tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
11.02.2017
Pièrre-BERNARD Lafont
Champa (5)



Champa đối đầu với Đại Việt


Cũng vì không còn bia ký bàn về Champa kể từ cuối thế kỷ XIII, người ta không nắm vững cho lắm những chi tiết liên quan đến vương triều của người con trai lên ngôi thay thế vua Jaya Simhavarman III. Người ta cũng không biết danh xưng vương hiệu của các vị vua kế tiếp hay những yếu tố nhằm chứng minh rằng họ có được tấn phong lên làm thủ lãnh Champa hay không. Do đó, người ta buộc phải gọi các vị vua nối ngôi thay thế Jaya Simhavarman III hay những vị vua kế tiếp khác bằng những tên gọi như Chế, Chi, v.v. mà các biên niên sử Việt Nam đặt ra mà thôi.


Việc dâng hiến hai Châu Ô và Lý cho Đại Việt đã


đưa đẩy dân cư Champa sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng


vào những cuộc vùng dậy một cách liên tục. Thêm vào đó,


triều đình Champa cũng không quên khuyến khích thêm


những phong trào bài trừ Đại Việt. Chính đó là nguyên


nhân buộc vua Trần Anh Tông phải đứng ra điều hành một


cuộc chinh phạt Champa vào năm 1312, bắt được thủ lãnh


của vương quốc này làm tù binh để đưa về Thăng Long,


nơi mà ông vua này từ trần vào năm 1313.


Sau cuộc chinh phạt vào năm 1312, Trần Anh Tông


đề cử người em của vua Champa mà biên niên sử Đại Việt


gọi là Chế Năng lên ngôi cai trị vương quốc này như là


một vị vua chư hầu của Đại Việt. Điều này đã chứng minh


rằng Champa đã trở thành một vương quốc đặt dưới quyền


đô hộ của Đại Việt thời đó. Lợi dụng ngày đăng quang của


vua Trần Minh Tông vào năm 1314, Chế Năng toan tính


thâu hồi lại những đất đai đã mất cũng như xây dựng lại


chủ quyền của một quốc gia Champa độc lập, nhưng


không thành. Chính vì thế, ông ta phải chạy sang vương


quốc Java tị nạn vào năm 1318.


Lợi dụng tình hình bất ổn ở Champa, Đại Việt gia


tăng chính sách nhúng tay vào nội bộ của nước láng giềng


bằng cách đề nghị một vị tướng lãnh của Champa lên nắm


chính quyền như một phó vương mà biên niên sử Đại Việt


gọi là Chế A Nan. Nối gót các cuộc đấu tranh của các vị


vua tiền bối, Chế A Nan cũng tìm cách giải phóng


Champa ra khỏi ách đô hộ của Đại Việt. Để thực hiện


chính sách này, ông ta phải trông cậy vào sự yểm trợ của


triều đình Mông Cổ kể từ năm 1322. Kết quả là Chế A


Nan đã đánh bại quân Đại Việt tấn công Champa vào năm


1326. Cuộc chiến thắng này đã giúp Champa xây dựng lại


chủ quyền quốc gia độc lập của mình và chấm dứt mọi


chính sách lệ thuộc của Champa vào nước láng giềng. Kể


từ đó Champa không còn gởi những lễ vật và các phái


đoàn ngoại giao sang Đại Việt nữa.


Triều đại kế thừa vua Chế A Nan đánh dấu một


thời kỳ rất là yên bình. Trước hết, vua Champa thường cử


các phái đoàn ngoại giao sang Trung Hoa cho đến năm


1331 và có dịp tiếp đón cuộc thăm viếng của Franciscan


Odoric de Pardenone, một nhà tu sĩ Âu Châu đã để lại cho


hậu thế một cuốn hồi ký trong đó ông ta cho rằng Champa


là một xứ sở có vẻ đẹp hồn nhiên. Nhưng đây không phải


là điềm báo hiệu nhằm cho rằng vương quốc Champa đang


bước vào một trang sử yên bình và thịnh vượng. Vì từ một


thế kỷ qua, Champa không ngừng trải qua bao sự khủng


hoảng trầm trọng về các giá trị tinh thần mà vương quốc


này thường dựa vào đó để làm nền tảng của xã hội mình.


Chính đó là yếu tố đã đưa đẩy Champa vào con đường suy


yếu một các nghiêm trọng. Các nghi lễ Ấn Giáo biểu


tượng cho uy quyền thiêng liêng của vương triều đã bắt


đầu suy thoái. Các cuộc tranh giành quyền lực giữa các


hoàng tử trong cung đình cũng như sự nối tiếp triền miên


của những cuộc nội chiến giữa miền bắc và miền nam đã


xé nát vương quốc này một cách liên tục. Chính đó cũng là


yếu tố giúp người ta ta hiểu rằng vào giữa thế kỷ XIV,


Champa đang bước vào thời kỳ bất ổn trầm trọng.


Một khi Chế A Nan băng hà vào năm 1342, cuộc


tranh chấp quyền hành giữa các thành viên trong gia đình


hoàng gia bắt đầu bùng nổ. Người con rể của vua Chế A


Nan tên là Trà Hòa lại đứng ra tiếm ngôi của Chế Mổ, tức


là con trai của Chế A Nan. Chính vì thế, Chế Mổ phải tìm


cách loại trừ kẻ cướp ngôi, nhưng đã thất bại để rồi phải


chạy sang Đại Việt tị nạn và xin cầu cứu. Vua Trần Dụ


Tông của Đại Việt sẵn sàng giúp đỡ Chế Mổ với điều kiện


là Champa phải chấp nhận tái lập qui chế triều cống.


Năm 1353 một đoàn quân Đại Việt tháp tùng Chế Mổ tiến


đến Champa, nhưng chưa kịp tấn công Vijaya thì phải


quay ngược trở về cùng với Chế Mổ và không bao lâu


hoàng tử này từ trần trên lãnh thổ của nước láng giềng.


Lúc đó Trà Hòa là vị vua Champa đang trị vì, tưởng rằng


có thể thu hồi lại hai Châu Ô và Lý bằng bạo lực, nhưng


ông ta phải chuốc bao thất bại. Kể từ đó người ta không


biết thế nào là tiềm năng và thế lực quân đội của Champa


nữa cho đến khi ông ta băng hà, dường như vào năm 1360.


Sau năm 1360, lịch sử Champa đang trải qua một


khoảng trống về niên đại, vì các tư liệu Trung Hoa chỉ nói


đến hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã tấn phong cho


một vị vua Champa vào năm 1369 mà biên niên sử Việt


Nam gọi là Chế Bồng Nga kể từ năm 1376, nhưng không


bao giờ đề cập đến nguồn gốc dòng tộc cũng như ngày


tháng lên ngôi của ông ta. Chế Bồng Nga là một chiến


lược gia quân sự đã gây bao kinh hoàng cho Đại Việt trong


suốt 30 năm liền. Vị vua này đã chiến thắng trong những


trận chiến chống quân Đại Việt vào các năm 1361, 1362,


1365, 1368, 1377, 1378, 1383, 1386 và đã ba lần đốt phá


thủ đô Thăng Long vào năm 1371, 1377, 1378. Chế Bồng


Nga là vị vua đã thành công thu hồi lại các phần đất đai đã


lọt vào tay của Đại Việt vào năm 1069 và 1306, sau đó


đưa biên giới phía bắc của Champa trở lại Cửa An Nam


(Hoành Sơn), tức là vị trí nguyên thủy của vương quốc này


vào giữa thề kỷ thứ IV. Trong lúc Đại Việt đang ở trong


tình trạng hoàn toàn rối loạn, thì nhà chiến lược quân sự


Chế Bồng Nga bị phản bội bởi một số nguời nằm trong


vương triều Champa và bị giết chết trên chiến thuyền của


ông ta vào năm 1390 (G. Maspéro, Le royaume de


Champa, Leide, E. J. Brill, 1914, trg. 275-298).


Chế Bồng Nga là vị vua đã đưa vương quốc


Champa lên đỉnh cao của thời kỳ huy hoàng và sáng chói


nhất. Nhưng giai đoạn huy hoàng này chỉ dựa vào nhân


cách, nghị lực và tài năng quân sự của Chế Bồng Nga, một


nhân vật đã biết khai thác sự suy tàn của nhà Trần để phát


triển sức mạnh và tiềm năng Champa của mình. Chính vì


thế, cái chết của Chế Bồng Nga trên bãi chiến trường đã


đưa đẩy Champa vào khúc quanh của bao sự nguy cơ khác


mà người ta thường quên lãng đi, đó là thực trạng của một


vương quốc và một nền văn minh đang ở trong thời kỳ hấp


hối và suy sụp.


La Khải là vị vua kế thừa của Chế Bồng Nga. Mỗi


lần xua quân nhằm quấy nhiễu Đại Việt, La Khải buộc


phải đánh tháo lui để chạy về Champa. Ông ta cũng là vị


vua lên nắm chính quyền qua vũ lực bằng cách loại trừ các


đứa con trai của Chế Bồng Nga ra khỏi vương quyền và bỏ


rơi cho Đại Việt các phần đất nằm về phía bắc của núi


Bạch Mã (Huế) mà Chế Bồng Nga đã dày công thu hồi.


