tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
14.02.2017
Pièrre-BERNARD Lafont
Champa (tiếp & hết)



Champa sau ngày sụp đổ


Một khi Champa bị xóa bỏ trên bản đồ, thần dân của vương quốc này phải gánh chịu bao thống khổ trước sự áp chế của triều đình Huế. Họ phải đóng thuế gấp đôi bằng hiện vật và hiện kim thể theo lời yêu cầu của quan chánh Việt Nam nằm trong hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận.


Kể từ năm 1832, vương quốc Champa không còn hiện hữu nữa, từ qui chế chính trị cho đến hệ thống tổ chức kinh tế và xã hội mà bản văn Chăm ngữ CM 30-15 (trg. 116) đã ghi lại như sau:


“Vua chúa bị truất phế. Vương triều thì tiêu tan. Các


bậc đàn em không còn tin vào thế hệ của những người


anh trưởng. Thế hệ đàn cháu cắt đứt các mối quan hệ


gia đình với bậc đàn cậu. Các thành viên xuất thân từ


một gia đình chỉ biết cư xử với nhau như sự cư xử giữa


người Chăm và Kinh, không ngần ngại truy tố gia đình


của mình trước pháp lý. Các quan chức và thần dân


không phân biệt chức vị hay gia tộc, đều phải mặc quần


theo kiểu người Việt. Dân chúng Champa thời đó hết


sức khốn đốn và không biết thế nào là định mệnh của


họ trong tương lai”.


Champa sau ngày sụp đổ


Một khi Champa bị xóa bỏ trên bản đồ, thần dân


của vương quốc này phải gánh chịu bao thống khổ trước sự


áp chế của triều đình Huế. Họ phải đóng thuế gấp đôi


bằng hiện vật và hiện kim thể theo lời yêu cầu của quan


lại Việt Nam để họ có cơ hội bỏ vào túi riêng. Bên cạnh


sự áp chế về thuế vụ, dân tộc Champa thời đó phải gánh


chịu bao qui chế lao dịch chính thức hay không chính thức,


không có quyền lên tiếng chống lại chính sách tịch thu đất


đai của họ do chính quyền địa phương đề ra. Trước thực


trạng xã hội này, triều đình Huế phải tìm cách giải quyết


vấn đề bằng cách trừng phạt thẳng tay những quan lại


người Kinh đã từng bóc lột dân tộc Champa, như trường


hợp đã xảy ra tại Bình Thuận vào năm 1835 (Đại nam


Thực Lục Chính Biên XVI, Bản dịch quốc ngữ, Hanoi,


1966, trg. 289). Hết đối phó với sự hiếp đáp và thực trạng


thối nát trong giai cấp quan lại của triều đình Huế, dân tộc


Champa còn gánh chịu thêm những sự bóc lột và tước đoạt


tài sản của họ bởi những dân cư người Kinh. Trước thảm


trạng của xã hội đang diễn ra thời đó, rất nhiều người


Chăm buộc phải bỏ rơi thôn xóm để thoát thân ra khỏi thể


chế làm nô lệ cho người Kinh (CM 29-1) bằng cách chạy


lên khu vực cao nguyên ẩn náu hầu chuẩn bị cho các cuộc


vùng dậy trong tương lai.


Năm 1833 đánh dấu những cuộc vùng dậy ở nhiều


nơi trên lãnh thổ Champa bị chiếm đóng. Đáng kể nhất là


cuộc khởi nghĩa trong khu vực Panduranga mang mô hình


tổ chức rất là mới lạ, đặt dưới quyền lãnh đạo của một


người Hồi Giáo gốc Campuchia mà người ta không biết


ông ta là người Mã Lai hay Chăm, mặc dù đã nhiều năm


cư trú tại Makah, tức là tiểu bang Kelantan, Mã Lai hôm


nay. Lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa này là một vị cả sư


Katip (chức sắc Hồi Giáo) tên là Sumat. Sau khi thành lập


xong mật khu trong vùng Đồng Nai, Katip Sumat tập họp


xung quanh ông ta những thành viên người Chăm và người


Tây Nguyên tình nguyện gia nhập phong trào giải phóng


Champa ra khỏi ách thống trị và sự áp bức của triều đình


Huế. Lợi dụng lòng nhiệt huyết của các thành viên đối với


mục tiêu giải phóng Champa, Katip Sumat, một nhân vật


có tài thuyết phục, đã chuyển hướng tinh thần yêu nước


của họ sang một chủ thuyết mới của cuộc đấu tranh dựa


vào tôn giáo Islam để làm bàn đạp cho mọi dự án giải


phóng Champa. Để thực hiện việc này, ông ta ra lệnh cho


những nhà truyền giáo đi thuyết phục người Churu và


người Raglai cải đạo để theo tín ngưỡng Islam, nhưng


đồng thời cũng buộc những người Chăm Bani (tức là Islam


không chính thống) cũng phải theo truyền thống và nghi lễ


của Islam chính thống. Sự hiện diện của Katip Sumat


nhằm tuyên truyền cho giáo lý Islam trên lãnh thổ


Champa bị chiếm đóng hoàn toàn đi ngược với chính sách


bài đạo của Minh Mệnh, vì nó sẽ gây ra phương hại đến ý


thức hệ đoàn kết dân tộc trong một quốc gia Việt Nam đa


chủng tộc thời đó. Chính vì thế mà hoàng đế Minh Mệnh


phải có một thái độ cứng rắn đối với phong trào Islam này


(CAM 167-6).


Để trả lời cho chính sách bài đạo của Minh Mệnh,


Katip Sumat ra lệnh cho đoàn quân của mình vùng dậy


chống lại triều đình Huế về tội phỉ báng Islam và Thượng


Đế Allah. Sau đó ông đứng ra hô hào cho cuộc thánh chiến


(jihad) chống Việt Nam nhằm giải phóng Champa và hứa


hẹn với đoàn quân thánh chiến rằng Thượng Đế Allah và


sức mạnh pháp thuật của riêng ông sẽ giúp cho đoàn quân


đạt mọi chiến thắng. Cuộc nổi dậy này có một tầm ảnh


hưởng rất quan trọng, bởi vì triều đình Huế buộc phải gởi


thêm đoàn quân để tiếp viện và trang bị vũ khí cho những


người Kinh sinh sống ở Bình Thuận để họ tham gia trực


tiếp vào cuộc chiến. Trong lúc dân cư người Kinh giữ vai


trò bao vây các thôn làng người Chăm dù họ có tham gia


với Katip Sumat hay không, quân đội chính qui của Minh


Mệnh khởi đầu tấn công mật khu của phong trào nổi loạn.


Vì nhận thấy không có thần linh hay sức mạnh thần kỳ nào


đến trợ giúp, đoàn quân của Katip mất hết nhiệt tâm và bị


đánh tan vào năm sau năm 1833, bắt buộc phải lẫn trốn


trong vùng rừng núi mà người ta không biết thế nào là số


mệnh của những người còn sống sót. Kể từ đó, không có


một tài liệu nào còn đề cập đến Katip Sumat nữa.


Trước cuộc thất bại này, dân tộc Champa thời đó


vẫn còn giữ niềm tin vào những cuộc đấu tranh kế tiếp.


Họ chỉ qui tội cho Katib Sumat đã chọn lựa sai lầm mục


tiêu. Vì cuộc thánh chiến của ông chống lại triều đình Huế


không thể thu hút đông đảo thành viên so với các cuộc nổi


dậy khác đã diễn ra. Sau ngày thất bại của Katip Sumat,


một ông cả sư người Chăm Bani tên là Ja Thak Wa hay là


ông Biện Sư theo tư liệu Việt Nam, dựa vào bối cảnh của


xã hội Chăm đang chịu bao cam khổ dưới quyền thống trị


của người Kinh thời đó, đứng ra kêu gọi tất cả thần dân


Champa, không phân biệt tín ngưỡng và chủng tộc, phải


gia nhập vào phong trào của ông ta nhằm giải phóng


vương quốc này ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế.


Vào năm 1834, sau khi triệu tập một hội đồng trong khu


vực miền núi nằm về phía tây của tỉnh Ninh Thuận, Katip


Ja Thak Wa đề nghị tái lập lại quốc vương Champa, bầu


luôn một vị hoàng tử kế thừa và đề cử thêm một thủ lãnh


quân sự, cấu thành một hội đồng nội các Champa mà ông


ta muốn phục hưng lại nền độc lập. Hội đồng này đã đồng


ý đưa một nhân vật gốc dân tộc Raglai, tức là em rể của


vua Po Phoak The lên làm quốc trưởng Champa. Theo Đại


Nam Thực Lục Chính Biên XVI (Hanoi, 1966), Ja Thak Wa


là người đã chỉ định vị vua này. Theo tư liệu Chăm, hoàng


tử Raglai tên là Po Var Palei và biên niên sử Việt Nam gọi


là La Bông. Tiếp đó hội đồng chỉ định một người gốc dân


tộc Churu làm vị hoàng tử thừa kế và một người Chăm tên


Ja Yok Ai làm vị thủ lãnh quân sự.


Cuối năm 1834 đánh dấu cho các cuộc nổi loạn đến


cực điểm của dân tộc Việt trên lãnh thổ Việt Nam kéo


theo sự đe dọa của đoàn quân Xiêm La (Thái Lan) xua


quân quấy phá miền nam Việt Nam. Lợi dụng cơ hội này,


Ja Thak Wa mở rộng những trận tấn công vào các vùng


duyên hải của Ninh Thuận và Bình Thuận (CM 32-6), tiêu


diệt các căn cứ quân sự của triều đình Huế trên lãnh thổ


Champa. Mặc dù Ja Thak Wa có đủ tài năng quân sự


nhưng ông ta không đủ điều kiện để vận động quần chúng


Champa vùng dậy tham gia vào cuộc chiến, vì triều đình


Huế áp dụng một chính sách khủng bố vô cùng dã man


bằng cách ra lệnh hành hạ và tàn sát những thành viên


nào tham gia vào cuộc nổi loạn của Ja Thak Wa. Sau trận


chiến này, Ja Thak Wa rút ra kinh nghiệm rằng mọi sự


thắng lợi của một cuộc vùng dậy chỉ tùy thuộc vào ý thức


hệ đoàn kết đấu tranh của quần chúng Chăm và Thượng,


tức là thần dân của Champa thời trước. Chính vì thế ông ta


truyền lệnh trừng trị nghiêm khắc những ai không theo


chính nghĩa của cuộc cách mạng đặt duới quyền chỉ đạo


của ông ta.


Đầu năm 1835, Ja Thak Wa với đoàn quân của


Churu và Raglai tấn công khu quân sự của Việt Nam nằm


trong vùng duyên hải (CAM 30-17) của Bình Thuận và mở


rộng chiến dịch trừng trị những nguời Chăm nào không gia


nhập phong trào của ông ta (Minh Mệnh Chính Yếu V,


Saigon, 1974, trg. 180). Cuộc tấn công lần này mang lại


một thành công vẻ vang. Kể từ đó, Ja Thak Wa dường như


làm chủ tình hình quân sự trên lãnh thổ Champa bị chiếm


đóng. Truớc biến cố này, triều đình Huế phải gởi những


đoàn quân chính qui sang Champa để tiêu diệt phong trào


nổi loạn và hứa sẽ ban thưởng xứng đáng cho những ai bắt


được hay giết chết một thành viên tham gia phong trào của


Ja Thak Wa. Đồng thời, hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh cho


các quan lại Việt Nam không được quyền hà hiếp và bóc


lột dân chúng Champa nữa để lôi kéo họ hướng về chính


nghĩa của triều đình Huế và ly khai với mặt trận Ja Thak


Wa. Vừa mới khai trương chiến dịch của Minh Mệnh, biên


niên sử Việt Nam cho rằng Po Var Palei, vị quốc vương


Champa gốc Raglai bị giết vào tháng 5 năm 1835 trên bãi


chiến trường trong khi đó Ja Thak Wa thì bị thương gần


Phan Rang và bị quân đội Việt Nam bắt giữ và chặt đầu


ngay sau đó.


Sau ngày từ trần của hai nhà cách mạng này, phong


trào Ja Thak Wa vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng bị dập tắt


đi một cách nhanh chóng và hầu hết những thành viên


tham gia phong trào quyết định đầu hàng để trở về xum


họp với gia đình. Tiếc rằng Minh Mệnh vẫn không khoan


hồng cho họ bằng cách đưa ra chính sách vô cùng tàn bạo


để trừng trị họ. Kể từ giữa năm 1835, Minh Mệnh đã ra


lệnh giết ngay một số thành viên của Ja Thak Wa sau


ngày về chiêu hồi, và một số khác thì bị lưu đày đi nơi


khác hoặc bị bắt để làm nô lệ, chưa nói đến chính sách


truy quét và đốt phá làng mạc của người Chăm. Nhằm


kiểm soát hữu hiệu mọi hành động của người Chăm có


mưu đồ vùng dậy, triều đình Huế ra lệnh chia cắt làng mạc


của họ thành những thôn xóm lẻ loi nằm xen kẻ với thôn


xóm người Kinh. Thêm vào đó, triều đình Huế còn cấm


tuyệt mọi sự liên hệ giữa dân tộc miền núi và người sinh


sống ở đồng bằng hầu không cho phép người Chăm có cơ


hội chạy lên miền thượng du được xem như là khu vực


chiến lược dùng làm căn cứ cho những cuộc nổi loạn


chống lại triều đình Huế.


Vào những năm kế tiếp, các quan lại của triều đình


Huế và nhất là các cư dân người Kinh được sự che chở của


chính quyền địa phương tiếp tục theo đuổi việc bóc lột


người Chăm và biến họ thành một tập thể nô lệ mà các tư


liệu Chăm thời đó thường hay đề cập. Vì không cam chịu


nổi chính sách này, dân tộc Chăm lại vùng dậy một lần


nữa vào cuối thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc, dường như


chỉ giới hạn trong khu vực Phan Rang và Phan Rí mà sử


liệu viết bằng tiếng Chăm (CM 37-29) cho đây là cuộc nổi


dậy chống lại phong trào Bieng Theng, tức là Văn Thân


(Cần Vương). Cuộc vùng dậy này xảy ra vào lúc có sự


hiện diện của người Pháp, đặc biệt nhất là ông E.


Aymonier được bổ nhiệm vào năm 1866 làm công sứ Pháp


của tỉnh Bình Thuận, một khu vực có sự họat động mạnh


mẽ của phong trào Cần Vương (1885-1895).


Sau khi phác họa các cuộc hành quân chống lại


Cần Vương, E. Aymonier đã thành công bình định chỉ


trong vòng 5 tuần lễ những khu vực từ Bình Thuận cho đến


Khánh Hòa (C. Fourniau, Annam-Tonkin 1885-1896.


Lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale,


Paris, L'Harmattan, 1989, trg. 63-67). Cũng vì người Kinh


không ngừng áp bức họ, dân tộc Chăm phải ngã theo phe


ông E. Aymonier để chống lại phong trào Cần Vương. Kể


từ đó, chính quyền Pháp trang bị vũ khí cho các làng mạc


người Chăm, đưa ra chính sách xây dựng lại thôn ấp của


nhóm người thiểu số này và ban cho họ nền tự trị hành


chánh nhằm giúp họ tự giải phóng ra khỏi sự kìm kẹp của


chế độ Việt Nam (CM 60). Kể từ đó, dân tộc Chăm không


còn lo âu đến sự khủng hoảng giữa họ và triều đình Huế


nữa.


Sau cuộc chia đôi Việt Nam thành hai quốc gia có


chủ quyền vào năm 1955, người ta lại chứng kiến thêm


những cuộc vùng dậy tại miền trung Việt Nam. Các phong


trào vùng dậy này không những tập trung những thành


viên gốc người Chăm mà cả người Thượng, nhất là dân tộc


Ê Đê (Rhadé), tức là chủ đất đai của khu vực Tây Nguyên


mà chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã trưng dụng để làm


khu định cư cho những người Việt tị nạn, từ khi miền bắc


bị rơi vào tay của cộng sản. Ngay từ lúc mới đến định cư,


những người Kinh di cư này bắt đầu tước đoạt đất đai của


người Thượng và xem họ như là nhóm người thiếu văn


minh, một thái độ tương tự như nhà Nguyễn đã từng áp


dụng cho người Chăm tại vùng duyên hải vào các thế kỷ


XVII, XVIII và XIX. Để trả lời cho chính sách của chính


quyền Sài Gòn đối với dân tộc thiểu số, những người


Thượng đứng ra tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Người


Thượng (Front de Libération des Montangards - FLM), sau


này là Bajaraka vào năm 1958, một phong trào đấu tranh


để bảo vệ quyền lợi và đòi lại việc trao trả đất đai của họ.


Thay vì giải quyết một cách thích đáng những


nguyện vọng của người Thượng, chính quyền Sài Gòn lại


sử dụng sức mạnh của quyền lực để đối xử với họ càng


ngày càng tệ hơn, khiến một số thành viên của Bajaraka


phải gia nhập vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (FNL)


thân Cộng và một số khác tham gia Mặt Trận Giải Phóng


Champa, sau này là Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên


Champa (Front de Libération du Champa / Front de


Libération des Hauts Plateaux du Champa - FLC/FLHPC),


tức là một trong 3 thành viên của Mặt Trận Thống Nhất


Giải Phóng Dân Tộc Bị Áp Bức (Front Unifié de Lutte des


Races Opprimées) viết tắt là FULRO. Phong trào này đặt


dưới quyền điều hành bởi một vị lãnh tụ có uy tín lớn, đó


là Y Bham Enuôl. Năm 1964, Fulro chiếm tỉnh Darlac


(Đak Lak) và sau đó tìm cách thương thuyết với phính phủ


Sài Gòn để đi đến một thỏa hiệp nhằm bảo đảm sự sống


còn của người Thượng, nhưng bị thất bại (Po Dharma và


Mak Phoeun, Du FLM au FULRO, Paris, Les Indes


Savantes, 2006). Kể từ năm 1968, mặt trận này không còn


sức mạnh quân sự như lúc ban đầu vì có sự nhúng tay của


nước ngoài.


Thay lời kết


Người ta không thể kết thúc một tác phẩm khái


lược về lịch sử Champa mà không nói đến thực trạng dân


số của vương quốc này. Trong quá trình lịch sử, vì có sự


tác động của yếu tố địa dư, dân số Champa ở khu vực


đồng bằng hay cao nguyên cũng không phát triển nhanh


chóng dù thời kỳ Ấn Hóa hay thời kỳ Champa bản địa sau


thế kỷ thứ XV. Đây là một sự thiệt thòi lớn đối với dân tộc


này so với dân tộc láng giềng, nhất là dân tộc Việt, có dân


số gia tăng đều đặn và nhanh chóng hơn.


Trong suốt giai đoạn Ấn Hóa, lãnh thổ và dân số


Champa phát triển rất chậm chạp, mặc dù vương quốc này


chỉ bắt đầu đối phó với Đại Việt vừa mới thoát khỏi ách


thống trị của Trung Hoa để giành chủ quyền độc lập kể từ


thế kỷ thứ X. Thêm vào đó, vua chúa Đại Việt, một khi đã


giành được chiến thắng quân sự trên lãnh thổ Champa,


cũng chưa nghĩ đến chính sách xâm chiếm đất đai của


vương quốc Ấn Hóa này và xua đuổi nhân dân Champa ra


khỏi lãnh thổ bị chiếm đóng để đưa cư dân người Việt đến


thay thế họ. Tiếc rằng chính sách nhân nhượng này không


còn hiệu lực nữa kể từ năm 1471, một khi nhà Lê có khả


năng chiếm toàn bộ lãnh thổ phía bắc của Champa, kéo


theo sự tàn sát hoặc lưu đày nhân dân Champa của vùng


Vijaya (Đồ Bàn) để thay thế vào đó dân cư gốc người


Việt. Chính vì thế, giai đoạn tiến về phía nam của dân tộc


Việt chỉ khởi đầu kể từ thế kỷ thứ XV.


Để đánh dấu cho cuộc Nam Tiến này, nhà Nguyễn


lần lượt xâm chiếm tất cả các đất đai của Champa. Một


khi đã thắng trận, nhà Nguyễn không ngừng áp đặt hệ


thống tổ chức xã hội và chính trị của dân tộc Việt lên trên


dân tộc thua trận, buộc dân tộc này phải nạp thuế vô cùng


nặng nề, biến họ thành tập thể lao dịch khổ sai và đối xử


với họ như những kẻ bần tiện mà các tài liệu viết bằng


tiếng Chăm và biên niên sử Việt Nam đã ghi lại. Chính


sách cai trị của nhà Nguyễn và thái độ của cư dân người


Việt đã làm tàn lụi đi dân số Champa, để rồi hôm nay


người ta chỉ biết có khoảng 40,000 người Chăm vào cuối


thế kỷ XIX. Cũng nhờ sự hiện diện của người Pháp tại


Đông Dương, dân tộc Chăm đã thoát ra khỏi sự diệt chủng.


Vì chính quyền Pháp lúc đó có chính sách rõ ràng hơn


nhằm bảo vệ cho sự sống còn của dân tộc thiểu số, giúp


dân tộc này gia tăng dân số. Chính vì thế, vào giữa thế kỷ


thứ XX, người ta ước lượng có khoảng 60 000 người Chăm


còn hiện diện tại miền duyên hải của miền trung Việt


Nam.


Sau một thời gian yên bình ngắn ngủi này, các dân


tộc thiểu số của miền trung Việt Nam lại bắt đầu chịu bao


thống khổ về chính sách kỳ thị chủng tộc, một khi Ngô


Đình Diệm lên nắm chính quyền vào năm 1955. Nhà lãnh


tụ độc tài này tìm cách áp dụng chương trình đồng hóa dân


tộc Chăm trước tiên. Sau đó Ngô Đình Diệm đưa chính


sách Việt Nam Hóa lên khu vực Tây Nguyên nơi mà người


Kinh chưa quan tâm cho lắm, vì họ cho đây là khu vực độc


hại. Mục tiêu của Ngô Đình Diệm là biến cộng đồng dân


tộc Tây Nguyên thành công dân ngoại lệ của Việt Nam


nhằm làm giảm bớt dân số của họ. Để thực hiện ý đồ này,


Ngô Đình Diệm bắt đầu tước quyền sở hữu đất đai của dân


tộc Tây Nguyên để thành lập những khu định cư dành cho


người Kinh theo công giáo đã ly khai với chế độ cộng sản


ở miền bắc để di cư vào Nam và nhất là giao cho người


Kinh vừa mới định cư quyền thao túng hành hạ và bóc lột


dân Tây Nguyên. Cuộc di dân này rất có lợi cho người


Kinh nhưng bất lợi cho người bản địa. Hiện tượng này


càng ngày càng phát triển sau cuộc chiến thắng của miền


bắc vào năm 1975 và càng gia tăng mạnh mẽ hơn, vì trong


cuộc di dân này còn có sự hiện diện của người Kinh từ các


vùng châu thổ quá đông dân của miền trung và miền bắc


Việt Nam. Chính sách di dân ồ ạt này đã gây ra những


cuộc vùng dậy của dân tộc Tây Nguyên, nhất là các cuộc


nổi dậy vào năm 2001 và 2004, mặc dù các cơ quan tuyên


truyền chính thức của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt


Nam phủ nhận những yếu tố này.


Từ một nửa thế kỷ qua, dân tộc Tây Nguyên đang


trải qua một quá trình áp bức tương tự như người Chăm


thuộc miền duyên hải. Người ta cũng đưa ra bao nghi vấn


thế nào là định mệnh của họ trong tương lai và có chăng


họ cũng không thoát khỏi sự diệt chủng trong một thời


gian không xa, giống như định mệnh của nguời Chăm ở


miền duyên hải Việt Nam.


Liên quan đến người Chăm Campuchia, những tư


liệu thống kê chính thức bằng tiếng Khmer thực hiện vào


cuối thế kỷ XX cho thấy có một sự giảm thiểu rất nhiều về


dân số người Chăm tại vương quốc này. Sau cuộc điều tra


cặn kẽ hơn, người ta thấy rằng dân tộc Chăm không biến


mất về mặt nhân chủng, nhưng họ bị thay đổi tên gọi từ


người Chăm thành nhóm Khmer-Islam trong danh sách


chủng tộc của vương quốc khmer.


Những người Chăm tại quốc gia này thường sinh


sống hòa lẫn với những người Mã Lai di cư sang


Campuchia đã từ lâu để rồi từ đó họ trở thành tín đồ Islam


chính thống thuộc giáo phái Sunni. Thêm vào đó, sự phát


triển mạnh mẽ của phong trào Islam bắt đầu từ cuối thế kỷ


XX tại các xứ Hồi Giáo thuộc vùng Tây-Á lan tràn đến


miền Viễn Đông qua trung gian của các nhà truyền giáo từ


Trung Đông, Pakistan và Mã Lai, đã góp phần tích cực


vào cuộc vận động các tín đồ của khu vực Đông Nam Á


hướng về Islam chính thống. Các tổ chức này có mục đích


chinh phục người Chăm phải tôn trọng giáo lý Islam một


cách nghiêm túc và biến họ trở thành một tập thể dựa vào


giáo lý Hồi Giáo để định nghĩa cho bản sắc của dân tộc


mà không cần nghĩ đến di sản văn hóa và lịch sử Champa


của họ nữa. Chiến lược của những tổ chức Hồi Giáo này


cấu thành một mạng lưới đã thành công trong một số


trường hợp khá quan trọng, đó là biến cộng đồng người


Chăm tại Campuchia thành một tập thể quên đi nguồn gốc


và chủng tộc của họ. Hiện tượng này đã gây ra bao nghi


vấn liên quan đến sự sống còn của họ tại Campuchia, một


sắc dân đang gánh chịu bao sự áp lực từ bên ngoài. Tính


năng động của Islam và sự áp lực của một số người Chăm


đã gia nhập vào phong trào canh tân Islam đã khiến người


ta đặt ra bao nghi vấn chừng bao lâu nữa người Chăm tại


vương quốc Campuchia còn duy trì tên gọi người Chăm


của họ trên danh sách của dân tộc thiểu số tại vương quốc


này, chứ không phải là danh sách của những người theo


Hồi Giáo.


Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »