Champa sau ngày sụp đổ
Một khi Champa bị xóa bỏ trên bản đồ, thần dân của vương quốc này phải gánh chịu bao thống khổ trước sự áp chế của triều đình Huế. Họ phải đóng thuế gấp đôi bằng hiện vật và hiện kim thể theo lời yêu cầu của quan chánh Việt Nam nằm trong hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận.
Kể từ năm 1832, vương quốc Champa không còn hiện hữu nữa, từ qui chế chính trị cho đến hệ thống tổ chức kinh tế và xã hội mà bản văn Chăm ngữ CM 30-15 (trg. 116) đã ghi lại như sau:
“Vua chúa bị truất phế. Vương triều thì tiêu tan. Các
bậc đàn em không còn tin vào thế hệ của những người
anh trưởng. Thế hệ đàn cháu cắt đứt các mối quan hệ
gia đình với bậc đàn cậu. Các thành viên xuất thân từ
một gia đình chỉ biết cư xử với nhau như sự cư xử giữa
người Chăm và Kinh, không ngần ngại truy tố gia đình
của mình trước pháp lý. Các quan chức và thần dân
không phân biệt chức vị hay gia tộc, đều phải mặc quần
theo kiểu người Việt. Dân chúng Champa thời đó hết
sức khốn đốn và không biết thế nào là định mệnh của
họ trong tương lai”.
Champa sau ngày sụp đổ
Một khi Champa bị xóa bỏ trên bản đồ, thần dân
của vương quốc này phải gánh chịu bao thống khổ trước sự
áp chế của triều đình Huế. Họ phải đóng thuế gấp đôi
bằng hiện vật và hiện kim thể theo lời yêu cầu của quan
lại Việt Nam để họ có cơ hội bỏ vào túi riêng. Bên cạnh
sự áp chế về thuế vụ, dân tộc Champa thời đó phải gánh
chịu bao qui chế lao dịch chính thức hay không chính thức,
không có quyền lên tiếng chống lại chính sách tịch thu đất
đai của họ do chính quyền địa phương đề ra. Trước thực
trạng xã hội này, triều đình Huế phải tìm cách giải quyết
vấn đề bằng cách trừng phạt thẳng tay những quan lại
người Kinh đã từng bóc lột dân tộc Champa, như trường
hợp đã xảy ra tại Bình Thuận vào năm 1835 (Đại nam
Thực Lục Chính Biên XVI, Bản dịch quốc ngữ, Hanoi,
1966, trg. 289). Hết đối phó với sự hiếp đáp và thực trạng
thối nát trong giai cấp quan lại của triều đình Huế, dân tộc
Champa còn gánh chịu thêm những sự bóc lột và tước đoạt
tài sản của họ bởi những dân cư người Kinh. Trước thảm
trạng của xã hội đang diễn ra thời đó, rất nhiều người
Chăm buộc phải bỏ rơi thôn xóm để thoát thân ra khỏi thể
chế làm nô lệ cho người Kinh (CM 29-1) bằng cách chạy
lên khu vực cao nguyên ẩn náu hầu chuẩn bị cho các cuộc
vùng dậy trong tương lai.
Năm 1833 đánh dấu những cuộc vùng dậy ở nhiều
nơi trên lãnh thổ Champa bị chiếm đóng. Đáng kể nhất là
cuộc khởi nghĩa trong khu vực Panduranga mang mô hình
tổ chức rất là mới lạ, đặt dưới quyền lãnh đạo của một
người Hồi Giáo gốc Campuchia mà người ta không biết
ông ta là người Mã Lai hay Chăm, mặc dù đã nhiều năm
cư trú tại Makah, tức là tiểu bang Kelantan, Mã Lai hôm
nay. Lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa này là một vị cả sư
Katip (chức sắc Hồi Giáo) tên là Sumat. Sau khi thành lập
xong mật khu trong vùng Đồng Nai, Katip Sumat tập họp
xung quanh ông ta những thành viên người Chăm và người
Tây Nguyên tình nguyện gia nhập phong trào giải phóng
Champa ra khỏi ách thống trị và sự áp bức của triều đình
Huế. Lợi dụng lòng nhiệt huyết của các thành viên đối với
mục tiêu giải phóng Champa, Katip Sumat, một nhân vật
có tài thuyết phục, đã chuyển hướng tinh thần yêu nước
của họ sang một chủ thuyết mới của cuộc đấu tranh dựa
vào tôn giáo Islam để làm bàn đạp cho mọi dự án giải
phóng Champa. Để thực hiện việc này, ông ta ra lệnh cho
những nhà truyền giáo đi thuyết phục người Churu và
người Raglai cải đạo để theo tín ngưỡng Islam, nhưng
đồng thời cũng buộc những người Chăm Bani (tức là Islam
không chính thống) cũng phải theo truyền thống và nghi lễ
của Islam chính thống. Sự hiện diện của Katip Sumat
nhằm tuyên truyền cho giáo lý Islam trên lãnh thổ
Champa bị chiếm đóng hoàn toàn đi ngược với chính sách
bài đạo của Minh Mệnh, vì nó sẽ gây ra phương hại đến ý
thức hệ đoàn kết dân tộc trong một quốc gia Việt Nam đa
chủng tộc thời đó. Chính vì thế mà hoàng đế Minh Mệnh
phải có một thái độ cứng rắn đối với phong trào Islam này
(CAM 167-6).
Để trả lời cho chính sách bài đạo của Minh Mệnh,
Katip Sumat ra lệnh cho đoàn quân của mình vùng dậy
chống lại triều đình Huế về tội phỉ báng Islam và Thượng
Đế Allah. Sau đó ông đứng ra hô hào cho cuộc thánh chiến
(jihad) chống Việt Nam nhằm giải phóng Champa và hứa
hẹn với đoàn quân thánh chiến rằng Thượng Đế Allah và
sức mạnh pháp thuật của riêng ông sẽ giúp cho đoàn quân
đạt mọi chiến thắng. Cuộc nổi dậy này có một tầm ảnh
hưởng rất quan trọng, bởi vì triều đình Huế buộc phải gởi
thêm đoàn quân để tiếp viện và trang bị vũ khí cho những
người Kinh sinh sống ở Bình Thuận để họ tham gia trực
tiếp vào cuộc chiến. Trong lúc dân cư người Kinh giữ vai
trò bao vây các thôn làng người Chăm dù họ có tham gia
với Katip Sumat hay không, quân đội chính qui của Minh
Mệnh khởi đầu tấn công mật khu của phong trào nổi loạn.
Vì nhận thấy không có thần linh hay sức mạnh thần kỳ nào
đến trợ giúp, đoàn quân của Katip mất hết nhiệt tâm và bị
đánh tan vào năm sau năm 1833, bắt buộc phải lẫn trốn
trong vùng rừng núi mà người ta không biết thế nào là số
mệnh của những người còn sống sót. Kể từ đó, không có
một tài liệu nào còn đề cập đến Katip Sumat nữa.
Trước cuộc thất bại này, dân tộc Champa thời đó
vẫn còn giữ niềm tin vào những cuộc đấu tranh kế tiếp.
Họ chỉ qui tội cho Katib Sumat đã chọn lựa sai lầm mục
tiêu. Vì cuộc thánh chiến của ông chống lại triều đình Huế
không thể thu hút đông đảo thành viên so với các cuộc nổi
dậy khác đã diễn ra. Sau ngày thất bại của Katip Sumat,
một ông cả sư người Chăm Bani tên là Ja Thak Wa hay là
ông Biện Sư theo tư liệu Việt Nam, dựa vào bối cảnh của
xã hội Chăm đang chịu bao cam khổ dưới quyền thống trị
của người Kinh thời đó, đứng ra kêu gọi tất cả thần dân
Champa, không phân biệt tín ngưỡng và chủng tộc, phải
gia nhập vào phong trào của ông ta nhằm giải phóng
vương quốc này ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế.
Vào năm 1834, sau khi triệu tập một hội đồng trong khu
vực miền núi nằm về phía tây của tỉnh Ninh Thuận, Katip
Ja Thak Wa đề nghị tái lập lại quốc vương Champa, bầu
luôn một vị hoàng tử kế thừa và đề cử thêm một thủ lãnh
quân sự, cấu thành một hội đồng nội các Champa mà ông
ta muốn phục hưng lại nền độc lập. Hội đồng này đã đồng
ý đưa một nhân vật gốc dân tộc Raglai, tức là em rể của
vua Po Phoak The lên làm quốc trưởng Champa. Theo Đại
Nam Thực Lục Chính Biên XVI (Hanoi, 1966), Ja Thak Wa
là người đã chỉ định vị vua này. Theo tư liệu Chăm, hoàng
tử Raglai tên là Po Var Palei và biên niên sử Việt Nam gọi
là La Bông. Tiếp đó hội đồng chỉ định một người gốc dân
tộc Churu làm vị hoàng tử thừa kế và một người Chăm tên
Ja Yok Ai làm vị thủ lãnh quân sự.
Cuối năm 1834 đánh dấu cho các cuộc nổi loạn đến
cực điểm của dân tộc Việt trên lãnh thổ Việt Nam kéo
theo sự đe dọa của đoàn quân Xiêm La (Thái Lan) xua
quân quấy phá miền nam Việt Nam. Lợi dụng cơ hội này,
Ja Thak Wa mở rộng những trận tấn công vào các vùng
duyên hải của Ninh Thuận và Bình Thuận (CM 32-6), tiêu
diệt các căn cứ quân sự của triều đình Huế trên lãnh thổ
Champa. Mặc dù Ja Thak Wa có đủ tài năng quân sự
nhưng ông ta không đủ điều kiện để vận động quần chúng
Champa vùng dậy tham gia vào cuộc chiến, vì triều đình
Huế áp dụng một chính sách khủng bố vô cùng dã man
bằng cách ra lệnh hành hạ và tàn sát những thành viên
nào tham gia vào cuộc nổi loạn của Ja Thak Wa. Sau trận
chiến này, Ja Thak Wa rút ra kinh nghiệm rằng mọi sự
thắng lợi của một cuộc vùng dậy chỉ tùy thuộc vào ý thức
hệ đoàn kết đấu tranh của quần chúng Chăm và Thượng,
tức là thần dân của Champa thời trước. Chính vì thế ông ta
truyền lệnh trừng trị nghiêm khắc những ai không theo
chính nghĩa của cuộc cách mạng đặt duới quyền chỉ đạo
của ông ta.
Đầu năm 1835, Ja Thak Wa với đoàn quân của
Churu và Raglai tấn công khu quân sự của Việt Nam nằm
trong vùng duyên hải (CAM 30-17) của Bình Thuận và mở
rộng chiến dịch trừng trị những nguời Chăm nào không gia
nhập phong trào của ông ta (Minh Mệnh Chính Yếu V,
Saigon, 1974, trg. 180). Cuộc tấn công lần này mang lại
một thành công vẻ vang. Kể từ đó, Ja Thak Wa dường như
làm chủ tình hình quân sự trên lãnh thổ Champa bị chiếm
đóng. Truớc biến cố này, triều đình Huế phải gởi những
đoàn quân chính qui sang Champa để tiêu diệt phong trào
nổi loạn và hứa sẽ ban thưởng xứng đáng cho những ai bắt
được hay giết chết một thành viên tham gia phong trào của
Ja Thak Wa. Đồng thời, hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh cho
các quan lại Việt Nam không được quyền hà hiếp và bóc
lột dân chúng Champa nữa để lôi kéo họ hướng về chính
nghĩa của triều đình Huế và ly khai với mặt trận Ja Thak
Wa. Vừa mới khai trương chiến dịch của Minh Mệnh, biên
niên sử Việt Nam cho rằng Po Var Palei, vị quốc vương
Champa gốc Raglai bị giết vào tháng 5 năm 1835 trên bãi
chiến trường trong khi đó Ja Thak Wa thì bị thương gần
Phan Rang và bị quân đội Việt Nam bắt giữ và chặt đầu
ngay sau đó.
Sau ngày từ trần của hai nhà cách mạng này, phong
trào Ja Thak Wa vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng bị dập tắt
đi một cách nhanh chóng và hầu hết những thành viên
tham gia phong trào quyết định đầu hàng để trở về xum
họp với gia đình. Tiếc rằng Minh Mệnh vẫn không khoan
hồng cho họ bằng cách đưa ra chính sách vô cùng tàn bạo
để trừng trị họ. Kể từ giữa năm 1835, Minh Mệnh đã ra
lệnh giết ngay một số thành viên của Ja Thak Wa sau
ngày về chiêu hồi, và một số khác thì bị lưu đày đi nơi
khác hoặc bị bắt để làm nô lệ, chưa nói đến chính sách
truy quét và đốt phá làng mạc của người Chăm. Nhằm
kiểm soát hữu hiệu mọi hành động của người Chăm có
mưu đồ vùng dậy, triều đình Huế ra lệnh chia cắt làng mạc
của họ thành những thôn xóm lẻ loi nằm xen kẻ với thôn
xóm người Kinh. Thêm vào đó, triều đình Huế còn cấm
tuyệt mọi sự liên hệ giữa dân tộc miền núi và người sinh
sống ở đồng bằng hầu không cho phép người Chăm có cơ
hội chạy lên miền thượng du được xem như là khu vực
chiến lược dùng làm căn cứ cho những cuộc nổi loạn
chống lại triều đình Huế.
Vào những năm kế tiếp, các quan lại của triều đình
Huế và nhất là các cư dân người Kinh được sự che chở của
chính quyền địa phương tiếp tục theo đuổi việc bóc lột
người Chăm và biến họ thành một tập thể nô lệ mà các tư
liệu Chăm thời đó thường hay đề cập. Vì không cam chịu
nổi chính sách này, dân tộc Chăm lại vùng dậy một lần
nữa vào cuối thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc, dường như
chỉ giới hạn trong khu vực Phan Rang và Phan Rí mà sử
liệu viết bằng tiếng Chăm (CM 37-29) cho đây là cuộc nổi
dậy chống lại phong trào Bieng Theng, tức là Văn Thân
(Cần Vương). Cuộc vùng dậy này xảy ra vào lúc có sự
hiện diện của người Pháp, đặc biệt nhất là ông E.
Aymonier được bổ nhiệm vào năm 1866 làm công sứ Pháp
của tỉnh Bình Thuận, một khu vực có sự họat động mạnh
mẽ của phong trào Cần Vương (1885-1895).
Sau khi phác họa các cuộc hành quân chống lại
Cần Vương, E. Aymonier đã thành công bình định chỉ
trong vòng 5 tuần lễ những khu vực từ Bình Thuận cho đến
Khánh Hòa (C. Fourniau, Annam-Tonkin 1885-1896.
Lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale,
Paris, L'Harmattan, 1989, trg. 63-67). Cũng vì người Kinh
không ngừng áp bức họ, dân tộc Chăm phải ngã theo phe
ông E. Aymonier để chống lại phong trào Cần Vương. Kể
từ đó, chính quyền Pháp trang bị vũ khí cho các làng mạc
người Chăm, đưa ra chính sách xây dựng lại thôn ấp của
nhóm người thiểu số này và ban cho họ nền tự trị hành
chánh nhằm giúp họ tự giải phóng ra khỏi sự kìm kẹp của
chế độ Việt Nam (CM 60). Kể từ đó, dân tộc Chăm không
còn lo âu đến sự khủng hoảng giữa họ và triều đình Huế
nữa.
Sau cuộc chia đôi Việt Nam thành hai quốc gia có
chủ quyền vào năm 1955, người ta lại chứng kiến thêm
những cuộc vùng dậy tại miền trung Việt Nam. Các phong
trào vùng dậy này không những tập trung những thành
viên gốc người Chăm mà cả người Thượng, nhất là dân tộc
Ê Đê (Rhadé), tức là chủ đất đai của khu vực Tây Nguyên
mà chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã trưng dụng để làm
khu định cư cho những người Việt tị nạn, từ khi miền bắc
bị rơi vào tay của cộng sản. Ngay từ lúc mới đến định cư,
những người Kinh di cư này bắt đầu tước đoạt đất đai của
người Thượng và xem họ như là nhóm người thiếu văn
minh, một thái độ tương tự như nhà Nguyễn đã từng áp
dụng cho người Chăm tại vùng duyên hải vào các thế kỷ
XVII, XVIII và XIX. Để trả lời cho chính sách của chính
quyền Sài Gòn đối với dân tộc thiểu số, những người
Thượng đứng ra tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Người
Thượng (Front de Libération des Montangards - FLM), sau
này là Bajaraka vào năm 1958, một phong trào đấu tranh
để bảo vệ quyền lợi và đòi lại việc trao trả đất đai của họ.
Thay vì giải quyết một cách thích đáng những
nguyện vọng của người Thượng, chính quyền Sài Gòn lại
sử dụng sức mạnh của quyền lực để đối xử với họ càng
ngày càng tệ hơn, khiến một số thành viên của Bajaraka
phải gia nhập vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (FNL)
thân Cộng và một số khác tham gia Mặt Trận Giải Phóng
Champa, sau này là Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên
Champa (Front de Libération du Champa / Front de
Libération des Hauts Plateaux du Champa - FLC/FLHPC),
tức là một trong 3 thành viên của Mặt Trận Thống Nhất
Giải Phóng Dân Tộc Bị Áp Bức (Front Unifié de Lutte des
Races Opprimées) viết tắt là FULRO. Phong trào này đặt
dưới quyền điều hành bởi một vị lãnh tụ có uy tín lớn, đó
là Y Bham Enuôl. Năm 1964, Fulro chiếm tỉnh Darlac
(Đak Lak) và sau đó tìm cách thương thuyết với phính phủ
Sài Gòn để đi đến một thỏa hiệp nhằm bảo đảm sự sống
còn của người Thượng, nhưng bị thất bại (Po Dharma và
Mak Phoeun, Du FLM au FULRO, Paris, Les Indes
Savantes, 2006). Kể từ năm 1968, mặt trận này không còn
sức mạnh quân sự như lúc ban đầu vì có sự nhúng tay của
nước ngoài.
Thay lời kết
Người ta không thể kết thúc một tác phẩm khái
lược về lịch sử Champa mà không nói đến thực trạng dân
số của vương quốc này. Trong quá trình lịch sử, vì có sự
tác động của yếu tố địa dư, dân số Champa ở khu vực
đồng bằng hay cao nguyên cũng không phát triển nhanh
chóng dù thời kỳ Ấn Hóa hay thời kỳ Champa bản địa sau
thế kỷ thứ XV. Đây là một sự thiệt thòi lớn đối với dân tộc
này so với dân tộc láng giềng, nhất là dân tộc Việt, có dân
số gia tăng đều đặn và nhanh chóng hơn.
Trong suốt giai đoạn Ấn Hóa, lãnh thổ và dân số
Champa phát triển rất chậm chạp, mặc dù vương quốc này
chỉ bắt đầu đối phó với Đại Việt vừa mới thoát khỏi ách
thống trị của Trung Hoa để giành chủ quyền độc lập kể từ
thế kỷ thứ X. Thêm vào đó, vua chúa Đại Việt, một khi đã
giành được chiến thắng quân sự trên lãnh thổ Champa,
cũng chưa nghĩ đến chính sách xâm chiếm đất đai của
vương quốc Ấn Hóa này và xua đuổi nhân dân Champa ra
khỏi lãnh thổ bị chiếm đóng để đưa cư dân người Việt đến
thay thế họ. Tiếc rằng chính sách nhân nhượng này không
còn hiệu lực nữa kể từ năm 1471, một khi nhà Lê có khả
năng chiếm toàn bộ lãnh thổ phía bắc của Champa, kéo
theo sự tàn sát hoặc lưu đày nhân dân Champa của vùng
Vijaya (Đồ Bàn) để thay thế vào đó dân cư gốc người
Việt. Chính vì thế, giai đoạn tiến về phía nam của dân tộc
Việt chỉ khởi đầu kể từ thế kỷ thứ XV.
Để đánh dấu cho cuộc Nam Tiến này, nhà Nguyễn
lần lượt xâm chiếm tất cả các đất đai của Champa. Một
khi đã thắng trận, nhà Nguyễn không ngừng áp đặt hệ
thống tổ chức xã hội và chính trị của dân tộc Việt lên trên
dân tộc thua trận, buộc dân tộc này phải nạp thuế vô cùng
nặng nề, biến họ thành tập thể lao dịch khổ sai và đối xử
với họ như những kẻ bần tiện mà các tài liệu viết bằng
tiếng Chăm và biên niên sử Việt Nam đã ghi lại. Chính
sách cai trị của nhà Nguyễn và thái độ của cư dân người
Việt đã làm tàn lụi đi dân số Champa, để rồi hôm nay
người ta chỉ biết có khoảng 40,000 người Chăm vào cuối
thế kỷ XIX. Cũng nhờ sự hiện diện của người Pháp tại
Đông Dương, dân tộc Chăm đã thoát ra khỏi sự diệt chủng.
Vì chính quyền Pháp lúc đó có chính sách rõ ràng hơn
nhằm bảo vệ cho sự sống còn của dân tộc thiểu số, giúp
dân tộc này gia tăng dân số. Chính vì thế, vào giữa thế kỷ
thứ XX, người ta ước lượng có khoảng 60 000 người Chăm
còn hiện diện tại miền duyên hải của miền trung Việt
Nam.
Sau một thời gian yên bình ngắn ngủi này, các dân
tộc thiểu số của miền trung Việt Nam lại bắt đầu chịu bao
thống khổ về chính sách kỳ thị chủng tộc, một khi Ngô
Đình Diệm lên nắm chính quyền vào năm 1955. Nhà lãnh
tụ độc tài này tìm cách áp dụng chương trình đồng hóa dân
tộc Chăm trước tiên. Sau đó Ngô Đình Diệm đưa chính
sách Việt Nam Hóa lên khu vực Tây Nguyên nơi mà người
Kinh chưa quan tâm cho lắm, vì họ cho đây là khu vực độc
hại. Mục tiêu của Ngô Đình Diệm là biến cộng đồng dân
tộc Tây Nguyên thành công dân ngoại lệ của Việt Nam
nhằm làm giảm bớt dân số của họ. Để thực hiện ý đồ này,
Ngô Đình Diệm bắt đầu tước quyền sở hữu đất đai của dân
tộc Tây Nguyên để thành lập những khu định cư dành cho
người Kinh theo công giáo đã ly khai với chế độ cộng sản
ở miền bắc để di cư vào Nam và nhất là giao cho người
Kinh vừa mới định cư quyền thao túng hành hạ và bóc lột
dân Tây Nguyên. Cuộc di dân này rất có lợi cho người
Kinh nhưng bất lợi cho người bản địa. Hiện tượng này
càng ngày càng phát triển sau cuộc chiến thắng của miền
bắc vào năm 1975 và càng gia tăng mạnh mẽ hơn, vì trong
cuộc di dân này còn có sự hiện diện của người Kinh từ các
vùng châu thổ quá đông dân của miền trung và miền bắc
Việt Nam. Chính sách di dân ồ ạt này đã gây ra những
cuộc vùng dậy của dân tộc Tây Nguyên, nhất là các cuộc
nổi dậy vào năm 2001 và 2004, mặc dù các cơ quan tuyên
truyền chính thức của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam phủ nhận những yếu tố này.
Từ một nửa thế kỷ qua, dân tộc Tây Nguyên đang
trải qua một quá trình áp bức tương tự như người Chăm
thuộc miền duyên hải. Người ta cũng đưa ra bao nghi vấn
thế nào là định mệnh của họ trong tương lai và có chăng
họ cũng không thoát khỏi sự diệt chủng trong một thời
gian không xa, giống như định mệnh của nguời Chăm ở
miền duyên hải Việt Nam.
Liên quan đến người Chăm Campuchia, những tư
liệu thống kê chính thức bằng tiếng Khmer thực hiện vào
cuối thế kỷ XX cho thấy có một sự giảm thiểu rất nhiều về
dân số người Chăm tại vương quốc này. Sau cuộc điều tra
cặn kẽ hơn, người ta thấy rằng dân tộc Chăm không biến
mất về mặt nhân chủng, nhưng họ bị thay đổi tên gọi từ
người Chăm thành nhóm Khmer-Islam trong danh sách
chủng tộc của vương quốc khmer.
Những người Chăm tại quốc gia này thường sinh
sống hòa lẫn với những người Mã Lai di cư sang
Campuchia đã từ lâu để rồi từ đó họ trở thành tín đồ Islam
chính thống thuộc giáo phái Sunni. Thêm vào đó, sự phát
triển mạnh mẽ của phong trào Islam bắt đầu từ cuối thế kỷ
XX tại các xứ Hồi Giáo thuộc vùng Tây-Á lan tràn đến
miền Viễn Đông qua trung gian của các nhà truyền giáo từ
Trung Đông, Pakistan và Mã Lai, đã góp phần tích cực
vào cuộc vận động các tín đồ của khu vực Đông Nam Á
hướng về Islam chính thống. Các tổ chức này có mục đích
chinh phục người Chăm phải tôn trọng giáo lý Islam một
cách nghiêm túc và biến họ trở thành một tập thể dựa vào
giáo lý Hồi Giáo để định nghĩa cho bản sắc của dân tộc
mà không cần nghĩ đến di sản văn hóa và lịch sử Champa
của họ nữa. Chiến lược của những tổ chức Hồi Giáo này
cấu thành một mạng lưới đã thành công trong một số
trường hợp khá quan trọng, đó là biến cộng đồng người
Chăm tại Campuchia thành một tập thể quên đi nguồn gốc
và chủng tộc của họ. Hiện tượng này đã gây ra bao nghi
vấn liên quan đến sự sống còn của họ tại Campuchia, một
sắc dân đang gánh chịu bao sự áp lực từ bên ngoài. Tính
năng động của Islam và sự áp lực của một số người Chăm
đã gia nhập vào phong trào canh tân Islam đã khiến người
ta đặt ra bao nghi vấn chừng bao lâu nữa người Chăm tại
vương quốc Campuchia còn duy trì tên gọi người Chăm
của họ trên danh sách của dân tộc thiểu số tại vương quốc
này, chứ không phải là danh sách của những người theo
Hồi Giáo.
Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.
|