Một bia ký tìm thấy trước cửa của thành lũy ở Bình Định


cho biết La Khải lên ngôi lấy vuơng hiệu là Jaya


Simhavarman, trị vì 12 năm. Đó là những gì mà người ta


biết về ông ta.


Sự cáo chung của Champa Ấn Hóa


Jaya Simhavarman (La Khải) mất vào năm 1401.


Người con trai của ông ta tên là Virabhadravarman (hay


Ba Đích Lại gọi theo biên niên sử Việt Nam) lên ngôi kế


vị. Lợi dụng ngày băng hà của vua La Khải, Hồ Quí Ly, vị


vua đầu tiên của nhà Hồ thay thế nhà Trần vào năm 1394,


xua quân tấn công Champa, nhưng thất bại. Vua Hồ lại mở


trận tấn công thứ hai vào năm 1402. Đứng trước lực lượng


quân sự quá hùng mạnh của đối phương, vua


Virabhadravarman (Ba Đích Lại) phải trả lại cho Hồ Quí


Ly tiểu vuơng quốc Amaravati bị mất vào năm 1306 để


đổi lấy việc rút quân Đại Việt ra khỏi Champa. Vì tưởng


rằng có thể chiếm thêm đất đai Champa một cách dễ


dàng, vua Đại Việt mở trận tấn công Vijaya lần thứ ba vào


năm 1403-1404. Nhưng sự can thiệp của nhà Minh (Trung


Hoa) buộc quân đội viễn chinh của Đại Việt phải quay


đầu trở về. Rồi lấy cớ việc nhà Hồ tiếm ngôi nhà Trần,


hoàng đế nhà Minh xua quân tấn công Đại Việt vào năm


1407. Chiến tranh giữa Trung Hoa và Đại Việt đã giúp


Champa thoát ra khỏi sự đe dọa của lân bang miền bắc và


thu hồi lại tiểu vương quốc Amaravati. Lợi dụng tình hình


bất ổn ở Đại Việt, vua Virabhadravarman (Ba Đích Lại)


xua quân tấn công Campuchia, một quốc gia rất suy yếu vì


phải đối phó với chiến tranh liên miên chống lại vương


quốc Ayudhya (Thái Lan) kể từ giữa thế kỷ XIV. Mặc dù


Trung Hoa đã hai lần khiển trách vào năm 1408 và 1414,


vua Virabhadravarman (Ba Đích Lại) vẫn tiếp tục tấn


công Campuchia để chiếm vùng Biên Hòa (A. Cabaton,


“L'inscription de Biên-hòa”, trong BEFEO IV, 1904, trg


687 và tiếp theo). Cũng nhờ trận chiến này, Champa dời


biên giới phía nam của mình đến núi But, ngọn núi mà nhà


thương thuyền Bồ Đào Nha cho biết nó là biên giới phía


đông chia cách Champa và vương quốc Campuchia kể từ


đầu thế kỷ XVII. Năm 1427, Virabhadravarman (Ba Đích


Lại) cử một phái đoàn sang Thăng Long để tiếp kiến với


vua Lê Lợi, nhân vật đã giải phóng Đại Việt ra khỏi sự đô


hộ của Trung Hoa vào năm 1428 để thiết lập triều đại nhà


Lê. Sau 32 năm phục vụ cho vương quốc,


Virabhadravarman (Ba Đích Lại) được nhận tấn phong vào


năm 1432 với tên vương hiệu là Vrasu Indravarman.


Năm 1441, Vrasu Indravarman băng hà và được


thay thế bởi một vị vua mà biên niên sử Việt Nam gọi là


Maha Bí Cai. Kể từ năm 1444, Maha Bí Cai gia tăng các


cuộc chiến đánh phá láng giềng miền bắc. Sau khi đã


chinh phục được thái độ trung lập của nhà Minh, vua Đại


Việt xua quân chinh phạt Champa vào năm 1446, chiếm


Vijaya và bắt được Maha Bí Cai làm tù binh đưa về Thăng


Long, sau đó đưa người cháu của ông ta tên là Maha Quí


Lai lên nắm chính quyền. Vừa mới lên ngôi, Maha Quí Lai


tức thời dâng lễ vật lên vua Lê Nhân Tông vào năm 1447.


Hai năm sau tức là năm 1449, Maha Quí Lai đã bị người


em tên Maha Quí Đô truất phế. Sau ngày lật đổ chính


quyền, Maha Quí Đô xin Trung Hoa tấn phong vào năm


1457. Lên ngôi chưa đầy một năm, Maha Quí Đô bị ám sát


vào năm 1458. Người kế ngôi của ông ta mà biên niên sử


Đại Việt gọi là Trà Duyệt chỉ trị vì môt thời gian rất ngắn


ngủi, vì năm 1460, ông vua này buộc phải thoái vị nhưng


không cho biết lý do, để nhường ngôi lại cho người em là


Trà Toàn tức là vị vua cuối cùng của Champa đóng đô ở


Vijaya.


Mặc dù vua Lê Thánh Tông đã mấy lần yêu cầu Champa phải dâng thêm cống vật, nhưng Trà Toàn từ chối tuân lệnh và còn xua quân tấn công vào Đại Việt vào năm 1468 và năm 1469. Để trả lời cho thái độ của Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông xua quân phản công, đánh chiếm Champa năm kế tiếp. Năm 1471, Vijaya bị thất thủ và bị san bằng. Khoảng 20 000 người dân của Vijaya bị bắt làm tù binh và di đày sang nơi khác và một phần còn lại có số lượng vào khoảng 40 000 cho đến 60 000 người bị tàn sát.


Trà Toàn bị bắt và từ trần trên đường về Thăng Long (Bùi Quang Tung, Le Đại Việt et ses voisins, Paris, L'Harmattan, 1990, trg. 73-86).


Sự thất thủ Vijaya vào năm 1471 đánh dấu cho sự


cáo chung của một nền văn minh và một vương quốc


Champa trên bước đường suy tàn. Nhưng đây cũng là thời


điểm suy đồi của một nền văn minh Ấn Giáo trước đà tiến


quân của Hồi Giáo để xâm chiếm Ấn Độ kể từ cuối thế kỷ


XII, để rồi Champa không còn nhận thêm ảnh hưởng văn


hóa Ấn Giáo nữa. Sự sụp đổ của nền văn minh Ấn Giáo


tại Champa đã gây ra sự tan vỡ của các cơ cấu tổ chức xã


hội và tín ngưỡng mà vuơng quốc này đã cố gắng gầy


dựng gần 15 thế kỷ. Và nó phát sinh từ sự thất bại quân sự


dồn dập kể từ thế kỷ XI đã làm mất đi những niềm tin vào


Ấn Giáo mà Champa thường dựa vào đó để làm nền tảng


di sản tinh thần của mình, một di sản thiêng liêng do các vị


thần linh sáng tạo, nhưng chính con người đã đứng ra phá


hỏng nó. Kể từ đó, dân chúng Champa không còn đặt


niềm tin vào Ấn Giáo nữa. Sự thất thủ của Vijaya vào năm


1471 là kết quả của một cuộc đấu tranh dai dẳng giữa nền


văn minh Ấn Giáo của Champa chống lại nền văn minh


Trung Hoa của dân tộc Việt. Một khi Đại Việt không đủ


sức để tiến quân sang phía bắc vì bị Trung Hoa ngăn chận


lại, thì họ phải tìm cách áp dụng chính sách Nam Tiến.


Đây là cuộc chiến giữa hai đối tượng thù địch Champa và


Đại Việt nhằm bảo vệ sự sinh tồn của mình. Tiếc rằng ván


bài đã diễn ra kể từ cuối thế kỷ thứ X đã đánh dấu bằng


những cuộc thoái lui liên tục của Champa. Chính vì thế,


năm 1471 đã trở thành biểu tượng cho cuộc chiến thắng vẻ


vang của nền văn minh Hoa-Việt chống lại di sản Ấn Giáo


tại Champa đã từng thống trị khu vực miền đông của bán


đảo Đông Dương kể từ thế kỷ thứ IV. Cũng nhằm biểu


dương cho cuộc chiến thắng này mà Đại Việt đã tàn phá


thành Vijaya (Đồ Bàn) và chiếm đọat đất đai của Champa


bất cứ lúc nào mà quốc gia này cảm thấy có thể thực hiện


được để áp đặt nền văn hóa Hoa-Việt lên dân tộc Champa


thua trận. Lãnh thổ đã lọt vào tay Đại Việt là các tiểu


vương quốc nằm ở phía bắc của Champa, vốn là trung tâm


quyền lực của nền văn minh Ấn Giáo, nơi tồn tại toàn


bộ di sản tinh thần của nó. Nếu Mĩ Sơn là biểu tượng cho


công trình kiến trúc và nghệ thuật Ấn Giáo, Đồng Dương


biểu tượng cho trung tâm Phật Giáo đại thừa thì Trà Kiệu


cũng là trung tâm truyền bá và phát triển triết lý Ấn Giáo


qua các thời đại.


Champa bản địa


Sau ngày chiếm đóng Vijaya (Đồ Bàn), Lê Thánh


Tông xua quân xuống miền nam Champa đến ngọn đồi đối


diện với mũi Varella và dựng một cột mốc trên núi Đá Bia


(cũng gọi là Thạch Bi) để đánh dấu biên giới của Đại Việt


mà Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại. Biến cố này đã


gây bao sự hiểu lầm, vì đa số các nhà nghiên cứu cho rằng


kể từ năm 1471, Thạch Bi nằm trong khu vực tỉnh Phú


Yên là ranh giới phía nam của Đại Việt. Cũng theo Đại


Nam Nhất Thống Chí, phần nói về dư địa chí của tỉnh Bình


Định lại cho rằng dưới thời Lê Thánh Tông, biên giới phía


nam của Đại Việt nằm ở đèo Cù mông tức là hơn một


trăm cây số về phía bắc của tỉnh Phú Yên. Các biên niên


sử khác cũng xác nhận điều này bởi vì tỉnh Phú Yên dưới


thời Lê Thánh Tông bao gồm các vùng đất trải dài giữa


đèo Cù Mông và núi Đá Bia chỉ lọt vào tay nhà Nguyễn


vào năm 1611.


Vấn đề về biên giới phía nam của Đại Việt vào


cuối thế kỷ XV đã trở thành một chủ đề tranh luận lâu dài.


Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (tập III, bản dịch bằng


quốc ngữ, Hanoi, 1972), sau khi thành Đồ Bàn bị thất thủ,


vua Lê Thánh Tông chia lãnh thổ nằm về phía nam của


thủ đô này thành ba vương quốc chư hầu: vương quốc


Chiêm Thành, tức là phần phía nam của Champa, vương


quốc Hoa Anh và vương quốc Nam Bàn. Tiếc rằng văn


bản này chỉ nhắc đến vương quốc Hoa Anh một lần duy


nhất và chỉ nói đến vương quốc Nam Bàn gần 3 thế kỷ sau


và cũng không cho biết tên tuổi của các vị vua của Hoa


Anh và Nam Bàn. Chính vì thế người ta có quyền nêu ra


bao câu hỏi: sự hiện diện của hai vương quốc Hoa Anh và


Nam Bàn có thật sự hay không? Ngoài ra biên niên sử


Việt Nam cũng không xác nhận vị trí của Hoa Anh và


Nam Bàn ở đâu. Điều này đã đưa một số tác giả đề ra lý


thuyết cho rằng vương quốc Hoa Anh nằm giữa đèo Cù


Mông và núi Đá Bia; vương quốc Nam Bàn nằm ở trên


vùng cao nguyên Công Tum-Gia Lai. Trong khi đó, các tác


giả khác nghĩ rằng hai vương quốc này đều nằm ở phía tây


của dãy Trường Sơn, nhưng họ không đưa ra những yếu tố


thuyết phục nào nhằm chứng minh cho giả thuyết.


Giai đoạn chuyển tiếp


Nếu biên giới phía nam của Đại Việt vào cuối thế


kỷ thứ XV vẫn còn là đề tài tranh luận thì người ta biết


chắc chắn rằng sự sụp đổ của vương triều Champa Ấn


Giáo ở miền bắc sau ngày thất thủ Vijaya vào năm 1471


không có nghĩa là sự sụp đổ toàn diện của vương quốc


Champa như một số nhà nghiên cứu thường nêu ra. Một


khi miền bắc bị rơi vào tay của Đại Việt, vương quốc


Champa vẫn còn tiếp tục hiện hữu nhưng bị thu hẹp lại ở


miền nam nằm trên lãnh thổ của tiểu vương quốc


Kauthara và Panduranga, nơi mà người dân có bản chất rất


là hiếu động, luôn luôn đòi tự trị và đôi lúc còn tìm cách


tách rời ra khỏi liên bang Champa để tạo cho mình một


quốc gia độc lập.


Sau ngày thất thủ thành Đồ Bàn vào năm 1471,


một tướng lãnh quân sự Champa mà biên niên Việt Nam


gọi là Bố Trì Trì đã chạy thoát về Panduranga, tự xưng là


vua Champa và được Trung Hoa và Đại Việt phong chức.


Vương quốc của Bố Trì Trì mà các tư liệu lịch sử thường


nhắc đến mang tên là Chiêm Thành mới. Người ta không


biết nhiều về Bố Trì Trì. Tài liệu Mingshi (CCCXXV-15a)


chỉ ghi rằng sự từ trần của Bố Trì Trì vào năm 1478 có thể


do một trong số các người em của ông ta tên là Gulai gây ra.


Gulai lên nối ngôi vua cũng vào năm 1478 và tự


hướng dẫn một phái đoàn sang Trung Hoa để xin tấn


phong. Theo biên niên sử Việt Nam, Gulai trị vì đến 1505


sau đó nhường ngôi lại cho con trai tên là Trà Toại. Vị vua


mới này cũng gởi người con trai của ông ta tên là Trà Phúc


sang Trung Hoa để xin hoàng đế nhà Minh tấn phong vào


năm 1509 và một phái đoàn ngọai giao khác sang Trung


Hoa vào năm 1543. Đây là phái bộ ngọai giao cuối cùng


mà vương quốc Champa gởi sang Trung Hoa, vì các tư liệu


bằng tiếng Hán không còn nói đến quốc gia này nữa. Kể


từ đó, Champa trở thành một vương quốc bị cô lập, không


còn ai che chở để đương đầu với cuộc Nam Tiến của nhà


Nguyễn. Mặc dù tình hình quân sự càng ngày càng lâm


vào con đường suy yếu, nhưng vương quốc Champa vẫn


còn hiện hữu như một quốc gia có chủ quyền trải qua một


thời gian an bình cho đến giữa thế kỷ XVII.


Bố Trì Trì, Gulai và Trà Toại là ba vị vua Champa


chịu ảnh hưởng của hai thế giới rõ rệt. Thế giới thứ nhất tự


cho mình kể từ thế kỷ thứ XIV là thế giới Ấn Giáo, mặc


dù hệ thống tín ngưỡng này không còn tồn tại nữa. Thế


giới thứ hai là thế giới của nền văn minh bản địa xuất phát


từ truyền thống của miền nam Champa pha trộn với sắc


thái của người dân bản xứ ở Panduranga và Kauthara, cấu


thành một yếu tố văn hóa rất sống động và lưu truyền


trong mọi tầng lớp dân gian cho đến hôm nay. Từ cuối thế


kỷ XV cho đến thế kỷ XVI, các giá trị tinh thần và hệ


thống tổ chức xã hội ở miền nam bắt đầu phát triển khá


nhanh mà tân Champa dựa vào đó để xây dựng cho mình


một nền văn minh riêng biệt. Kể từ đó, văn hóa Champa


Ấn Giáo đã đi vào con đường phôi thai cùng một lúc với


sự biến mất của giai cấp quí tộc Bà La Môn để nhường


chỗ cho các nghi lễ bản địa thường gắn liền với yếu tố đất


đai và khu vực địa dư. Chính đó là hệ thống tín ngưỡng có


một đặc trưng riêng biệt mà quần chúng miền nam


Champa xem như là di sản tinh thần của họ. Mọi lý thuyết


về sự sinh tồn của vũ trụ Ấn Giáo không còn thích hợp nữa


để thay thế vào đó bởi một hệ thống triết lý mang tính


chất bản địa của miền nam Champa pha lẫn với yếu tố văn


hóa Hồi Giáo kể từ thế kỷ XVII càng làm phong phú thêm


cho nền văn minh mới của vương quốc này. Các giai cấp


thượng lưu không còn quan tâm đến Ấn Giáo nữa, tức là


hệ thống tín ngưỡng quá chú trọng đến các nghi lễ hoàng


gia và hình thức tôn thờ cá nhân của giai cấp lãnh đạo,


nhưng lại tin vào tục thờ hình tượng thường hay lẫn lộn với


các hình thái của tín ngưỡng dân gian địa phương. Các vua


chúa Champa thời đó không còn tự phong cho mình là


nhân vật xuất thân từ thế giới siêu hình để điều hành một


vương quốc như thời Ấn Giáo, mà là một nhà một nhà lãnh


đạo thông thường có chức năng quản lý quốc gia. Họ


không còn sử dụng tên và họ của vua chúa viết theo Phạn


ngữ nữa và không còn ra lệnh khắc tượng của họ với bao


phong cách trang điểm mang yếu tố Ấn Giáo nữa. Hay nói


một cách khác, vua chúa Champa sau thế kỷ thứ XVII chỉ


là một người phàm tục như những người công dân khác.


Nhưng điều đó không ngăn cản họ tiếp thu những di sản


tinh thần từ xưa mà các vua chúa Champa miền nam đã để


lại cho họ.


Tình hình vào cuối thế kỷ XVI và XVII


Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII, các tin tức


mà biên niên sử Việt Nam cung cấp về vương quốc


để thay thế vào đó bởi một hệ thống triết lý mang tính


chất bản địa của miền nam Champa pha lẫn với yếu tố văn


hóa Hồi Giáo kể từ thế kỷ XVII càng làm phong phú thêm


cho nền văn minh mới của vương quốc này. Các giai cấp


thượng lưu không còn quan tâm đến Ấn Giáo nữa, tức là


hệ thống tín ngưỡng quá chú trọng đến các nghi lễ hoàng


gia và hình thức tôn thờ cá nhân của giai cấp lãnh đạo,


nhưng lại tin vào tục thờ hình tượng thường hay lẫn lộn với


các hình thái của tín ngưỡng dân gian địa phương. Các vua


chúa Champa thời đó không còn tự phong cho mình là


nhân vật xuất thân từ thế giới siêu hình để điều hành một


vương quốc như thời Ấn Giáo, mà là một nhà một nhà lãnh


đạo thông thường có chức năng quản lý quốc gia. Họ


không còn sử dụng tên và họ của vua chúa viết theo Phạn


ngữ nữa và không còn ra lệnh khắc tượng của họ với bao


phong cách trang điểm mang yếu tố Ấn Giáo nữa. Hay nói


một cách khác, vua chúa Champa sau thế kỷ thứ XVII chỉ


là một người phàm tục như những người công dân khác.


Nhưng điều đó không ngăn cản họ tiếp thu những di sản


tinh thần từ xưa mà các vua chúa Champa miền nam đã để


lại cho họ.


Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII, các tin tức


mà biên niên sử Việt Nam cung cấp về vương quốc


Champa, tức là Chiêm Thành, rất hiếm hoi, vì các tư liệu


này chỉ chú tâm đến cuộc nội chiến của Đại Việt, hết nhà


hậu Lê chống nhà Mạc đến cuộc gây chiến của chúa Trịnh


ở miền bắc chống lại chúa Nguyễn ở miền nam. Các thông


tin do các nhà thương thuyền Tây Phương cung cấp về


Champa cũng không đáng kể. Thêm vào đó, các biên niên


sử viết bằng chữ Chăm nói đến Champa cho đến cuối thế


kỷ XVII không còn chứa đựng những dữ kiện chính xác


cho lắm, nhất là vị trí địa dư và niên đại của biến cố. Mãi


cho đến sau thế kỷ thứ XVII, những tài liệu viết bằng


tiếng Chăm trở thành môt kho tàng sử liệu quí giá và đáng


tin cậy hơn (P-B. Lafont, “Pour une rehabilitation des


chroniques rédigées en cam moderne”, trong BEFEO


LXVIII, 1980, trg. 105-111).


Các nguồn tư liệu vừa nêu ra, mặc dù không phong


phú cho lắm, nhưng đã giúp cho nguời ta biết rằng vào


năm 1578, lợi dụng tình trạng nội chiến của nước láng


giềng ở miền bắc, Champa xua quân chiếm lại thành cũ


nằm trong vùng Tuy Hòa (Phú Yên). Theo ký sự của người


Hòa Lan kể lại, một vị vua Champa mà họ không nêu ra


danh tánh, đã gởi một đội binh đến giúp vua của tiểu


vương quốc Johor (Mã Lai) vào năm 1594 để chống lại


người Bồ Đào Nha. Ngoài ra, những thương thuyền Tây


Ban Nha đến Nam Vang vào năm 1596 cũng nhắc đến


những người Chăm phục vụ trong triều đình của vua


Campuchia và còn cho biết vào năm 1602 vua Champa,


dường như là Po Klaong Halau, đã gởi một phái bộ sang


triều đình của nhà Nguyễn. Cũng theo tài liệu này, vào


năm 1603, người con trai của Po Klaong Halau tên là Po


Nit đã đặt thủ đô Champa tại vùng Phan Rang mà các


nguồn tư liệu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã từng


xác nhận. Cuối cùng, các biên niên sử hoàng gia


Campuchia cũng không quên ghi rằng dưới thời vua


Paramaraja VII tức là giữa năm 1602 và 1619, hoàng tử


Jayajettha đã thu hồi lại các tỉnh Baria và Daung Nay, tức


là vùng Biên Hòa hiện tại, mà Champa đã chiếm đóng


vào đầu thế kỷ XV.


Cũng vào thời kỳ đó, chúa Nguyễn Hoàng viện cớ


Champa thường quấy phá biên giới bên kia sông Đà Rằng


(Phú Yên) để xua quân chiếm đất đai Champa nằm giữa


đèo Cù Mông và núi Đá Bia vào năm 1611 và mở rộng


biên giới miền nam của nhà Nguyễn đến đỉnh cao của


ngọn núi này. Kể từ đó, Nguyễn Hoàng và người kế vị là


Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu áp dụng chính sách di dân


vào lãnh thổ Champa bị chiếm đóng vào năm 1611. Họ là


nhóm quân điền (vừa làm lính phòng thủ lãnh thổ vừa làm


nghề nông), tập thể dân cư người Kinh bị lưu đầy, nhất là


những người phạm tội. Theo lời kể của linh mục A. de


Rhodes, người Chăm trong khu vực bị chiếm đóng không


bao giờ muốn phục tùng chính quyền mới của nhà


Nguyễn. Lợi dụng tình hình căng thẳng kể từ năm 1620


giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn kéo theo sự ly khai của


nhà Nguyễn để thành lập một vương quốc riêng, người


Chăm khởi sự những cuộc vùng dậy một cách thường trực


trong khu vực Phú Yên kể từ năm 1620 nhằm chống lại


triều đình nhà Nguyễn và dân cư người Kinh. Mặc dù


Nguyễn Phúc Nguyên đã biến khu vực Phú Yên của


Champa thành một đơn vị hành chánh của mình vào năm


1629, nhưng điều đó không ngăn chận được sự phản đối


của người Chăm, buộc nhà Nguyễn phải duy trì một cách


thường trực quân đội của họ tại biên giới miền nam trong


suốt 25 năm trường.


Kể từ thế kỷ XV, Champa vốn là quốc gia nằm


trên địa cầu kinh tế đặt dưới quyền kiểm soát của vương


quốc Malacca (Mã Lai). Kể từ đó, Champa không ngừng


hội nhập vào mạng lưới thương mại của Mã Lai nối liền


các quốc gia nằm trên bờ biển Nam Hải. Điều này đã giải


thích cho sự hiện diện của thương thuyền Champa tại tiểu


vương quốc Malacca mà biên niên sử Mã Lai (Sejarah


Melayu) đã từng nhắc đến vào thế kỷ XV và XVI; trên bờ


bể của lãnh thổ nhà Nguyễn vào các thời yên bình; tại tiểu


vương quốc Pattani (miền bắc Mã Lai); tại cửa Ménam


Chao Praya, tức là con sông lớn của Thái Lan mà người


Bồ Đào Nha đã ghi lại vào thế kỷ XVI; tại quần đảo Nam


Dương và tại tiểu vương quốc Johor (Mã Lai) mà người


Hòa Lan thường nói đến vào thế kỷ XVII. Điều đó cũng


giải thích cho sự hiện diện một cách thường trực của các


tàu bè Nam Dương và Mã Lai trong hải cảng Malithit


(Phan Thiết), Parik (Phan Rí), Panrang (Phan Rang) và


Kam-ran (Cam Ranh) của Panduranga, chưa nói đến các


tàu bè của Trung Hoa, Nhật Bản (cho đến thời kỳ bế môn


tỏa cảng vào năm 1636), của Ả Rập sang buôn bán với


Champa. Và kể từ thế kỷ XVI, người Âu Châu cũng thi


đua nhau vào thị trường Champa và biến cuộc cạnh tranh


thương mại trong khu vực này thành những cuộc tranh


chấp về quyền buôn bán với Champa, một quốc gia


chuyên sản xuất những món hàng gia vị và xa xỉ phẩm mà


thị trường Âu Châu đã đòi hỏi càng ngày càng nhiều.


Trong số các loại hàng này, Champa đã cung cấp hàng


lượng vàng mà Suma Oriental của T. Pires đã nói đến.


Một phần lớn của số lượng vàng này đã được xuất cảng


sang Malacca để rồi từ đó được chuyển đi nơi khác.


Champa cũng là vương quốc đứng hàng đầu trong ngành


cung cấp gỗ hương gọi là gỗ trầm (bois d'aloès) hay


Calambac để xuất cảng sang Ấn Độ, Ả Rập, Âu Châu và


Trung Hoa, chưa nói đến gỗ bạch đàn (bois de santal), ngà


voi, các loại da thú dữ và sừng tê giác. Cho đến giữa thế


kỷ XVII, nền thương mại này phát triển nhanh chóng đã


đem lại nguồn lợi nhuận quan trọng cho triều đình


Champa. Chính vì thế, vương quốc này đã biến ngành


nghề buôn bán bằng đường biển thành một công ty độc


quyền của vua chúa thời đó. Kể từ đó, chính quyền


Champa thường có chính sách bảo vệ các thương thuyền


nước ngoài có mối liên hệ trực tiếp với triều đình. Thí dụ


điển hình nhất đó là vua Champa, có thể là vua Po Ramé


(1627-1651), đã chấp thuận vào năm 1644 cho các thương


thuyền người Hòa Lan được phép buôn bán với Champa,


với điều kiện là không được tấn công các thương thuyền


người Bồ Đào Nha trong các hải cảng của quốc gia này.


Phải công nhận rằng tình hình kinh tế của Champa


phát triển rất thuận lợi cho đến 1653, năm mà biên niên sử


Việt Nam cho rằng vua Champa tên là Bà Thấm, có thể là


Po Nraop trong các văn bản Chăm, đã xua quân tấn công


Phú Yên. Tiếc rằng không có tài liệu nào nói đến biến cố


này. Chính vì thế mà người ta có quyền đưa ra câu nghi


vấn về tính xác thực của nó. Ai cũng biết, chúa Nguyễn


Phước Tần có một đoàn quân hùng mạnh để đương đầu


với chúa Trịnh. Trong suốt thời gian hòa bình khá lâu từ


năm 1649 đến năm 1655, nếu nhà Nguyễn không muốn


nuôi dưỡng một đoàn quân chỉ biết ăn không ngồi rồi chờ


ngày sang miền bắc tấn công chúa Trịnh, thì nhà Nguyễn


chỉ còn cách là sử dụng đoàn quân này tràn xuống miền


nam để thống trị Champa. Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa,


Nguyễn Phước Tần không quên đeo đuổi chính sách đế


quốc do các bậc tiền nhân của Đại Việt đã khởi xướng,


bằng cách tấn công Kauthara vào năm 1653, bắt sống Bà


Thấm và xua quân đến tận sông Phan Rang mà ông ta tự


ấn định là biên giới miền nam của nhà Nguyễn. Cuộc


chiến này đã làm mất thêm phần đất đai của Champa ở


phía bắc mà triều đình Phú Xuân (Huế) đã tức khắc biến


thành hai đơn vị hành chánh của nhà Nguyễn gọi là Thái


Khang và Diên Khánh. Kể từ đó, lãnh thổ của Champa bị


thu hẹp lại vào tiểu vương quốc của Panduranga mà tư liệu


viết bằng tiếng Chăm gọi là Pangdarang. Thế là sau năm


1653, Champa đã mất đi phân nửa bờ biển của nó với các


hải cảng rất tốt có biển sâu cho tàu bè cập bến. Một khi


nhà Nguyễn đã nắm quyền kiểm soát tất cả mạng lưới tàu


bè đến Champa, các thương thuyền nước ngoài không còn


ghé bến Champa nữa, một quốc gia đã từng làm chủ các


hải cảng nằm trên bờ biển Nam Hải từ mấy thế kỷ qua.


Các thương thuyền này cũng chấm dứt luôn mối liên hệ


buôn bán với Champa, một ngành thương mại đã đem lại


phần lợi tức khá lớn cho vương quốc này.


Vì nhà Nguyễn không ngăn cấm công dân của họ


vượt biên giống như trong quá thời khứ, một số lượng


người Kinh rất là đông đảo mà phần đông là những người


không có đất đai, nghèo đói, du đãng, tội phạm, tìm cách


tràn xuống miền nam, kể từ cuối thế kỷ XVI cho đến thế


kỷ XVII, để định cư trong vương quốc Champa và nhất là


trong các khu vực thưa thớt dân cư của Campuchia như


Barea (Bà Rịa) và Daung Nay (Đồng Nai). Lợi dụng sự


hiện diện của dân cư Việt và với lý do là để bảo vệ cho


họ, triều đình Phú Xuân (Huế) bắt đầu can thiệp vào nội


bộ Campuchia một cách trắng trợn, tạo ra các cuộc nổi


dậy bài trừ người Kinh, đã làm lung lay tình hình chính trị


của vương quốc này. Sau khi làm chủ khu vực hải quan


Prei Nokor (Sài Gòn) của Campuchia vào năm 1623, nhà


Nguyễn xua quân chiếm Biên Hòa vào năm 1658. Sau


biến cố đã đưa đẩy Champa có biên giới chung với lãnh


thổ của nhà Nguyễn không những riêng ở phía bắc (tức là


Cam Ranh) mà còn ở phía nam nữa, tức là Biên Hòa. Kể


từ đó, Champa trở thành một quốc gia hoàn toàn cô lập,


không còn cửa biển để liên hệ với Campuchia qua Prei


Nokor và đất đai Champa hoàn toàn nằm trong gọng kìm


của nhà Nguyễn.


Nếu nhà Nguyễn không muốn xâm chiếm Champa


ngay từ lúc ban đầu, bởi vì triều đình Phú Xuân còn quá


bận rộn vào việc mở rộng ảnh hưởng của họ trên châu thổ


sông Mékong và áp đặt chủ quyền của mình trên vương


quốc Campuchia. Thêm vào đó, vương quốc Champa


không ngừng triều cống Phú Xuân hằng năm mà giáo sĩ


Choisy đã ghi lại trong nhật ký của mình vào năm 1686


(Journal du voyage de Siam fait en 1685 et 1686 par


Monsieur l'abbé de Choisy, Paris, Mabre-Cramoisy, 1687)


và vua chúa Champa đã chấp nhận làm quốc gia chư hầu


của nhà Nguyễn. Chính đó là nguyên nhân giải thích tại


sao nhà Nguyễn không muốn nuốt trọn vương quốc


Champa vào thời điểm đó.


Vào năm 1692, vua Champa là Po Saut mà các văn


bản Việt Nam gọi là Bà Tranh xua quân tấn công tỉnh


Diên Khánh (Kauthra). Biến cố này đã giúp cho Nguyễn


Phước Chu có lý do chính đáng để xóa bỏ Champa trên


bản đồ, vì chúa Nguyễn có đủ thế lực để làm điều đó và


nhất là từ khi xứ Việt đã bị phân chia thành hai miền nam


bắc, nhà Nguyễn có sẵn trong tay một đoàn quân đông đảo


và hùng mạnh trong khi đó Champa nằm trong vị trí địa dư


hoàn toàn bất lợi cho mình. Năm 1692, Nguyễn Phước Chu


tiến quân đánh chiếm Parik (Phan Rí), tức là thủ đô của


Champa kể từ năm 1653, bắt sống vua Po Saut. Sau ngày


thắng trận, nhà Nguyễn cải tên danh xưng vương quốc


Chiêm Thành (Champa) thành Trấn Thuận Thành, giao


cho ba vị tướng người Việt chỉ huy đội quân viễn chinh của


Phú Xuân nắm quyền cai trị của ba vùng, đó là vùng


Panrang đổi tên thành Phan Rang, Parik thành Phan Rí và


Pajai thành Phố Hài. Một năm sau, tức là năm 1693, nhà


Nguyễn sát nhập (phải viết là sáp nhập-TX) lãnh thổ Champa vào phủ Bình Thuận,


vừa mới thành lập trên lãnh thổ của vương quốc này.


Vì không chấp nhận chính sách xâm lược của nhà


Nguyễn và làm tôi tớ cho dân tộc Kinh thường hay khinh


miệt dân tộc bản địa, một số đông người Chăm phải chấp


rời bỏ quê hương ra đi giống như trường hợp của biến cố


đã xảy ra vào năm 1471. Nhưng lần này, họ chạy sang


Campuchia lánh nạn. Theo biên niên sử Campuchia, có


khoảng 5 000 gia đình người Chăm dưới sự hướng dẫn của


các quan chức cao cấp thuộc triều đình Champa đã vượt


dãy Trường Sơn đến Campuchia vào năm 1692-1693. Vua


Campuchia là Jayajetta III cũng là nạn nhân của chính


sách đế quốc xâm lược Việt Nam đã đón tiếp họ một cách


niềm nở và ban cấp cho họ đất đai xung quanh thủ đô hay


tại các tỉnh khác để họ sinh sống (Mak Phoeun, Histoire du


Cambodge de la fin du XVI siècle au début du XVIII siècle,


Paris, Presses de l'EFEO, Monographie 176, 1995, trg.


397-398).


Trong thời gian đó, Nguyễn Phước Chu đưa hoàng


tử Po Saktiraydapatih (Kế Bà Tử của tài liệu Việt Nam),


tức là người em trai của cố vương Po Saut lên nắm quyền


điều hành dân chúng Champa trong phủ Bình Thuận, với


niềm hy vọng rằng người dân hiếu động của Panduranga


chấp nhận qui chế mới của xứ sở họ. Theo biên niên sử


Việt Nam, chiến lược của Nguyễn Phước Chu chẳng đem


lại hiệu quả gì, vì dân tộc Champa thời đó không bao giờ


chấp nhận chính sách xâm lược của nhà Nguyễn. Cuộc


chống đối của nhân dân Champa kể từ năm 1693 đã nhanh


chóng trở thành một cuộc nổi dậy đấu tranh vũ trang


chống lại quân đội xâm lược của nhà Nguyễn và bài trừ


người Kinh định cư trên lãnh thổ Champa thường hay tiếp


tay cho nhà Nguyễn. Sức mạnh của sự vùng dậy này đã


làm cho triều đình Phú Xuân ngạc nhiên và buộc nhà


Nguyễn phải thoái lui một bước. Năm 1694, Phú Xuân


chấp thuận hủy bỏ chính sách xâm chiếm Champa và tái


lập nền độc lập của vương quốc này, nhưng vẫn duy trì


tên gọi Champa là Trấn Thuận Thành (tạm gọi là


Champa-Panduranga) mà Phú Xuân đã đặt cho nó lần đầu


tiên vào năm 1692 và thay tên danh xưng quốc vương


Champa thành Trấn Vương Thuận Thành.


Po Saktiraydapatih (Kế Bà Tử) là người đầu tiên


mà triều đình Huế đã phong cho chức vụ để cai trị vương


quốc Champa vào năm 1694. Ông là người duy nhất có


quyền thu thuế trên dân cư champa và tuyển chọn quan lại


để điều hành vương quốc dưới danh nghĩa là một quốc gia


chư hầu, phải triều cống nhà Nguyễn hằng năm (Đại Nam


Thực Lục Chính Biên I, Bản dịch quốc ngữ, Hanoi, 1962,


trg. 147-151). Ba năm sau, tức năm 1697, triều đình Phú


Xuân tìm cách gỡ gạc phần nào sự thất bại của mình để


rồi nuốt trọn vương quốc Champa. Để tiến đến mục tiêu,


Phú Xuân thành lập trên lãnh thổ Champa một Phủ Bình


Thuận có qui chế rất là đặc biệt. Qui chế của Phủ Bình


Thuận ra đời vào năm 1697 không liên hệ gì với qui chế


của Phủ Bình Thuận hình thành vào năm 1693 như một số


chuyên gia về Việt Nam thường hiểu lầm. Phủ Bình Thuận


này tập trung tất cả thôn xóm người Kinh nằm trong khu


vực Hàm Thuận nơi dùng làm trụ sở hành chánh của Phủ,


cũng như tất cả thôn xóm người Kinh thuộc khu vực Hòa


Đa (Phan Rí) và An Phước (Phan Rang), sau này trở thành


hai huyện Hòa Đa và An Phuớc. Sau đó, Nguyễn Phước


Chu cho sát nhập (sáp nhập) tất cả các làng ấp người Kinh cũng như


đất đai của họ vào đơn vị chính trị và hành chánh của phủ


Bình Thuận. Kể từ lúc đó, các dân cư nguời Kinh sinh


sống trên lãnh thổ Champa không còn là công dân ngoại


kiều đặt dưới quyền kiểm soát của Champa nữa mà là


thần dân của nhà Nguyễn. Trước biến cố này, vua Po


Saktiraydapatih (Kế Bà Tử) không dám phản đối và cũng


không nói được lời nào. Sự hiện diện của các thôn ấp và


đất đai của người Kinh nằm khắp nơi trên lãnh thổ


Champa thời đó đã biến vương quốc này trở thành một


quốc gia có biên giới hình trái độn, tập trung nhiều khu


vực có thôn xóm người Kinh đặt dưới quyền kiểm soát trực


tiếp của triều đình Phú Xuân. Hơn nữa, Nguyễn Phước


Chu đã quyết định rằng tất cả làng xã và đất đai thuộc về


người Kinh phải trực thuộc vào phủ Bình Thuận nhằm


giúp nhà Nguyễn nắm trọn trong tay một lực lượng địa


phương rất là hữu hiệu để nuốt trọn vương quốc Champa


lúc nào cũng được mà không cần can thiệp trực tiếp. Lực


lượng này chính là dân cư người Kinh sinh sống trên lãnh


thổ Champa thời đó. Nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chiến


lược này bằng cách khuyến khích dân cư người Kinh đến


Champa định cư càng nhiều càng tốt.


Tình hình vào thế kỷ XVIII


Trong suốt 60 năm đầu tiên của thế kỷ XVIII,


người ta không biết nhiều về tình hình chính trị đã xảy ra


trong vương quốc Champa-Pandurang. Ngược lại, các tài


liệu viết bằng tiếng Chăm và một vài đoạn nằm trong biên


niên sử Việt Nam thường nêu ra hàng loạt các cuộc xung


đột giữa người Kinh và Chăm trong quốc gia này, nhất là


những nơi có địa bàn dân cư của dân tộc Kinh và Chăm


nằm xen kẽ với nhau. Nguyên nhân phát sinh từ dân cư


người Kinh, dựa vào quyền thế của các quan lại của triều


đình Phú Xuân phục vụ trong phủ Bình Thuận, không ngần


ngại bốc lột lao động người Chăm, nhất là tìm cách cho


người Chăm vay mượn tiền bạc với số lãi quá nặng nề để


tịch thu tài sản hay bán nhượng con cái của họ, một khi


dân tộc này không thể trả nổi vốn nợ đã vay mượn.


Cũng vì chính sách bốc lột này ngày càng gia tăng


và chồng chất lên nhau, nông dân Việt Nam cũng phải


vùng dậy vào năm 1771 chống lại các đại điền chủ và giai


cấp lãnh đạo của nhà Nguyễn. Cuộc nổi dậy của dân tộc


Việt mang tên là phong trào Tây Sơn đã kéo dài cho đến


năm 1802 (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Nhà Tây Sơn,


Bản dịch quốc ngữ, Saigon, 1970) và làm nguy cơ đến sự


sống còn của Champa-Panduranga thời đó. Đây là cuộc


nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, tức là chiến tranh


nội bộ giữa người Việt, nhưng lại diễn ra một cách thường


trực trên lãnh thổ của Champa-Panduranga trong suốt ba


mươi năm (1771-1802). Vào buổi ban đầu của cuộc nội


chiến, anh em Tây Sơn chiếm trọn phần lãnh thổ của chúa


Nguyễn nằm phía bắc Champa-Panduranga, trong khi đó,


Nguyễn Ánh trấn giữ phần đất đai ở Gia Định tức là miền


nam của vương quốc này. Kể từ đó Champa trở thành một


quốc gia nằm giữa gọng kìm của hai đối tượng thù địch, đó


là Nguyễn Ánh và Tây Sơn. Muốn tấn công đối thủ của


mình, Tây Sơn hay Nguyễn Ánh bắt buộc phải băng qua


biên giới Champa-Panduranga, biến lãnh thổ của vương


quốc này (Bình Thuận và Ninh Thuận) thành bãi chiến


trường liên tục. Cũng vì Champa-Panduranga nằm ngay


trên vị trí chiến lược quân sự của cuộc nội chiến, thành ra


Tây Sơn và Nguyễn Ánh, mỗi bên đều tìm cách chụp lấy


mảnh đất của Champa ngay từ lúc khởi đầu của sự xung


đột, để làm điểm tựa và đặt căn cứ quân sự của mình.


Năm 1773 Tây Sơn xua quân vào Champa-Panduranga


trước khi tiến quân đánh phá Nguyễn Ánh ở Sài Gòn. Một


năm sau, tức là năm 1774-1775, Nguyễn Ánh đánh đuổi


quân Tây Sơn để chiếm lại Champa. Năm 1776-1777, Tây


Sơn tái chiếm lại Champa, sau đó Nguyễn Ánh tìm mọi


phương cách để làm chủ tình hình tại Champa kể từ năm


1779. Chưa đầy ba năm sau, tức là vào năm 1782, Tây Sơn


tái chiếm miền bắc Champa (Ninh Thuận), trong khi đó


Nguyễn Ánh trấn giữ phần đất phía nam của Champa tức


là vùng Phan Rí từ năm 1790 cho đến năm 1793. Sau năm


1793-1794, Tây Sơn rút quân ra khỏi vùng Phan Rang và


giao lãnh thổ Champa cho Nguyễn Ánh.


Những cuộc chiếm đóng liên tục của quân đội Tây


Sơn và Nguyễn Ánh trên lãnh thổ Champa-Panduranga đã


biến vương quốc này thành một quốc gia không còn biên


giới nữa trong suốt chiều dài của cuộc nội chiến giữa


người Việt và đưa đẩy dân tộc Chăm vào một khúc quanh


mới, vì họ phải chấp nhận đối diện trực tiếp với quân đội


người Kinh, lúc nào cũng xem người Chăm là những kẻ


man rợ (người Mán), có văn hóa khác biệt với văn hóa của


họ. Một khi đã thành công chiếm cứ Champa-Panduranga,


phe thắng trận, dù Tây Sơn hay Nguyễn Ánh, thường hay


bắt buộc người dân Champa phải qui phục phe mình và


trừng trị những nguời Chăm nào đã liên minh với kẻ thù


của họ. Cũng vì muốn trả thù cho những sự ngược đãi của


chính quyền Champa mà họ đã từng trải qua, hoặc không


muốn trở thành những nạn nhân vô tội của phe người Việt


thắng trận hoặc bị mắc mưu trong cơn biến động chính trị,


một số người Chăm phải chấp nhận theo Tây Sơn hay


Nguyễn Ánh và họ còn tham gia vào cuộc chiến bên cạnh


của hai phe này. Hiện tượng này đã gây ra bao sự chia rẽ


trầm trọng trong nội bộ người Chăm, kéo theo những


phong trào chống đối lẫn nhau trong một xã hội đã từng


gắn bó chặt chẽ với nhau. Bên cạnh của thực trạng xã hội


đang lâm vào con đường thoái hóa, những phe thắng trận


dù là Tây Sơn hay Nguyễn Ánh chỉ nghĩ đến chiến lược


làm chủ tình hình quân sự tại Champa, bằng cách chỉ định


một nhân vật theo phe mình lên nắm quyền để cai trị


vương quốc này. Chính vì thế, người ta thấy rõ vào năm


1790 phía nam của Champa (vùng Phan Rí) thì đặt dưới


quyền cai trị của Po Ladhuenpughuh (Nguyễn Văn Thừa


theo biên niên sử Việt Nam) một nhân vật do Nguyễn Ánh


chỉ định, trong khi đó phía bắc Champa (khu vực Phan


Rang) thì đặt dưới sự giám hộ của Po Tisuntiraydapuran do


Tây Sơn bổ nhiệm. Po Tisuntiraydapuran là một nhân vật


rất thân cận với Tây Sơn đã từng chạm trán quân sự với Po


Ladhuenpughuh, tức là người nằm trong phe của Nguyễn


Ánh (Đại Nam Thực Lục Chính Biên II-1, Bản dịch quốc


ngữ, Hanôi, 1963, trg. 58, 125).


Nhưng cũng không nên tin rằng hai đối tượng thù


địch Tây Sơn và Nguyễn Ánh có ý định bổ nhiệm những


nhân vật gốc Champa để nắm quyền cai trị vương quốc


này. Trên thực tế, dù là Nguyễn Ánh hay Tây Sơn, họ


không bao giờ ban cho giai cấp lãnh đạo Champa những


quyền lực chính trị thật sự để điều hành một quốc gia, mà


chỉ cấp cho họ những chức hàm để hợp thức hóa oai quyền


của họ trước quần chúng Champa với niềm hy vọng là


những giới lãnh đạo này có thể lôi kéo nhân dân Champa


theo phe mình. Những gì vừa nêu ra là sự thật của lịch sử


thời đó, bởi vì trong suốt chiều dài của cuộc nội chiến hay


sau cuộc nội chiến, Nguyễn Ánh cũng như Tây Sơn không


bao giờ phong vương cho những nhà lãnh đạo Champa thời


đó với danh nghĩa thật sự là Trấn Vương Thuận Thành, tức


là vua Champa, mà chỉ ban cho họ một chức Chưởng Cơ,


tức là chỉ huy trưởng của một trung đoàn trong hệ thống


quân đội thời đó. Và cả Nguyễn Ánh cũng như Tây Sơn


thường đối xử với những nhà lãnh đạo Champa rất là tồi


tệ. Chính Tây Sơn là người đã chỉ định Po Cei Brei (tức là


Nguyễn Văn Chiêu trong biên niên sử Việt Nam), làm


Chưởng Cơ của Trấn Thuận Thành (tức là thủ lãnh


Champa) vào năm 1783/1784 để thay thế Po


Tisuntiraydapuran đã từng cai trị vương quốc này vào năm


1780/1781, nhưng Tây Sơn lại truất phế Po Cei Brei để


đưa Po Tisuntiraydapuran trở lại nắm chức vụ vào năm


1786/1787 mà chẳng bao giờ cho biết lý do tại sao.


Kể từ năm 1794/1795, Champa-Panduranga hoàn


toàn nằm trong biên giới thuộc quyền quản trị của Nguyễn


Ánh. Đó cũng là năm đánh dấu cuộc chấm dứt chiến tranh


trên lãnh thổ Champa, ngọai trừ cuộc nổi dậy ngắn ngủi


của dân tộc miền cao mà biên niên sử Việt Nam đã nói


qua vào năm 1796 nhằm tấn công khu vực Phan Rí. Nhưng


biến cố này không có một hậu quả nghiêm trọng nào đối


với tình hình chính trị của Champa-Panduranga thời đó.


Ngược lại, vương quốc này phải đương đầu với làn sóng di


dân của những người Kinh nghèo khó và khốn cùng vào


lãnh thổ Champa. Dựa vào quyền lực quân viễn chinh của


nhà Nguyễn, dân cư người Kinh tìm cách xâm chiếm đất


đai của người dân bản địa Champa bị chết trong các cuộc


nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, hoặc đất đai của


những người Chăm chạy sang Campuchia lánh nạn để


thoát khỏi những cảnh tương tàn mà họ đã từng gánh chịu.


Tình hình vào thế kỷ XIX


Sau ngày chiến thắng chống quân Tây Sơn vào


năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy vương hiệu là Gia


Long và trở thành thủ lãnh tối cao của một quốc gia thống


nhất mà ông ta đặt tên là Việt Nam. Kể từ đó, Gia Long


phục hưng lại vương quốc Champa nhưng không công


nhận quyền độc lập và qui chế chính trị của nó. Vì rằng


Gia Long chỉ ban cho vương quốc này một thể chế tự trị, vì


lý do đặc thù của một dân tộc đã từng nằm trong phe của


Nguyễn Ánh để chống lại với quân Tây Sơn hơn là lý do


mang tính chất pháp lý chính trị. Dựa vào thể chế tự trị


này, triều đình Huế thăng chức Chưởng Cơ cho Po Saong


Nhung Ceng (Nguyễn Văn Chấn theo tài liệu Việt Nam),


một vị tướng lãnh gốc người Chăm đã từng chiến đấu bên


cạnh Nguyễn Ánh ở Gia Định và bổ nhiệm ông ta quyền


cai trị Champa-Panduranga thời đó. Po Saong Nhung Ceng


là người rất trung thành với Nguyễn Ánh, đã từng điều


hành khu vực giải phóng nằm trên lãnh thổ Champa sau


khi Po Ladhvenpughuh qua đời vào năm 1799.


Điều mà người ta thường nêu ra câu hỏi có chăng


việc phục hưng lại vương quốc Champa thời đó, tức là một


quốc gia không còn quyền lực nữa và việc bổ nhiệm một


vị tướng lãnh gốc người Chăm lên làm vị lãnh đạo của


vương quốc này dù có sự đồng ý của hội đồng hoàng gia


Champa đi nữa, chỉ là chiến lược của hoàng đế Gia Long


nhằm đảm bảo nền an ninh trật tự trên khu vực ChampaPanduranga,


rất nổi tiếng là quê hương của những phong


trào vùng dậy đấu tranh chống ngoại xâm. Giả thuyết này


rất có lý đối với tình hình vương quốc Champa thời đó. Sau


khi đã trải qua một thời kỳ phân hóa nghiêm trọng vào


những năm cuối cùng của thế kỷ XVIII, dân tộc Champa


chỉ còn giải pháp là nghĩ đến sự trùng tu lại xứ sở của


mình bị đổ nát và thực hiện giấc mơ phục hưng lại cơ chế


xã hội-chính trị để bảo tồn giá trị truyền thống của quốc


gia này. Cũng nhờ chính sách ưu đãi của Gia Long, vương


quốc Champa đã trải qua một giai đoạn an bình, các biên


niên sử Việt Nam và Chăm không còn nói đến những sự


biến động quân sự cũng như mối bất hòa chính trị nào đã


xảy ra tại vương quốc này, nhất là trong khu vực biên giới


phía tây của Bình Thuận, từ 1802 cho đến 1820.


Sự từ trần của Gia Long vào năm 1820 để nhường


ngôi lại cho hoànng đế Minh Mệnh đã đưa vương quốc


Champa vào một khúc quanh mới (Minh Mệnh Chính Yếu


I-VI, Bản dịch quốc-ngữ, Saigon, 1972-1974). Vừa mới lên


ngôi vào năm 1820, Minh Mệnh bắt đầu áp dụng chính


sách chống lại uy quyền của phó vương Gia Định Thành


tên là Lê Văn Duyệt, một nhân vật rất thân cận với hoàng


đế Gia Long đã từng nắm trong tay mọi quyền hành trên 6


tỉnh miền nam của xứ Việt. Sự tranh chấp giữa Minh


Mệnh và Lê Văn Duyệt đã đưa đẩy Champa vào con


đường rất khó xử, nhất là kể từ năm 1822 khi vua Minh


Mệnh quyết định tách phủ Bình Thuận ra khỏi Gia Định


Thành để sát nhập nó vào quyền chỉ đạo của triều đình


Huế. Đứng trên mặt địa dư, tỉnh Bình Thuận là đơn vị


hành chánh của Việt Nam nằm trên lãnh thổ Champa. Sự


quyết định của Minh Mệnh liên quan đến qui chế của phủ


Bình Thuận cũng là chính sách nhằm tách rời Champa ra


khỏi quyền kiểm soát của Lê Văn Duyệt, một nhà bảo trợ


cho vương quốc này ngay từ buổi ban đầu. Kể từ đó,


Champa đã trở thành một con cờ chính trị mà triều đình


Huế và Gia Định Thành phải tìm cách sử dụng với bất cứ


giá nào đề giải quyết vấn đề nội bộ của Việt Nam giữa


Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt thời đó.


Tình thế chính trị bất ổn ở Gia Định Thành và sự từ


trần của Po Saong Nhung Ceng vào năm 1822 mà biên


niên sử Chăm xem đó như là vị lãnh đạo cuối cùng của


Champa-Panduranga, đã đưa ra bao nghi vấn có chăng


một vương quốc Champa không còn nắm giữ trong tay


định mệnh sống còn của mình, có còn tồn tại như là một


quốc gia có chủ quyền hay không ? Đứng trên khía cạnh


địa dư của Champa mà phân tích, câu trả lời chắc chắn là


không. Nếu nhìn qua bình diện chính trị, thì câu trả lời


càng khó khăn hơn nữa. Thêm vào đó, chính sách của


triều đình Huế nhằm đưa người lên kế vị ngôi vua tại


Champa-Panduranga và phong cách cư xử của Minh Mệnh


đối với những thủ lãnh người Chăm kế thừa vua Po Saong


Nhung Ceng cũng như tên gọi của các chức hàm Việt Nam


mà triều đình Huế dành cho vua chúa Champa thời đó,


càng gây thêm bao nghi ngờ nữa. Bằng chứng cụ thể,


hoàng đế Minh Mệnh xóa bỏ đi qui chế nối ngôi của


Champa theo truyền thống đã có sẵn bằng cách không


chọn vị phụ tá của vua Po Saong Nhung Ceng, tên là Po


Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh), để nối nghiệp ông ta.


Không cần hỏi ý kiến của hội đồng hoàng gia Champa,


Minh Mệnh tự chỉ định một quan chức trong triều đình


Champa thời đó tên là Bait Lang lên nắm chính quyền với


lý do là nhằm bình thường hóa mối liên hệ giữa dân cư


Champa và người Kinh sinh sống tại phủ Bình Thuận. Sự


quyết định của Minh Mệnh về quyền nối ngôi tại Champa


và qui chế của vị tân lãnh tụ này đã gây ra cuộc nổi dậy


tại khu vực có biên giới chung giữa Champa và Gia Định


Thành vào năm 1822 mà người ta cứ nghi ngờ là có sự chỉ


đạo của Lê văn Duyệt. Cũng vì không đủ sức để dẹp tan


cuộc vùng dậy này, vua Champa vừa mới lên ngôi là Bait


Lang bị Minh Mệnh cách chức để thay thế vào đó Po Klăn


Thu (Nguyễn Văn Vĩnh), nhân vật mà hoàng đế Minh


Mệnh đã từ chối trước đó. Nhưng Minh Mệnh không ban


cho Po Klan Thu chức Chưởng Cơ mà triều đình Huế


thường áp dụng cho vua chúa Champa trước kia, mà là


quyền quản lý vương quốc Champa, tức là một nhân vật


chỉ có vai trò điều hành cơ cấu hành chánh mà thôi. Nhờ


sự yểm trợ của triều đình Huế, Po Klan Thu đã thành công


đẩy lui phong trào nổi loạn vào năm 1823 và buộc họ phải


rút về phía tây trong vùng rừng núi của Champa. Nhưng


phải nhờ sự can thiệp trực tiếp của Lê Văn Duyệt mà


phong trào nổi loạn này chấp nhận ngưng chiến. Kể từ đó,


những thành viên của phong trào này không bao giờ tuân


lệnh triều đình Huế nữa, mà chỉ phục tùng oai quyền của


Lê Văn Duyệt, tức là phó vương của Gia Định Thành.


Vào năm 1826, dân tộc Champa vùng dậy một lần


nữa cũng tại biên giới giữa Champa và Gia Định Thành.


Mục tiêu của phong trào này nhằm lên án Po Klan Thu về


tội chỉ biết phục vụ cho nguời Kinh, một tập thể vừa mới


đến định cư nhưng lúc nào cũng tìm cách cướp đoạt đất đai


của người Chăm và phục tùng cho triều đình Huế, một chế


độ chuyên đè bẹp dân chúng Champa để thu hút thuế má.


Và phong trào vùng dậy này còn có mục tiêu khác nữa, đó


là bài trừ người Kinh sinh sống tại Champa và phủ Bình


Thuận, bắt đầu lan tràn đến tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên.


Vì Po Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh) không đủ khả năng


chống lại cuộc nổi dậy này, hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh


cho đoàn quân của triều đình Huế phải dẹp tan cho bằng


được phong trào đấu tranh của dân tộc Champa và bắt


sống vị chỉ huy của tổ chức này vào năm 1827.


Năm 1828, Po Klan Thu qua đời. Phó vương Lê


Văn Duyệt phản đối công khai vị vua Champa kế thừa do


hoàng đế Minh Mệnh đề ra. Vì rằng Lê Văn Duyệt và


Minh Mệnh, mỗi người đều muốn đề cử người cùng phe


phái của mình lên nắm chính quyền Champa thời đó. Sau


cuộc tranh chấp này, Lê Văn Duyệt thành công đưa một


người thân cận của mình lên làm vua Champa vào năm


1828 đó là Po Phauk The (Nguyễn Văn Thừa), tức là con


trai của Po Saong Nhung Ceng và cũng là vị phụ tá của Po


Klan Thu (Po Dharma, Le Panduranga (Campa) 1802-


1835, Ses rapports avec Le Vietnam, I, Paris, Publications


de L'EFEO, Vol. CXLIX, 1987, trg. 105-118). Cho đến


hôm nay, người ta không biết sự chọn lựa này có sự đồng


ý của Minh Mệnh hay không. Và người ta cũng không biết


Po Phauk The có xin hoàng đế Minh Mệnh phong cho ông


ta vương chức hay không? Dù sao đi nữa, Lê Văn Duyệt


đã thành công chiếm lại quyền kiểm soát vương quốc


Champa thời đó và cả phủ Bình Thuận, một đơn vị hành


chánh không còn nằm trong tay của ông ta kể từ năm


1822. Kể từ đó, quan lại và dân chúng Champa hoàn toàn


Ngả về phía Lê Văn Duyệt và vua Champa là Po Phauk


The chỉ nộp thuế cho Gia Định Thành thay vì phải nộp cho


triều đình Huế như trước kia


Sự cáo chung của Champa-Panduranga


Một khi đã ngả về phe của Lê Văn Duyệt, kéo


theo sự cắt đứt mọi mối liên hệ với triều đình Huế, vương


quốc Champa chẳng thu được một mối lợi gì trong chiến


lược liên minh với Lê Văn Duyệt. Theo các tư liệu Chăm


cho biết, Lê Văn Duyệt vẫn đeo đuổi chính sách Việt Nam


Hóa đối với dân tộc Champa mà Minh Mệnh đã từng áp


dụng. Điều này đã giải thích tại sao một số quan lại của


Champa thời đó không chấp nhận chính sách tách rời


Champa ra khỏi quyền kiểm soát của triều đình Huế mà


mối liên hệ đã cấu thành một qui chế chính trị từ lâu.


Chính vì thế, những thành phần quan lại này không đồng


tình với chính sách mà Po Phauk The đang theo đuổi kể từ


cuối năm 1831. Lợi dụng cơ hội quần chúng Champa


không tán thành với chính sách của Lê Văn Duyệt, hoàng


đế Minh Mệnh ra lệnh bắt giam vị thủ lãnh Champa là Po


Phaok The và buộc vương quốc Champa phải nộp cho


triều đình Huế các loại thuế mà Po Phaok The chưa thực


hiện.


Năm 1832, Lê Văn Duyệt từ trần ở Gia Định


Thành. Lợi dụng cơ hội này, hoàng đế Minh Mệnh thu hồi


lại toàn lãnh thổ miền nam của Gia Định Thành, ra lệnh


bắt giam Po Phauk The và trừng phạt vương quốc Champa


về tội phản nghịch dám chống lại oai quyền của ông ta.


Các biên niên sử Việt Nam và Chăm (CAM 30-8) ghi rằng


Minh Mệnh quyết định vào năm 1832 hủy bỏ qui chế tự trị


của Champa, biến thần dân của vương quốc này thành


công dân của quốc gia Việt Nam thống nhất, xóa bỏ danh


xưng Champa trên bản đồ và chia cắt lãnh thổ Champa


thành đơn vị huyện và tổng theo mô hình tổ chức hành


chánh Việt Nam nằm trong hai tỉnh Bình Thuận và Ninh


Thuận.


Kể từ năm 1832, vương quốc Champa không còn


hiện hữu nữa, từ qui chế chính trị cho đến hệ thống tổ chức


kinh tế và xã hội mà bản văn Chăm ngữ CM 30-15 (trg.


116) đã ghi lại như sau:


“Vua chúa bị truất phế. Vương triều thì tiêu tan. Các


bậc đàn em không còn tin vào thế hệ của những người


anh trưởng. Thế hệ đàn cháu cắt đứt các mối quan hệ


gia đình với bậc đàn cậu. Các thành viên xuất thân từ


một gia đình chỉ biết cư xử với nhau như sự cư xử giữa


người Chăm và Kinh, không ngần ngại truy tố gia đình


của mình trước pháp lý. Các quan chức và thần dân


không phân biệt chức vị hay gia tộc, đều phải mặc quần


theo kiểu người Việt. Dân chúng Champa thời đó hết


sức khốn đốn và không biết thế nào là định mệnh của


họ trong tương lai”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »