, tức là
Jaya simhavarman III, vào năm 1301. Sự kiện này đã gây
bao phản ứng trong triều đình và người dân Đại Việt thời
đó. Chính vì thế, cuộc hôn nhân của công chúa Huyền
Trân mà lịch sử Việt Nam thường nhắc đến, đã trải qua
một cuộc thương thuyết lâu dài. Để được kết hôn với công
chúa Huyền Trân, vua Jaya Simhavarman III đồng ý dâng
cho Đại Việt hai châu Ô và Lý tức là phần đất nằm giữa
đèo Lao Bảo và đèo Hải Vân (Quảng Trị và Thừa Thiên
hiện nay). Đó cũng là nguyên nhân để giải thích tại sao
hôn nhân này chỉ được cử hành vào năm 1306.
Việc quyết định dâng hiến lãnh thổ cho nước láng
giềng vào năm 1069 đã chứng minh rằng giai cấp lãnh đạo
dưới thời phong kiến Champa chỉ xem lãnh thổ quốc gia
như một tài sản riêng tư của mình, hoàn toàn tùy thuộc vào
ý muốn riêng tư của nhà vua. Chính vì thế, người ta không
thể kết tội Đại Việt thời đó đã có ý định xâm chiếm đất
đai Champa, bởi vì quốc gia này chỉ bắt đầu áp dụng chính
sách đế quốc kể từ cuối thế kỷ XV hầu mở rộng bờ cõi về
phía Nam. Như người ta đã thấy và còn thấy nữa về sau,
trước thế kỷ thứ XV, Đại Việt chỉ lợi dụng vào các cuộc
chiến thắng quân sự nhằm buộc các nước thua trận phải
chấp nhận làm chư hầu, nhưng chưa nghĩ đến việc xâm
chiếm lãnh thổ của các quốc gia này.
Jaya Simhavarman III từ trần vào năm 1307, vì tuổi
già. Vua Trần Anh Tông thừa cơ hội tìm cách đưa Huyền
Trân về Thăng Long, nhưng vẫn tiếp tục chiếm giữ hai
Châu Ô và Lý. Kể từ đó, núi Bạch Mã (Huế) trở thành
ranh giới phía bắc của Champa. Thế là lãnh thổ Champa
bị lọt vào tay của Đại Việt vào năm 1069 và năm 1306
chính là đất đai nguyên thủy của vương quốc Lin Yi (Lâm
Ấp) thời trước.
Champa đối đầu với Đại Việt
Cũng vì không còn bia ký bàn về Champa kể từ
cuối thế kỷ XIII, người ta không nắm vững cho lắm những
chi tiết liên quan đến vương triều của người con trai lên
ngôi thay thế vua Jaya Simhavarman III. Người ta cũng
không biết danh xưng vương hiệu của các vị vua kế tiếp
hay những yếu tố nhằm chứng minh rằng họ có được tấn
phong lên làm thủ lãnh Champa hay không. Do đó, người
ta buộc phải gọi các vị vua nối ngôi thay thế Jaya
Simhavarman III hay những vị vua kế tiếp khác bằng
những tên gọi như Chế, Chi, v.v. mà các biên niên sử Việt
Nam đặt ra mà thôi
trước thế kỷ thứ XV, Đại Việt chỉ lợi dụng vào các cuộc
chiến thắng quân sự nhằm buộc các nước thua trận phải
chấp nhận làm chư hầu, nhưng chưa nghĩ đến việc xâm
chiếm lãnh thổ của các quốc gia này.
Jaya Simhavarman III từ trần vào năm 1307, vì tuổi
già. Vua Trần Anh Tông thừa cơ hội tìm cách đưa Huyền
Trân về Thăng Long, nhưng vẫn tiếp tục chiếm giữ hai
Châu Ô và Lý. Kể từ đó, núi Bạch Mã (Huế) trở thành
ranh giới phía bắc của Champa. Thế là lãnh thổ Champa
bị lọt vào tay của Đại Việt vào năm 1069 và năm 1306
chính là đất đai nguyên thủy của vương quốc Lin Yi (Lâm
Ấp) thời trước.
(còn tiếp)
Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.
|