tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
27.05.2018
Vương Trọng
Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay (1)


ĐỐ KIỀU CÓ LẮM ĐIỀU HAY


        Trong lịch sử văn học Việt Nam, không có một tác phẩm nào có tính phổ cập rộng lớn như "Truyện Kiều" của Đại thi hào Nguyễn Du. Không thể thống kê hết số người thuộc toàn bộ 3254 câu, và khó tìm được một người dân Việt Nam mà không thuộc một vài đoạn, một vài câu Kiều. Thế kỷ này qua thế kỷ khác, dân ta mê rồi nghĩ ra các cách thưởng thức "Truyện Kiều". Nếu như Vịnh Kiều, Bình Kiều là công việc của giới nhà Nho, trí thức, thì Ngâm Kiều, Lẩy Kiều, Bói Kiều... và đặc biệt là Đố Kiều được quần chúng bình dân tham gia rộng rãi.


    Đố Kiều là một trò chơi văn nghệ dân gian dưới hình thức đối đáp, nghĩa là một bên hỏi, một bên trả lời, mỗi bên thường là một nhóm, một đội...Có điều đặc biệt là khi chơi trò Đố Kiều, cả người ra đố và giải đố thường dùng thơ, chủ yếu là thể lục bát, để chuyển tải ý của mình. Trò chơi Đố Kiều xẩy ra nhiều nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng ở vùng quê Nghệ Tĩnh trước đây chủ yếu diễn ra trong các cuộc hát Phường vải. Hát Phường vải là hình thức hát đối đáp gồm hai nhóm người, một bên là các cô gái địa phương ngồi quay xa dệt vải, một bên là các chàng trai tứ chiếng tụ tập lại. Nội dung hát đố, giải trong hát Phường vải gồm nhiều đề tài khác nhau, nhưng Đố Kiều luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng. Điều khó của người giải đố là sau khi nghe đố xong, chỉ một thời gian thật ngắn phải có lời đáp. Bởi vậy trò chơi này đòi hỏi những người tham gia không những thuộc, hiểu "Truyện Kiều", mà phải có phản ứng nhanh trong việc diễn tả ý của mình dưới thể thơ lục bát, đồng thời cần có giọng ngâm, giọng hát hay. Sự thật khó tìm được một người toàn tài như vậy, mà trong các bên dự thi Đố Kiều phải phân công nhau, để cho từng người thể hiện sở trường của mình. Thông thường trong thành viên mỗi đội, ngoài số nam thanh nữ tú ra, mỗi bên còn mời một vài người không phân biệt tuổi tác, thường là cụ đồ Nho hoặc cậu tú, cậu cử...thông thuộc "Truyện Kiều", gánh vác nhiệm vụ mách lời, các chàng trai, cô gái tốt giọng có khi chỉ là người "phát ngôn"!


  Nội dung đầu tiên các câu hát Đố Kiều quan tâm là thử thách sự thông thuộc, hiểu biết của người giải đố về "Truyện Kiều". Loại câu đó ấy thường ngắn gọn buộc người giải đố phải tìm một câu, một đoạn nào đó có ý theo yêu cầu của người đố. Có khi bản thân câu đố không khó nhưng vì phải trả lời ngay nên đến cả những nhà "Kiều học" cũng phải lúng túng. Sau đây là một số ví dụ.


            Đố:        "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng


                          Chỗ nào tơ liễu mà không buông mành?


        Ở câu này, người ra đố đi từ nhận xét rằng, không ai mê Truyện Kiều mà không thuộc câu "Lơ thơ tơ liễu buông mành/ Con oanh học nói trên cành mỉa mai", nên hễ nhắc hai chữ tơ liễu là thế nào buông mành cũng hiện lên. Vả lại, trong "Truyện Kiều" có rất nhiều từ liễu, từ tơ nhưng tơ liễu thì chỉ xuất hiện ba lần, "tơ liễu mà không buông mành" chỉ có hai lời giải:                


Dưới cầu nước chảy trong veo


Trên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha!


Và:    Chừng xuân tơ liễu còn xanh


          Nghĩ mình chưa thoát khỏi vành ái ân.


Trong trò chơi đố Kiều, loại câu đố mà lời giải là một câu Kiều là rất phổ biến:


          Đố:  "Truyện Kiều" anh đã thuộc làu


                  Đố anh kể được một câu năm người?


          Giải: "Này chồng, này mẹ, này cha


                   Này là em ruột, này là em dâu"!


          Đố:  "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng


                  Đố anh đọc được một dòng toàn Nho?


         Giải: "Hồ công quyết kế thừa cơ


                 Lễ tiên, binh hậu khắc cờ tập công"!...


    Nhưng có nhiều câu đố đòi hỏi lời giải không phải là một câu Kiều, mà là sự tổng hợp của những câu, những đoạn khác nhau. Cái khó của lời giải loại này là không chỉ thống kê các câu Kiều, mà phải xử lý vần để lời giải là một đoạn thơ:


       Đố:   Nàng Kiều lưu lạc gian truân


               Với người tình, đã mấy lần chia tay?


      Giải:


              "Dùng dằng một bước một xa"


               Chia tay Kim Trọng châu sa đẫm ngày


              "Chén đưa nhớ buổi hôm nay" 


               Chia tay chàng Thúc hẹn ngày năm sau


               "Đành rằng chờ đó ít lâu"


               Chia tay Từ Hải, lòng đau nhớ nhà


               Chiếc thân bèo nổi, sóng sa


               Ba lần ly biệt xót xa, tội tình!


  Cũng có khi người ra đố không chỉ dùng một vài lời ngắn gọn, mà dùng nhiều câu dắt dẫn, đưa đẩy để giới thiệu mình hoặc để tỏ tình, trước khi vào nội dung cần đố:


       Nữ:


 "Trăm năm tính cuộc vuông tròn


Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông"


Phải đâu mèo mả, gà đồng


Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau:


"Ba quân chỉ ngọn cờ đào


Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"


Thế còn một đạo làm chi?


Trai anh hùng giải được, gái nữ nhi chịu tài.


      Nam:


Vì ai chiếc lá lìa cành


Khi săn như chỉ, khi mành như tơ


Trót công rày đợi mai chờ


"Phải người trăng gió vật vờ hay sao"


"Ba quân chỉ ngọn cờ đào


Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"


Ắt còn một đạo binh uy


Ở nhà giữ chốn biên thuỳ cho nghiêm


Anh hùng tỏ với thuyền quyên


"Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng"!


      Trong loại câu đố này, người ra đố và giải đố dùng những câu Kiều nguyên vẹn hoặc lẩy Kiều để chuyển tải ý mình, và hình như đây không chỉ là đố giải Kiều mà là còn là đối đáp tỏ tình. Một đặc điểm cũng cần lưu ý, là cả người đố và giải đều đùa với ngôn ngữ trong Truyện Kiều, cụ thể ở đây là chữ Ba quân. Họ đều thừa hiểu rằng ba quân là tiếng chỉ quân đội nói chung, thế mà giả vờ như không hiểu để mà đố, mà giải! Chúng ta biết rằng, trong các câu đố về Truyện Kiều, những câu đố vui đùa theo kiểu chơi chữ chiếm một tỷ lệ rất lớn. Loại câu đố này chỉ mượn "Truyện Kiều" để mang lại tiếng cười sảng khoái như nghe chuyện tiếu lâm. Đó là "Truyện Kiều" của những người thích đùa"!


          Hỏi:  Tiện đây hỏi một hai điều


         Thiếp tôi chưa rõ nàng Kiều ai sinh?


         Đáp:


"Hổ sinh ra phận thơ đào


Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong"


Khái ( hổ) sinh Kiều, thật lạ lùng


Trả lời như rứa thoả lòng em chưa?


       Hỏi:


                  Chập chờn cơn tỉnh cơn mê


Nghe đâu Kiều có làm nghề tráng gương?


        Đáp:


"Mười lăm năm, bấy nhiêu lần


Làm gương cho khách hồng quần thử soi!"


        


         Hỏi:  Nổi danh tài sắc đủ điều


                Tại sao lại bảo nàng Kiều sứt răng?


        Đáp:


"Hở môi ra những thẹn thùng"


Sứt răng nàng sợ chúng trông, bạn cười!


   Hỏi:


"Song thu đã khép cánh ngoài"


Nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ?


   Đáp:


"Lỡ từ lạc bước bước ra"


"Thất kinh nàng chửa biết là làm sao!"


    Hỏi:


Đến đây hỏi khách cựu giao


Chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?


    Đáp:


"Khi tựa gối, khi cúi đầu


Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày!"


     Hỏi:      


                   Sinh ra thời buổi chiến chinh


Thuý Kiều có lấy thương binh không chàng?


     Đáp:


Một tay trời bể ngang tàng


Chồng Kiều, Từ Hải rõ ràng thương binh!


      Hỏi:


Thời Kiều đã có ngân hàng


Em đây chưa tỏ nhờ chàng chỉ cho?


      Đáp:


"Nhà băng đưa mối rước vào..."


Tiền nong thanh toán việc nào chẳng xong!


        Còn một nội dung đố Kiều khác nữa, là người đố dùng những câu Kiều hoặc lẩy Kiều để đố xem ý câu đó nói gì. Với nội dung này, người giải phải có óc suy xét, phán đoán mới giải được. Và lạ thay, có nhiều câu có lời giải có vẻ thật chính xác! Và ở loại này, người ta thường trả lời trực diện mà ít dùng thơ.


      Đố:


"Trên vì nước, dưới vì nhà"


"Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng".


                        (Là cái gì?)


     Giải:      Cái máng nước (nằm giữa hai mái nhà)


      Đố:       " Vầng trăng vằng vặc giữa trời


                   Đinh ninh hai miệng một lời song song".


                                                (Là cái gì?)


 


      Giải:    Sáo diều đêm trăng!


       Đố:  "Trăm năm tính cuộc vuông tròn


               Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông?"


                                                 (Là nghề gì?)


      Giải: Người đan bồ! (khi đan bồ, phải đan đáy hình vuông trước, rồi sau đó mới đan tròn phía trên và vật liệu đan bồ là nưá phải lầy từ rừng về).


       Đố Kiều là một trò chơi tao nhã có từ lâu đời, nhưng  tiếc rằng hơn nửa thế kỷ qua hầu như ít xuất hiện trong đời sống tinh thần của công chúng. Đó là một thiếu sót trong công việc bảo tồn vốn cổ của ngành văn hoá.Trong hai năm 2002 – 2009,  Đài Tiếng nói Việt Nam có một chương trình khá hoành tráng về việc đưa "Truyện Kiều" đến với thính giả bằng cách giới thiệu toàn bộ "Truyện Kiều", từ đầu đến cuối qua giọng ngâm của các nghệ sĩ nổi tiếng nhất, đồng thời trong mỗi đoạn có sự phân tích, giảng giải của các chuyện gia về "Truyện Kiều". Cũng trong chương trình này, Đài còn tổ chức mỗi tháng một câu Đố Kiều với thính giả rộng rãi trong cả nước. Việc làm này của Đài Tiếng nói Việt Nam không những đem lại hứng thú cho người nghe mà còn làm sống lại một trò chơi văn hoá có nguy cơ mai một.


  


 


 BÓI KIỀU ĐÂU CHỈ NGÀY XƯA


 


         Bói Kiều là một hiện tượng sinh hoạt "văn hoá - tâm linh" vô cùng kỳ lạ ở nước ta, và tin chắc rằng trên thế giới khó tìm được một tác phẩm văn học nào có được hiện tượng đó, khi người ta dùng từng câu, từng dòng để đoán về tương lai, vận mệnh của con người. Người phản đối thì coi đó là chuyện mê tín, người ủng hộ thì coi là chuyện tâm linh, mà đã là tâm linh thì không thể giải thích được bằng kiến thức khoa học thông thường. Mê tín, hay tâm linh? Điều đó tôi không có ý định phân giải trong bài viết ngắn ngủi này, mà chỉ muốn chuyển tới bạn đọc một số mẩu chuyện bói Kiều đã thu gom được.


   Những người thích bói Kiều thường nhắc tới sự kỳ diệu của tác phẩm này, có những điều không thể giải thích nổi. Ví như câu thứ 1954 trong "Truyện Kiều" là " Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai", ứng với năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ giữa ta và Pháp ký kết, nước ta tạm thời phải chia đôi! Mặc dù câu thơ trên ở trong Truyện Kiều, là lời của Thúc Sinh nói rằng mình đành phải đoạn tuyệt Thuý Kiều trong nỗi đau xót, nhưng nếu viết về nước ta đành phải chịu cảnh chia đôi vào năm 1954, thì khó có một câu thơ nào hay hơn "Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai".


  Từ yêu đến tin rồi tín ngưỡng Truyện Kiều như tín ngưỡng một loại tôn giáo, nhiều người tìm thấy ở tác phẩm này niềm an ủi, sẻ chia, và xa hơn, là dự báo trước những chuyện trong tương lai. Không ai nói được đích xác hiện tượng bói Kiều có từ khi nào, nhưng biết là có từ rất lâu, có lẽ ngay sau khi "Truyện Kiều" chiếm được niềm tin yêu của đông đảo bạn đọc. Trước Cách mạng tháng Tám khá lâu, chuyện bói Kiều đã phổ biến trong dân gian, và nhà văn Ngô Tất Tố đã đưa vào trong tiểu thuyết "Lều chõng". Khi Vân Hạc đi thi, vợ là cô Ngọc muốn biết trước kết quả nên đã dùng "Truyện Kiều" để bói và được bốn câu:


Bó thân về với triều đình


Hàng thân lơ láo, phận mình ra đâu


Áo xiêm ràng buộc lấy nhau


Vào luồn, ra cúi công hầu mà chi?


  "Cứ trong ý tứ mà suy", cô Ngọc biết chồng sẽ hỏng thi, nếu như đậu thì sẽ làm quan, là người của triều đình, trái với ý của bốn câu thơ trên. Vân Hạc học giỏi, khi thi hỏng, rất buồn, nhưng vợ không buồn và lựa lời an ủi chồng rằng chẳng qua vì cái số, đã được báo trước trong "Truyện Kiều".


  Nhà thơ Tế Hanh đã mê Kiều từ thời còn học sinh. Ông bảo rằng, muốn hiểu được cái hay của Truyện Kiều thì khi đọc cần thắp hương, để khói hương đưa người về cõi tâm linh thanh tịnh. Đã nhiều lần ông bói Kiều và cảm thấy rất nghiệm. Ông kể rằng, năm 1942, ông thi tú tài phần thứ nhất, lần đầu thi vào tháng 5, lần hai vào tháng 8. Lần đầu, sau khi đậu phần thi viết, bước vào thi vấn đáp ông bắt thăm được câu hỏi về Napoléon, ông trả lời lúng túng bị bà giáo người Pháp tên là Alada cho điểm thấp nên bị trượt. Trước khi thi lần hai, Tế Hanh bói Kiều, đúng hai câu:


Khi nên cảnh cũng chiều người


Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.


Ông rất mừng, nhưng vẫn chăm chỉ ôn tập vì nhớ tới lời nhắc nhở của Nguyễn Du là "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều".


 Lần thi ấy, sau khi đậu thi viết, vào phần vấn đáp, ông lại bắt được câu hỏi về Napoléon như lần thứ nhất. Do lần trước bị hỏng, về nhà, ông đọc lại thật kỹ lịch sử về Napoléon, nên lần này trả lời không những đầy đủ mà còn hết sức khúc chiết, được thầy giáo người Pháp Bourotts cho điểm rất cao. Thế là lần ấy ông đỗ, hoàn toàn ứng với câu "Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau"!


   Nhiều khi bói Kiều được những câu dễ hiểu, nhưng có khi được những câu mới đọc qua chẳng thấy gì liên quan tới điều mình muốn biết, cần phải luận mới hiểu được nội dung. Cũng theo nhà thơ Tế Hanh, ông Phạm Liệu, thân sinh nhà thơ Phạm Hầu, quê ở xã Trường Giang, huyện Diên Phước, Quảng Nam, từng làm Thượng thư dưới triều Nguyễn. Hồi con đi học, ông ra Huế dự kỳ thi hương. Trước lúc lên đường đi thi, ông bói Kiều, đúng hai câu:


Dưới cờ gươm tuốt nắp ra


Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.


Kỳ thi ấy ông đỗ thủ khoa, ứng với chính danh thủ phạm. Kỳ diệu hơn nữa, về sau ông làm Thượng thư bộ Binh, ứng với Dưới cờ gươm tuốt nắp ra!


 Trong hồi ký của Trần Trọng Kim có kể lại một chuyện liên quan tới bói Kiều. Năm 1944, vì sợ bọn Pháp bắt mất một số người tin cậy của mình, Nhật đã bố trí cho Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân, Đặng Văn Ký... "sơ tan" sang Singapore một thời gian. Khi các ông ở Singapore, do ăn uống quá kham khổ, thuốc thang không có, bệnh tật liên miên, nên ai cũng muốn trở về nước. Một hôm, Dương Bá Trạc nói vời mọi người rằng sắp được về rồi, mọi người hỏi nguốn tin ở đâu, thì ông Trạc chỉ vào hai câu Kiều vừa bói được:


Việc nhà đã tạm thong dong


Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.


  Ông Kim cùng những người khác không tin, không ngờ ít hôm sau mọi người được về nước thật, chỉ trừ ông Dương Bá Trạc đã "về" theo nghĩa khác, vì ông mất ở Singapore!


     Bà Minh Mị, đã ngoài 90 tuổi, với biệt danh Hà Thành độc giả, một người thuộc lòng Truyện Kiều từ nhỏ và cũng đã từng bói Kiều khi còn học sinh. Bà kể rằng, lần ấy sau khi thi xong, vì nóng lòng muốn biết kết quả nên đã bói Kiều. Kết quả được hai câu:


Có cổ thụ, có sơn hồ


Cho nàng ra đó giữ chùa, chép kinh.


Bà không hiểu ý nghĩa ra sao, được thân sinh bà kết luận rằng bà sẽ đậu. Bà đọc hai câu thơ rồi hỏi lại:" Thế sau này con đi tu hở bố?". Ông cụ cười và giải thích rằng:" Không phải thế! Trước khi bói, con đã khấn xin để biết được kết quả kỳ thi này của con, nên không thể hiểu như vậy được, Trong "Truyện Kiều", hai câu này nói rằng Hoạn Thư chấp nhận nguyện vọng của Thuý Kiều "Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không", thì ở đây người ta cũng chấp nhận nguyện vọng của con, tức là con đỗ thi". Và đúng như vậy, kỳ thi đó bà trúng tuyển.


   Sinh thời, nhà thơ Gia Ninh kể chuyện đi công tác cùng nhà thơ Xuân Diệu ở tỉnh Nghệ An trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Vì phương tiện giao thông không có, hai ông phải đi bộ liên tục nên xế chiều muốn dừng lại nghỉ ở một làng cạnh quốc lô. Bà con người làng khuyên các ông nên đi thêm mấy cây số nữa lại nghỉ, vì ở đây máy bay Pháp thường bắn phá. Hai ông đang chần chừ chưa biết quyết định ra sao, thì Xuân Diệu mở túi dết, lấy "Truyện Kiều" ra bói, và được hai câu:


Rạng ra gửi đến xuân Đường


Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.


 Hai nhà thơ quyết định đi ngay vì ba chữ thúc, vội giục, đó là chưa kể chàng ninh gia là chàng Gia Ninh nói ngược. Đi được chừng ba bốn cây số ngoảnh lại thì thật hú vía: máy bay Pháp đang bắn phá ngôi làng hai nhà thơ định nghỉ lại. Xuân Diệu nói với Gia Ninh:" Cô Kiều cứu chúng mình đấy!"


     Hồi tôi còn nhỏ, nghe kể chuyện ở quê có một học sinh học thật xuất sắc, trên đường đi thi bị chết đuối, mất tích, người ta nhắn tin về cho ông bố, nhưng để ông đỡ choáng, họ bảo rằng anh ta bị cảm hiện đang nằm ở trạm xá nọ. Khi nghe người đưa tin nói vậy, ông bố nói:" Đừng giấu tôi nữa, thằng con tôi chết đuối rồi! Thôi, để tôi đi tìm xác con tôi".  Sau khi thi thể kẻ xấu số đã được tìm thấy và chôn cất tử tế, người ta hỏi sao ông biết trước chuyện này, ông bảo rằng, khi con đi thi, ông bói Kiều và được hai câu:


Đành thân cát lấp, sóng vùi


Tiếc công cha mẹ, thiệt đời thông minh".


Và ông đã thốt lên: "Thôi còn chi nữa mà mong/ Đời người thôi thế là xong một đời", nên sẵn sàng đón tin dữ.


   Hồi phong trào sinh đẻ có kế hoạch mới được vận động, một ông chồng vốn nhà con một, vợ sinh hai lần được hai "thị mẹt", đứa thứ hai đã đi học, thế mà không chửa đẻ gì thêm để cho ông hy vọng người "nối dõi tông đường", trong khi ông vẫn trẻ khoẻ, vợ ông vẫn phây phây ra chứ đau ốm gì đâu. Vốn dòng nhà Nho, ông mê "Truyện Kiều" và thỉnh thoảng có bói Kiều, nhân đi vợ đi họp đại hội phụ nữ toàn xã, ông ở nhà tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới, thắp nén hương thơm và đem "Truyện Kiều" ra bói.


Ông ngồi xếp bằng, đối diện với bát hương, hai tay chắp lại, kẹp "Truyện Kiều"  ở giữa và nâng lên khấn: " Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thuý Kiều...tên con là...năm nay ...tuổi. Chúng con mới được hai mụn con gái, muốn có đứa con trai nối dõi tông đường, nhưng hơn mười năm nay, không hiểu sao vợ con không chửa đẻ gì cả. Cho con xin một quẻ để biết được nguyên nhân. Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thuý Kiều, hãy cho con bốn câu, từ câu thứ... trang bên phải." Xong, ông mở ra đọc:


Bây giờ tình mới tỏ tình


Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai


Chước đâu có chước lạ đời


Người đâu mà lại có người tinh ma.


  Khi luận được nội dung lời bói, mặt ông đỏ lên như gấc chín vì giận, nhưng vốn con nhà nho, đợi đến tối hôm đó, khi cơm nước xong xuôi, ông mới hỏi vợ:


  - Bà trốn tôi đi đặt vòng từ khi nào?


  Bà vợ hết sức ngạc nhiên vì chuyện đó bà giấu ông và đã xẩy ra ngót chục năm trời, sao ông nay ông mới động tới.


 - Ba tưởng giấu được tôi mãi chăng? Ba giấu nhưng "Truyện Kiều" mách tôi. Bà đọc đi ... Rồi ông gí bốn câu thơ trên vào sát măt bà, sát đến nỗi bà phải ngửa người lùi ra mới đọc được. Bà chả hiểu gì ý nghĩa, ông giải thích:


  - "Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai", nghĩa là bà đã đặt vòng, có nơi gọi vòng là vành, phải không? Đặt vòng là cái "chước lạ đời", bà giấu tôi để làm việc đó "là người tinh ma", bà hiểu chưa?


  Bà vợ không nói lại một câu nào, chỉ thầm nghĩ, không ngờ trong quyển "Truyện Kiều" hàng ngày ông vẫn đọc lại chứa đựng những khả năng kỳ diệu như thế?


          Không hiểu những chuyện bói Kiều tôi vừa thu gom được, độ tin cậy đến đâu?                                                               


                                                             


BIỆT TÀI VẬN DỤNG THÀNH NGỮ VÀ CỔ THI


 


     Một trong những lý do làm người đọc cảm nhận ngôn ngữ trong Truyện kiều đẫm chất dân gian, gần gũi với đời sống hàng ngày là nghệ thuật sử dụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tài vận dụng thành ngữ, tục ngữ. Trong lịch sử thi ca của ta từ xưa đến nay, khó tìm được một tác phẩm nào mà thành ngữ, tục ngữ xuất hiện nhiều như trong Truyện Kiều. Và cách xuất hiện cũng hết sức linh hoạt, khi thì nguyên văn, khi thì được biến báo bằng cách chèn thêm một số từ khác, cho hợp tình, hợp cảnh. Đại thi hào Nguyễn Du sử dụng khéo léo đến nỗi, lắm lúc chúng ta không còn biết được những câu thành ngữ quen thuộc đã nhập vào trong Truyện Kiều, hay chính Truyện Kiều đã tạo ra những thành ngữ, tục ngữ ấy! Dọc theo nỗi đoạn trường của Thuý Kiều, không biết bao lần những câu chứa thành ngữ, châm ngôn…làm chúng ta cảm thấy lý thú và hiểu được ý nghĩa sâu xa tác giả muốn gửi gắm, nhưng nếu là một người nước ngoài có biết tiếng Việt thì sẽ ngỡ ngàng rồi lần tìm tự điển để tra, nhưng cũng khó có tự điển nào làm cho họ hiểu được như ta đã hiểu. Đó là “ Mạt cưa, mướp đắng đôi bên một phường”, là “ Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau”, là “Ở đây tai vách, mạch rừng”, là “ Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”, là “Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”…


 Theo sự thống kê của chúng tôi, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng  thành ngữ,châm ngôn khoảng 180 lần. Có những đoạn thơ, đại thi hào cho thành ngữ, châm ngôn xuất hiện gần như liên tục trong các câu thơ. Ví như đoạn nói về ý nghĩ của Hoạn Thư:


Làm cho trông thấy nhãn tiền


Cho người thăm ván bán thuyền biết tay


Nỗi lòng kín chẳng ai hay


Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.


Trong bốn câu lục bát này có ba thành ngữ được nhắc đến:  trông thấy nhãn tiền, thăm ván bán thuyền và gió thổi ngoài tai. Hay như bốn câu thơ:


Nghĩ đà bưng kín miệng bình


Nào ai có khảo mà mình lại xưng


Những là e ấp dùng dăng


Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi


cũng có ba câu thành ngữ: kín như hũ nút( kín như bưng), không khảo mà xưng, rút dây động rừng…


  Cách sử dụng thành ngữ, châm ngôn của Cụ cũng rất linh hoạt. Phần lớn thành ngữ được giữ nguyên, đưa vào làm một phần của câu thơ mà câu thơ vẫn giữ được vẻ tự nhiên, như mạt cưa mướp đắng trong “Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”; một cốt, một đồng trong “ Lạ gì một cốt một đồng xưa nay”; cá chậu, chim lồng trong “ Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi”, một hội, một thuyền trong “Cùng người một hội một tuyền đâu xa”, ăn xổi, ở thì trong “Phải điều ăn xổi, ở thì”… Nhưng không ít câu thành ngữ được biến báo, giữ lấy ý nhưng thay đổi cách diễn đạt. Chúng ta cùng theo dõi bảng thống kê sau:


 


Thành ngữ                                   Diễn đạt trong Truyện Kiều


 


Chật như nêm                              Trong nhà người chật một lần như nêm


Giấm chua, lửa nồng                   Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng


Trong ấm, ngoài êm                     Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm


Gió thổi ngoài tai                         Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài


Kín như bưng                            Trong ngoài kín mít như bưng


Không khảo mà xưng                   Nào ai có khảo mà mình lại xưng


Rút dây động rừng                       Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi


Kín như hũ nút                             Nghĩ đà bưng kín miệng bình


Rừng có mạch, vách có tai          Ở đây tai vách mạch rừng


Ngậm bồ hòn làm ngọt                Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay


Kiếp tằm vương tơ                       Con tằm đến thác hãy còn vương tơ


Kẻ cắp gặp bà già                         Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau


Khuất mặt, cách lòng                   Dám xa xôi mặt mà thơ thớt lòng


Kiến bò miệng chén                    - Kiến trong miệng chén có bò đi đâu


                                                    -  Kiến bò miệng chén chưa lâu


Nước đến chân mới nhảy                       - Ngồi chờ nước đến chân dường còn quê


Cá chậu, chim lồng                     - Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi


                                                    - Chim lồng khôn dễ cất mình bay cao


……….


Một số lớn thành ngữ trong Truyện Kiều là mỗi câu gồm bốn từ, thường chia thành hai nửa đối xứng nhau, diễn tả được một ý nào đó. Ví dụ: Thân gái, dặm trường; Gìn vàng, giữ ngọc; Nước đục, bụi trong; Thay bậc, đổi ngôi; Lỡ một, lầm hai; Tháo cũi, sổ lồng; Nhắm mắt, đưa chân; Liễu chán, hoa chê; Bướm lả ông lơi; một tỉnh, mười mê; Kết tóc, xe tơ…Với nhữnh thành ngữ loại này, chúng ta thật khó xác định được rằng những thành ngữ nào có sẵn từ trước, những thành ngữ nào sinh ra từ Truyện Kiều?


      Đối với các thành ngữ chữ Hán, có một số câu tác giả Truyện Kiều để nguyên văn, nhưng tìm cách đưa đẩy, dắt dẫn để cho ngay cả những người không biết tiếng Hán, khi chưa đọc chú thích, cũng sơ bộ hiểu được nội dung thành ngữ ấy:


 


Lạ gì “bỉ sắc tư phong”


Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen


Hay:


Nàng rằng: “thiên tải nhất thì”


Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn…


thì câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” giúp người ta hiểu sơ bộ nghĩa “bỉ sắc tư phong” là được điều này, mất điều kia; hay : “ Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn” giúp hiểu nghĩa “thiên tải nhất thì” là rất hiếm khi, ngàn năm có một…


  Nhưng trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du đã diễn Nôm thành ngữ chữ Hán thành một vài câu thơ thuần Việt, rất nhuần nhuyễn và dễ hiểu. Ví như muốn nói Thuý Kiều vì đã từng ở lầu xanh rồi nên rất sợ những gì tương tự, Nguyễn Du liền cung cấp cho bạn đọc thành ngữ “Kinh cung chi điểu” nhưng được Việt hoá:


Thiếp như con én lạc đàn


Phải cung rày đã sợ làn cây cong.


Hay như câu thành ngữ “ Tam thập lục chước, tẩu vi thượng sách” (trong ba mươi sau chước, chước chạy là hay nhất) thì được Cụ diễn Nôm bằng một câu nghi vấn mà ai cũng biết lời đáp: “ Ba mươi sáu chước, chước nào là hơn?” 


  Chỉ những thành ngữ chữ Hán tương đối thông dụng thì Nguyễn Du mới để nguyên, như Động địa, kinh thiên; Nhân định thắng thiên, Bình địa ba đào; Quốc sắc, thiên tài; Ngộ biến tùng quyền. .. với cách dắt dẫn tự nhiên và dễ hiểu.


       Bên cạnh việc sử dụng thành ngữ dân gian, khi sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du không ít lần chuyển tải những câu, những ý cổ thi vào tác phẩm của mình. Đại thi hào Nguyễn Du cũng như các nhà thơ cùng thời quan niệm rằng, bên cạnh những gì mình sáng tạo ra, chuyển tải những tinh hoa của dân tộc, của nhân loại đến với bạn đọc là một việc nên làm. Bạn đọc coi việc đó thể hiện sự uyên bác, thông “thiên kinh vạn quyển” của tác giả. Cụ Nguyễn Du không bao giờ muốn “phi tang xuất xứ”, ngược lại, làm cho bạn đọc thấy rằng, cái ý ấy đã có trong cổ thi của một tác giả cụ thể hoặc là thơ dân gian truyền miệng. Ví như hai câu thơ nói tâm trạng của chàng Kim sau sáu tháng về hộ tang chú ở Liêu Dương, trở lại vườn Thuý không gặp được Thuý Kiều:


Trước sau nào thấy bóng người


Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.


  Bạn đọc bao thế hệ không ai không biết cái ý này rút từ hai câu cuối trong bài tứ tuyệt của Thôi Hộ đời Đường, sáng tác khi ông một năm sau trở lại tìm người đẹp mà không gặp:


“Khứ niên kim nhật thử môn trung


Nhân diện đào hoa tương ánh hồng


Nhân diện bất tri hà xứ khứ


Đào hoa y cựu tiếu đông phong”


(Ngày này năm trước, trong cửa này/ Mặt người và hoa đào phản chiếu ánh hồng lên nhau/ Mặt người không biết nay ở đâu/ Hoa đào năm cũ cười gió đông). Nguyễn Du thấy rằng có sự trùng hợp tâm trạng giữa Kim Trọng và Thôi Hộ nên mượn ý hai câu cuối của bài thơ này. Nói cụ Nguyễn Du dịch hai câu ấy cũng không sai, nhưng e chưa hoàn toàn đúng, mà phải chú ý rằng, cụ đã  dịch  một cách đặc biệt, để vừa đúng nghĩa của câu thơ xuất xứ, nhưng quan trọng hơn là hợp với cảnh tình của nhân vật Kim Trọng. Bởi thế cụ không dùng hai chữ nhân diện (mặt người) mà chuyển thành bóng người, vì “nhân diện” hợp với kỷ niệm của Thôi Hộ hơn là Kim Trọng.


      Hay như câu: “ Tự cổ hồng nhan giai bạc mệnh”, có nghĩa là: “Từ xưa đến nay, những kẻ hồng nhan đều bạc mệnh”, được Nguyễn Du Việt hoá thành:


Rằng: hồng nhan tự thuở xưa


                               Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu…


vừa giữ nguyên được ý của xuất xứ, về tự nhiên, dễ hiểu một cách dân gian.


Có khi đưa cổ thi vào Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nâng câu thơ lên một tầm mới, hay hơn ý thơ đã có. Ví như hai câu tả cảnh trăng trong cuộc chia ly của Thúc Sinh và Thuý Kiều:


Vầng trăng ai xẻ làm đôi


Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.


Ai cũng biết rằng, ý trong hai câu thơ này đi từ câu cổ thi:


Thuỳ bả kim bôi phân lưỡng đoạn


Bán trầm thuỷ để, bán phù không


( Ai cầm chén vàng chia ra hai nửa/ Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không). Thấy nửa vầng trăng mà hỏi “Ai xẻ trăng ra hai phần” là xuất phát từ cổ thi, Nguyễn Du nói rõ cho bạn đọc thấy điều đó, chứ không hề che giấu. Bây giờ ta xét xem nghệ thuật trong câu cổ thi này và so sánh với câu trong Truyện Kiều. Nhìn nửa vầng trăng trên trời, nửa vầng trăng dưới nước mà hỏi ai xẻ vầng trăng ra làm đôi, là một ý thơ hay, bất ngờ do sự quan sát và phát hiện. Nhưng dù sao, đây là câu thơ viết bằng cái nhìn, đơn thuần tả cảnh thiên nhiên. Đem “ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” mà so với “ Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không”, ta thấy rằng câu thơ cổ thi này chỉ là điểm xuất phát để Nguyễn Du đi một bước thật xa, biến câu thơ tả cảnh có thể nhìn bằng mắt thành câu thơ tả tình đặc sắc nói về sự chia phôi. Người chia ly rồi, vầng trăng tưởng như cũng chia thành hai nửa, một nửa theo Kiều về nơi gối chiếc, một nửa theo Thúc Sinh chốn dặm trường, thì sự chia đôi vầng trăng đó mới thật kỳ diệu và khó phát hiện hơn nhiều so với sự chia đôi đơn thuần tính chất vật lý trong câu xuất phát. Nguyễn Du đã dựa vào một câu cổ thi để sáng tác ra một câu thơ mới hay hơn hẳn, nếu bảo Cụ đã dịch câu cổ thi trên kia, thì sự sai lầm chẳng khác gì nói rằng Cụ đã dịch “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ra Truyện Kiều!


  Trong Truyện Kiều, những câu thơ xuất phát từ cổ thi, vận dụng cổ thi còn nhiều, như tả tiếng đàn, tả cảnh mùa xuân… Và trong từng câu cụ thể, ta đều thấy được biệt tài của Đại thi hào khi sử dụng cổ thi cũng như thành ngữ dân gian khi sáng tác Truyện Kiều.                                                                             


                                                                                   


 NƯỚC ĐỜI LẮM NỖI…


 


         Chúng ta biết rằng, những nhà thơ, nhà văn lớn thường làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nói rằng Gớt (Goethe) đã tạo ra một nửa thành ngữ của Đức, không biết đó là con số chính xác hay là lối nói thậm xưng để nêu vai trò của Gớt trong ngôn ngữ nước Đức. Còn đối với đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta, không những Cụ đã sử dụng các thành ngữ, tục ngữ…một cách tài tình mà còn sáng tạo ra nhiều thành ngữ mới. Bên cạnh đó, nhiều từ trong tiếng Việt được mở rộng thêm nghĩa khi qua bàn tay Cụ. Không thể thống kê hết những từ như vậy, chúng ta chỉ đơn cử một vài ví dụ để minh chứng điều đó.


      Theo “Từ điển Tiếng Việt”, chữ NỖI có hai ý. Thứ nhất là chỉ sự tình, sự thể ôkhụng hay xẩy ra, nói về mặt tác động đến tình cảm của con người như “nỗi bất công”, “nỗi oan ức”. Thứ hai, là từ dùng để chỉ tâm trạng, tình cảm cụ thể ( thường vào loại không được như ý muốn) mà con người phải trải qua, Ví dụ như “nỗi buồn, nỗi nhớ”…


       Để xem Đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng chữ NỖI như thế nào, trước hết ta thống kê những câu thơ có chữ NỖI trong Truyện Kiều:


Câu 109:  “Nỗi niềm” tưởng đến mà đau


Câu 178:  Rộn đường gần với “nỗi xa” bời bời


Câu 221:  “Nỗi riêng” lớp lớp súng dồi


Câu 242:  “Nỗi riêng” riêng chạnh tấc riờng một mình


Câu 246:  “Nỗi nàng” canh cánh bên lòng biếng khuây


Câu 535:  Mảng tin xiết “nỗi kinh hoàng”


Câu 537:  Gót đầu “mọi nỗi” đinh ninh


Câu 538:  “Nỗi nhà” tang tóc, “nỗi mình” xa xôi


Câu 633   “Nỗi mình” thêm tức “nỗi nhà”


Câu 711:  “Nỗi riêng” riêng những bàn hoàn


Câu 718:  “Nỗi riêng” còn mắc mối tình chi đây


Câu 765:  “Nỗi nàng”, Vân mới rỉ tai


Câu 777:  Xiết bao kể nỗi thảm sầu


Câu 852:  Phần căm “nỗi khách”, phần nhơ “nỗi mình”


Câu 863:  “Nỗi mình” âu cũng giãn dần


Câu 987:  “Nỗi oan” vỡ lở xa gần


Câu 1015:  Kề tai “mấy nỗi” nằn nì


Câu1082:  “Nỗi nhà” báo đáp, “nỗi thân” lạc loài


Câu 1208:  “Nỗi đêm” khép mở, “nỗi ngày” riêng chung


Câu 1220:  Nước đời “lắm nỗi” lạ lùng khắt khe


Câu 1250:  Ngẩn ngơ “trăm nỗi” dùi mài một thân


Câu 1251:  “Nỗi lòng” đòi đoạn xa gần


Câu 1318:  “Nỗi quê” còn một hai điều ngang ngang


Câu 1444:  Để nàng cho đến “nỗi này” vì tôi


Câu 1464:  Thôi thì dẹp “nỗi bất bình” là xong


Câu 1527:  Kể chi những “nỗi dọc đường”


Câu 1528:  Buồng trong này “nỗi chủ trương ở nhà”


Câu 1635:  Thân sao lắm “nỗi bất bằng”


Câu 1640: “Nỗi lòng” khấn chửa cạn lời vân vân


Câu 1760:  “Nỗi lòng” luống những bàn hoàn niềm tây


Câu 1790:  “Nỗi gần” nào biết đường xa thế nào


Câu 1853:  “Nỗi lòng” kín chẳng ai hay


Câu 1870:  “Nỗi lòng” càng nghĩ càng cay đắng lòng


Câu 1872:  “Nỗi lòng” ai ở trong lòng mà ra


Câu 1888:  Phải chi mình lại xót xa “nỗi mình”


Câu 1904:  Hữu tài thương “nỗi vô duyên” lạ đời


Câu 1943:  Sụt sùi giở “nỗi đoạn trường”


Câu 2000:  “Nỗi ông” vật vã, “nỗi nàng” thở than


Câu 2006:  Nghĩ mà thêm “nỗi sởn gai” rụng rời


Câu 2069:  Nghĩ rằng khôn “nỗi giấu mình”


Câu 2246:  Đường kia “nỗi nọ” ngổn ngang bời bời


Câu 2739:  “Nỗi nàng” tai nạn đó đầy


Câu 2740: “Nỗi chàng” Kim Trọng bấy chầy càng thương


Câu 2754:  “Nỗi niềm” tâm sự bây giờ hỏi ai


Câu 2770:  Càng “ngao ngán nỗi”, càng ngơ ngẩn dường


Câu 2776:  Chàng ơi biết “nỗi nước này” cho chưa?


Câu 1782:  Cực “trăm ngàn nỗi”, dặn ba bốn lần


Câu 2799:  Thấy chàng đau “nỗi biệt ly”


Câu 2812:  Để cho đến “nỗi trôi hoa, giạt bèo”


Câu 2819:  “Nỗi thương” nói chẳng hết lời


Câu 2847:  “Nỗi nàng” nhớ đến bao giờ


Câu 2868:  “Nỗi nàng” càng nghĩ xa gần càng thương


Câu 2915:  “Nỗi nàng” hỏi hết phân minh


Câu 3027:  “Nỗi mừng” biết lấy gì cân


Câu 3102:  Đã xong thân thế còn toan “nỗi nào”


Câu 3140:  “Bi hoan mấy nỗi” đêm chầy trăng cao


      Như vậy, chúng ta đã thống kê được 56 câu thơ trong Truyện Kiều có chữ “nỗi” tham gia. Trừ hai lần “nỗi” kết hợp với “niềm” để thành để thành danh từ “nỗi niềm”, còn ở 54 câu còn lại, ta xem Đại thi hào đó sử dụng chữ này như thế nào.


   Như “Từ điển tiếng Việt” đã định nghĩa ở trên, cũng như theo thói quen thông thường của chúng ta, chữ “nỗi” thường được kết hợp với một tính từ để tạo thành danh từ như “nỗi đau”, “nỗi khổ”, “nỗi buồn”, “nỗi oan ức”, “nỗi bất công”… Trong Truyện Kiều. sự kết hợp này khá phổ biến, đó là “nỗi kinh hoàng” (câu 535), “nỗi thảm sầu” ( câu 777), “nỗi oan” (987), “nỗi bất bình” (1464), “nỗi bất bằng” ( 1635), “nỗi biệt ly” (2799)…Bên cạnh đó, là sự kết hợp khá quen thuộc với chúng ta hôm nay như “nỗi lòng” (1640, 1760, 1853, 1872)… Còn phần lớn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng chữ nỗi thật mới mẻ, mới mẻ đến nỗi cho đến ngày nay, sau khi Truyện Kiều đã được sáng tác trên 200 năm, chúng ta vẫn chưa mấy ai dám sử dụng chữ này như Cụ.


     Trước hết là chữ “nỗi” đứng độc lập, không kết hợp với một tính từ hay danh từ nào để có một ý nghĩa cụ thể, mà Cụ dành phần đã cho người đọc suy nghĩ mà hiểu lấy. Đó là “gót đầu mọi nỗi đinh ninh”, là khi chàng Kim nghe tin chú mất, tìm tới để than vón với nàng Kiều. Tác giả không núi cụ thể Kim Trọng tâm sự những gì, mà chỉ dựng hai chữ “mọi nỗi”, chữ “nỗi” ở đây hàm ý những “chuyện” của nỗi lòng. Khi mụ Tú Bà khuyên giải nàng Kiều sau khi nàng toan tự tử ở lầu xanh, Nguyễn Du viết: “ Kề tai mấy nỗi nằn nì” thì không ai hiểu đây là “nỗi nằm nì”, mà tác gỉa muốn nói mụ Tú ra vẻ nói thật lòng, đưa ra bao nhiêu chuyện để nằn nì, khuyên giải Thúy Kiều.  Rồi “ nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe”, và “Cực trăm ngàn nỗi dặn ba bốn lần”…thỡ chữ “nỗi” cũng theo nghĩa “tổng quát” này.


   Không biết thời cụ Nguyễn Du về trước đó ai đem kết hợp chữ “nỗi” với một đại từ nhân xưng như trong Truyện Kiều hay chưa, điều mà ngày nay chúng ta ít thấy trên thi đàn. Đó là “nỗi nàng” ( 2006, 2739, 2847, 2868, 2915) , “nỗi chàng” ( 2740), “nỗi ông”( 2606), “nỗi mình” (538, 633, 852…) …Cách dùng này hiệu quả và mới mẻ ngay cả thế kỷ 21 này.


      Nguyễn Du mạnh dạn kết hợp chữ “nỗi” với một danh từ chỉ thời gian như “nỗi đêm”, “nỗi ngày” (1208) làm cho ý nghĩa chữ “nỗi” được mở rộng ra, gợi người đọc suy nghĩ, liên tưởng. Rồi “ nỗi riêng”, nỗi “gần” và bao nhiêu “nỗi” khác nữa.


    Trong Truyện Kiều có hai câu thơ tác giả dùng chữ “nỗi”, theo tôi, là “táo bạo” nhất:


Kể chi những “nỗi dọc đường” (1527)


Buồng trong này “nỗi chủ trương ở nhà” (1528)


      Đây là hai câu thơ chuyển đoạn từ việc nói Thúy Kiều để bắt đầu nói về Hoạn Thư. “Nỗi chủ trương ở nhà” là nói Thúc Sinh đã có người vợ chính thức ở nhà thì ai cũng hiểu, còn “nỗi dọc đường” là gì? Trong một chuyến đi công tác, ngồi trên xe có nhiều nhà thơ, khi nhắc hai câu thơ này nhà thơ Bằng Việt và Trần Đăng Thao hiểu rằng “nỗi dọc đường” đây là nói chuyện đi đường của Thúc Sinh. Tôi lại không hiểu như thế. Nếu chỉ nói chuyện đi đường thôi, thì Nguyờn Du sẽ không dựng chữ “nỗi” mà dựng chữ “chuyện”: chuyện dọc đường. Trong Truyện Kiều, chữ “nỗi” thường ẩn chứa ý nghĩa sâu xa hơn là “chuyện”. Vậy “nỗi dọc đường” là gỡ? Theo tôi, “nỗi dọc đường” của Thúc sinh chính là Thúy Kiều, dù có hôn nhân nhưng khác xa sự hôn nhân với Hoạn Thư. Câu chuyển đoạn này nói theo ý nghĩ của Thúc Sinh, coi Hoạn Thư là quan trọng. Như thế thì mới có sự cân xứng giữa “nỗi dọc đường” và “nỗi chủ trương ở nhà”. Nếu vậy, chính Nguyễn Du đã sáng tạo ba chữ “ nỗi dọc đường” để nói chuyện tình tang ngoài vợ của các đấng nam nhi. Hiện đại biết chừng nào!


    Bên cạnh chữ “nỗi’ tôi đã trình bày, cỏc bạn có thể khảo sát chữ ‘khuôn” và bao chữ khác trong Truyện Kiều để thấy Nguyễn Du, Đại thi hào của dân tộc, một Danh nhân Văn hóa thế giới, đã làm cho ngôn ngữ chúng ta giàu thêm biết bao!


Tháng 12- 2013


 


SINH VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU


 


        Ta biết rằng, trong Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, sinh vật bao gồm cỏ cây và các loài con đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái tình cảm của các nhân vật, mà chủ yếu là nàng Kiều. Bởi rằng, cỏ cây, các loài con cùng với các hiện tượng tự nhiên tạo nên cảnh, mà cảnh không tách rời tình theo nguyên tắc “ Khi nên cảnh cũng chiều người” hoặc “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cùng trong một ngày thanh minh, khi Kiều đang vui thì “Cỏ non xanh tận chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Thế nhưng sau khi nghe Vương Quan kể chuyện Đạm Tiên, Kiều đã buồn, khóc và đề thơ bên mộ Đạm Tiên, thì cảnh trở nên buồn :“ Một vùng cỏ áy bóng tà. Gió hiu hiu thổi một và bông lau”. Có thể bạn đọc nói rằng: sở dĩ trong một ngày mà có cảnh vui, cảnh buồn là do hai buổi khác nhau: buổi sớm và buổi chiều. Không phải như vậy, sau khi ở mộ Đạm Tiên ra, Thuý Kiều gặp Kim Trọng, tình yêu chớm nở thì cảnh lại trữ tình và không hề buồn, dù nói về thời gian thì lúc này gần hoàng hôn hơn khi bên mộ Đạm Tiên: “Dưới cầu nước chảy trong veo. Bên câu tơ liễu bóng chiều thướt tha”…Với ý này, nếu triển khai rộng ra, có thể đủ dung lượng cho một luận văn… thạc sĩ!


  Ở bài viết này, tôi không đi theo hướng đó, mà đơn giản hơn nhiều, muốn thống kê xem bao nhiêu loài cây, bao nhiêu loài con đã xuất hiện trong Truyện Kiều. Nhớ lại cách đây mười mấy năm, trong một lần về thăm Tiên Điền, một vị lãnh đạo chủ chốt của huyện Nghi Xuân đã dẫn tôi đi thăm bảo tàng, khu mộ và cả khu đất xưa kia dựng căn nhà của cụ Nguyễn Du. Vị cán bộ huyện nói ý định sẽ xây dựng một không gian văn hoá Nghi Xuân, trong đó có Vườn Kiều: “ Chúng tôi sẽ tổ chức, vận động những người yêu Truyện Kiều xa gần cùng chung sức, trồng đủ 127 cây mà cụ Nguyễn Du đã kể tên trong Truyện Kiều”. Lúc đó tôi hết sức cảm phục vị cán bộ này. Tôi là một người thuộc Kiều từ nhỏ, cũng đã viết nhiều bài nghiên cứu về Truyện Kiều, nhưng thú thực, tôi không biết được trong Truyện Kiều có nhắc đến bao nhiều loài cây. Thế mà một cán bộ huyện lại nắm được điều đó! Tôi dự định có dịp sẽ tỷ mẩn thống kê lại để xem 127 thứ cây đó là những cây gì, nhưng rồi thời gian tôi đi, vẫn chưa làm được điều đó, cho đến năm 2008 -2009, khi Đài Tiếng nói Việt Nam nhờ tôi chủ trì tiểu mục Đố Kiều, tôi liền ra câu đố để cùng thính giả cả nước thống kê số cây, cỏ trong Kiều. Câu đố đó như sau:


 


"Cỏ non xanh tận chân trời"


"Cành lê trắng điểm", liễu thời thướt tha


"Hải đường lả ngọn" bên nhà


"Sen tàn, cúc lại nở hoa" khắp miền...


Nơi nào cỏ đã mọc lên?


Bao loài cây đã có tên trong Kiều?


 


    Khi đọc các bài giải đố, tôi nhận ra rằng, với một độc giả bình thường, việc thống kê tên các loài cây đã được nhắc trong Truyện Kiều không hề đơn giản, bởi ngoài những cây cối thông thường như sen, lựu, liễu, hải đường... còn rất nhiều cây khác, hoặc nằm trong điển tích, hoặc không có ở nước ta, hoặc là có ở nước ta nhưng lại không mang tên gọi thông thường...Và trong nhiều trường hợp, một số tên cây xuất hiện trong Truyện Kiều lại với một nghĩa khác, ví dụ như xuân, huyên để chỉ cha, mẹ; bình bồng để chỉ trôi giạt...Tuy nhiên, theo câu đố thì hai cây xuân, huyên cũng như bình (bèo), bồng ( một loại cỏ) phải được kể tên. Bởi thế, phần lớn các bài giải đố đã thống kê thiếu những tên cây cỏ trong Truyện Kiều. Ví dụ: Thính giả Lê Đình Lư ( Quảng Xương, Thanh Hoá) chỉ kể được 8 lòai cây ; bác Phùng Văn Viêng ( Thiệu Hoá, Thanh Hoá) chỉ tính được 9 loài cây;  bác Ngô Nguyên Ngần ( Cầu Giấy, Hà Nội): trên hai chục loài; bác Khuất Văn Trân ( Thạch Thất, Hà Nội): 27 loài; bác Hoàng Văn Mùi ( Gia Viễn, Ninh Bình): 30 loài; bác Nguyễn Văn Hà ( Hưng Hà, Thái Bình): trên 40 loài; bác Nguyễn Văn Thông( Hiệp Hoà, Bắc Giang): 41 loài; bác Lê Văn Thiện ( Vinh, Nghệ An): 46 loại;bác Nguyễn Ngọc Thạch ( Thành phố Ninh Bình): 49 loài và bác Nguyễn Đình Song (Ý Yên, Nam Định): 49 loại...vân vân.


  Với quan niệm tương đối cho rằng cỏ là một loài cây, gai góc cũng là một loài cây, bác Lê Văn Thiện thống kê được 46 loài cây đã nhắc tên trong Truyện Kiều. Thế thì đáp số cuối cùng là bao nhiêu loài? Xin thưa: khoảng 55 loài. Sau đây là bảng thống kê ( theo thứ tự thống kê của bác Lê Văn Thiện và bổ sung thêm 9 loài nữa): Liễu, Đào, Trúc, Mai, Quỳnh, Dao, Trà Mi, Hải Đường, Lê, Cúc, Lan, Huệ, Sen, Dâu, Lựu, Cỏ, Tùng, Phù Dung, Hạnh, Mận, Phong, Thuần, Phỉ, Xuân, Huyên, Tử (cây Thị), Hoè, Bồ, Phần, Dương, Bách, Bèo, Rêu,  Mẫu Đơn, Quế, Đằng ( cây Mây), La (một loại dây leo), Lau ( tức Vi Lô), Cải, Quýt, Ngô Đồng, Sắn, Bìm, Mướp Đắng, Cỏ Tranh, Gai Góc, Bồ Đề, Trà, Chàm, Đào Tiên, Bồng , Hồng, Hoàng Lương ( Kê), Bối, Cát( sắn dây) .


    Để dễ nhớ, tôi xin thống kê lại theo thể thơ lục bát:


Trà mi, mai, trúc, liễu, đào


Phù dung, hạnh, mận, quỳnh, dao, quế, hồng


Huệ, lan,dâu, lựu, cỏ, bồng


Đằng, la, phần, tử, ngô đồng, xuân, huyên,


Mẫu đơn, cải, quýt, sắn, bìm


Hoàng lương, mướp đắng, đào tiên, bồ đề


Cỏ tranh, gai gốc, bồ, hoè


Bèo, rêu, phong, phỉ, lau, lê, Hải đường


Trà, chàm, cúc, bối, bách, dương


Sen, tùng, cát nữa: tổng chừng năm lăm (55)!


    Như vậy chúng ta đã thống kê được 55 loài cây đã nhắc tên trong Truyện Kiều, và coi đây là con số tương đối, chứ không phải bất di bất dịch. Dù sao, đây là một lượng thông tin rất đáng ghi nhận đối với những ai say mê và thích tìm hiểu Truyện Kiều. Như vậy, con số 127 loài cây mà vị cán bộ huyện Nghi Xuân nói cách đây chừng 20 năm là con số… bịa, nhiều gấp hơn hai lần con số thực!


   Cũng tương tự, chúng tôi đã ra câu đố sau đây để cùng thính giả cả nước tìm số con trong Truyện Kiều:


 


Lầu không én liệng xập xè


Dưới trăng, quyên đã gọi hè bao đêm


Có cây, ắt sẽ có chim


Có hoa, ong bướm sẽ tìm đến thôi


Cỏ, cây biết hết tên rồi


Bao loài động vật xin mời chỉ ra!


 


      Khi ra câu đố này, chúng tôi vẫn đinh ninh rằng, lời giải sẽ dễ hơn tháng trước đố về cây cỏ trong Truyện Kiều, nhưng khi đọc các bài giải của thính giả gửi về, mới biết rằng, riêng việc thống kê các con vật đã xuất hiện trong Truyện Kiều cũng không đơn giản, nên kết quả thống kê cũng khá chênh lệch nhau: Bác Phí Hữu Tiệp ( thành phố Việt trì, Phú Thọ) chỉ thống kê được 12 loài vật; cụ Nguyễn Văn Nho ( Sơn Dương, Tuyên Quang): 28; thính giả Hồ Bảo (Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá): 30 ; Phùng Văn Viêng ( Thiệu Hoá, Thanh Hoá): 33; Nguyễn Ngọc Quỳnh ( Vũ Thư, Thái Bình): 38 ; bác Lê Văn Thiện ( Vinh, Nghệ An): 38 ; Nguyễn Ngọc Thường (Thái Thuỵ, Thái Bình): 39 ; Nguyễn Bá Trĩ ( Hậu Lộc, Thanh Hoá) : 40; Nguyễn Đình Quất (Quế Võ, Bắc Ninh): hơn 40; Hoàng Văn Mùi ( Gia Viễn, Ninh Bình): 45;  Nguyễn Đình Song (Ý Yên, Nam Định): 49;  Đỗ Liên Tiếp ( Lương Tài, Bắc Ninh):51. Đặc biệt thính giả Trần Tất Trừ ( Quảng Xương, Thanh Hoá) tính được đến 62 loài vật!


   Đọc kỹ các bài giải đố chúng tôi thấy rằng, những thính giả thống kê dưới 40 loài vật, nói chung là thiếu, còn các thính giả thống kể trên 40 loài, “mỗi người một vẻ” nhưng  vừa thiếu, vừa thừa. Ví như bác Nguyễn Đình Song thống kê được 49 loài nhưng thừa mất 9 loài, vì bác cho rằng Chim hôm, chim lồng, chim trời, bóng chim là những loài chim, cá nước, cá chậu là những loài cá… đồng thời bác tính Ma, Quỷ là những loài vật. Một số thính giả coi chữ Tuất trong Truyện Kiều là chỉ con chó, với nghĩa lân tuất là chó hàng xóm. Chúng tôi biết rằng, những thính giả này đã dựa vào một bản Truyện Kiều mà sự giảng giải và hiệu đính không chính xác. Sự thật lân tuất là thương xót, chứ không liên quan con vật nào ở đây cả! Nhưng người thừa nhiều nhất là thính giả Trần Tất Trừ, vì bất cứ một từ nào mà trùng tên một loài vật, ông đếu tính là loài vật, ví như nông, khách, báo, trai, chồn, giang…! Theo chúng tôi, tính thế này là không chính xác, bởi đây là hiện tượng đồng âm dị nghĩa.


   Thế thì trong Truyện Kiều bao nhiêu loài vật đã được nhắc tên?


Như số đông thính giả, chúng ta thống nhất rằng, có ba danh từ riêng nhưng trùng tên các con vật thì ta coi như con vật được nhắc tên, đó là Đồng Tước ( sẻ ), Khuyển ( chó), Ưng ( chim ưng) và xem con tằm và con ngài là hai con khác nhau (xét về mặt hình dáng), chúng ta thống kê được các con vật như sau ( dựa vào bảng thống kê của bác Lê Văn Thiện và bổ sung 10 loài còn sót):


1: Thuý, 2: Uyên,3: Phượng, 4: Loan, 5: Rồng, 6: Bằng, 7: Hổ (hùm), 8: Sói, 9: Ruồi, 10: Hạc, 11: Oanh (Chim Anh), 12: Lươn, 13: Khuyển, 14: Ưng, 15: Mèo, 16: Gà, 17: Trâu, 18: Ngựa, 19: Tằm, 20: Ngài, 21: Ve, 22: Vượn, 23: Rắn, 24: Dẽ, 25: Chuồn, 26: Sư Tử, 27: Kiến, 28: Nhện, 29: Thỏ, 30: Ác, 31: Én ( hay Yến), 32: Quyên (Đỗ Quyên), 33: Bướm ( Hồ Điệp), 34: Ong, 35: Nhạn, 36: Mồi (Đồi Mồi), 37: Chim ( nói chung), 38: Cá ( nói chung), 39: Vược ( hoặc Hức), 40: Chim Xanh, 41: Chim Hồng, 42: Con ghẻ, 43: Huỳnh (Đom Đóm), 44: Giao Long ( Rồng Cá), 45: Chim Tinh Vệ, 46: Kình ( Cá Voi), 47: Ngạc (Cá sấu), 48: Ngần ( một loài cá rất trắng), 49: con Điêu.


   Như vậy là chúng ta đã thống kê được 49 loài vật, tuy nhiên đây không phải là con số bất di bất dịch, ví dụ như chữ Ngần chẳng hạn, cụ Bùi Kỷ thì coi là một loài cá, nhưng cụ Đào Duy Anh chưa đồng ý. Hay như chữ ghẻ, cũng có thể coi là một bệnh chứ không tính là con! Bởi vậy chúng ta nên nói một cách tương đối rằng gần 50 loài vật đã được cụ Nguyễn Du nhắc tên trong Truyện Kiều. Phải chăng đây cũng là một kết luận có ý nghĩa đối với những ai thích tìm hiểu Truyện Kiều?   


                                                                                     


 PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CỦA THÚY  KIỀU


 


    Nàng Kiều sống vào những năm Gia Tĩnh Triều Minh bên Trung Quốc, tính ra cách đây ngót 500 năm. Thời đó chưa có tàu hoả, chưa có ô tô, còn máy bay chưa xuất hiện trong ý tưởng của các nhà khoa học. Tất nhiên phượng tiện giao thông ngày đó nghèo hơn và tốc độ chậm hơn rất nhiều so với các phương tiện đi lại ngày nay.Vấn đề đặt ra: Thuý Kiều đã sử dụng các loại phương tiện giao thông nào, và mỗi loại sử dụng bao nhiêu lần.


   Dọc theo cuộc đời lưu lạc mười lăm năm của Thuý Kiều, nếu để ý nhận xét, ta sẽ thấy được nàng sử dụng các phương tiện sau đây:


A – Đi Xe.


 Đó là loại xe do ngựa kéo khi Mã Giám Sinh đưa nàng đi từ Bắc Kinh về Lâm Tri, suốt một tháng trời. Chúng ta kết luận được như vậy là nhờ các câu: “Đoạn trường thay, lúc phân kỳ. Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh” là nói khi chia tay, còn trên đường thì: “Đùng đùng gió giục, mây vần. Một xe trong cõi hồng trần như bay”. Và “Lâm Tri vừa một tháng tròn tới nơi” . Đây là loại xe dùng để đón dâu, chắc là sang trọng, nên được gọi là “xe châu”: “xe châu dừng bánh cửa ngoài . Phía trong bỗng có một người bước ra”. Là nàng Kiều gặp mụ Tú Bà đấy. Trong mười lăm năm lưu lạc, đây là lần duy nhất nàng Kiều đi xe.


B – Đi Ngựa:


Nàng Kiều đi ngựa hai lần. Lần đầu tiên là lẩn trốn theo Sở Khanh:
 “ Cùng nhau lẻn bước xuống lầu. Song song ngựa trước, ngựa sau một đàn”.Tất nhiên cuộc lẻn trốn không thành, bị Tú Bà bắt về tiếp khách. Lần thứ hai nàng đi ngựa sau khi bị bọn Khuyển Ưng đánh thuốc mê ; “Vực ngay lên ngựa tức thì. Phòng đào, viện sách bốn bề lửa dong”.


 C - Đi kiệu.


Theo thứ tự thời gian, ta có:


1 - Đi kiệu về nhà trọ (trú phường) với Mã Giám Sinh: “Kiệu hoa đâu đã đến ngoài. Quản huyền đâu đã giục người sinh li”.


2 - Đi kiệu về với Thúc Sinh sau khi thắng kiện và được Thúc Ông chấp nhận: “ Kíp truyền sắm sử lễ công. Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao”.


3 - Bạc Hạnh thuê kiệu rước vào lầu xanh ở Châu Thai: “Mượn người thuê kiệu rước nàng. Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa”.


4 - Đi kiệu về đại bản doanh Từ Hải: “Dựng cờ, nổi nhạc lên đàng. Trúc tơ trổi trước, kiệu vàng cất sau”.


5 - Đi kiệu xuống thuyền Thổ Quan: “Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền. Lá màn rũ thấp, ngọn đèn khêu cao”.


6 - Đi kiệu cùng cả nhà sau khi gặp nhau ở thảo am bên sông Tiền Đường:


“ Kiệu hoa giục giã tức thì. Vương ông dạy rước cùng về một nơi”.


D- Đi thuyền:


1- Đi thuyền theo bọn Khuyển, Ưng từ Lâm Tri về Vô Tích: “ Khuyển , Ưng đã đắt mưu gian/ Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền/ Buồm cao lèo thẳng cánh suyền/ Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang…”.


2 – Đi thuyền cùng Bạc Hạnh đến Châu Thai: “ Thuyền vừa áp thẳng tới nơi. Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày”.


3 – Đi thuyền xuống sông Tiền Đường cùng Thổ quan: “ Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền. Lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao”.


4 – Đi thuyền khi được ngư phủ cùng Giác Duyên vớt lên: “ Trên mui lướt mướt áo là. Tuy dầm hơi nước chưa loà bóng gương” .


  Trong mười lăm năm lưu lạc, Thuý Kiều có một chuyến đi bộ dài nhất là đêm trốn khỏi Quan Âm Các đi  về Chiêu Ẩn Am gặp Giác Duyên.


  Để dễ nhớ nội dung này, ta diễn ra thơ lục bát:


 


                    Người ta xe, ngựa thì vui
                    Thuý Kiều xe, ngựa ngậm ngùi, gian truân


Nổi chìm trong cuộc trầm luân


Kiệu hoa sáu chuyến, ba lần lệ rơi.


 


- Biệt quê, thương chửa hết lời


"Kiệu hoa đâu đã đến ngoài", giục đi


- Sắc, tài thắng kiện Lâm Tri


"Kiệu hoa cất gió" ai bì xênh xang.


 - "Mượn người thuê kiệu rước nàng"


Châu Thai, Bạc Hạnh tìm đàng trốn mau.


 - Trúc tơ trước, kiệu vàng sau


Chờ Từ Công chỉ ít lâu, phỉ nguyền.


 - Mất chồng, Tôn Hiến ép duyên


"Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền" thổ quan


 - Gặp nàng nương chốn thảo am


"Kiệu hoa giục giã" cả đoàn về mau


 - Sở Khanh kế hiểm, mưu sâu


"Song song ngựa trước ngựa sau " lừa nàng


 - "Khuyển, Ưng đã đắt mưu gian"


"Vực ngay lên ngựa" mơ màng thuốc mê


 - Bán mình, nàng phải theo xe


Giám Sinh họ Mã dẫn về Lâm Tri


Thuyền thì bốn lượt từng đi:


Lần đầu mê thuốc biết gì Kiều ơi


Lần hai Bạc Hạnh nuốt lời


“Thuyền vừa áp thẳng tới nơi” bán nàng.


Lần ba, lần bốn Tiền Đường


Một thuyền oan nghiệt, cưu mang một thuyền.


 


 


NHỮNG AI NÓI DỐI TRONG KIỀU?


 


Đố:


“Trăm năm trong cõi người ta”


Dối gian đáng ghét, thật thà đáng yêu


Thế mà trong một Truyện Kiều


Lắm người gian dối, đặt điều bao nơi


Truyện Kiều đó đọc kỹ rồi
Những ai nói dối xin mời kể ra.


 


     Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa gian dối và nói dối. Nói dối là sự gian dối được thể hiện qua lời nói. Bởi thế có người tuy gian dối nhưng chưa chắc đó nói dối. Khi giải đố câu này ta nên chú ý điều đó.


    Trước hết ta thống kê xem những ai đó nói dối và núi dối như thế nào.


 


1 - Kim Trọng: "Mượn điều du học hỏi thuê", tức là nói dối thuê nhà để du học, thực ra là để được gần Thuý Kiều.


2 - Thằng bán tơ: Dối trá, khai cho Vương Ông tũng phạm trong vụ ăn cướp khi bị tra khảo.


3 - Mó Giám Sinh: - Nói dối lấy vợ để mua người về lầu xanh.


                                  - Nói dối bịa đặt quê ở Lâm Thanh.


                              - Nói dối khi thề thốt với Vương ông là sẽ tốt với nàng Kiều.


4 - Tú Bà : Nói dối sẽ tìm nơi xứng đáng gả chồng cho Thuý Kiều.


5 - Sở Khanh: Nói dối đưa Kiều đi trốn, thực ra để Tú Bà bắt Kiều.


6 - Thúc Sinh: - Nói dối, lừa Tú bà để hoàn lương Kiều.


                        - Nói dối với Hoạn Thư 2 lần ( một lần khi mới trở lại nhà, và một lần lẻn ra Quan âm các tâm sự với Thuý Kiều bị Hoạn Thư bắt được)


7- Hoạn bà : Nói " Cho về bên ấy theo đòi lầu trang", thực ra để chuẩn bị cho Hoạn Thư hành hạ.


8 - Hoạn Thư: - Nói dối với bọn gia nhân: " Chồng tao nào phải như ai. Điều này hẳn miệng những loài thị phi" là nói dối lòng mình, khi đó biết chắc Thuý Sinh đó cưới Thuý Kiều.


                         - Nói dối với Thúc Sinh: "Mười phần ta đó tin nhau cả mười".


9 - Thuý Kiều: " Bản sư rối sẽ đến sau/ Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh" là lời nói dối với Giác Duyên.


10 - Bạc Bà: - Nhiều lần đặt điều vu cho Thuý Kiều: "Hư không đặt để nên lời".


                     - Dối trá khi khen Bạc Hạnh: "Thật thà có một, đơn sai chẳng hề".


11- Bạc Hạnh: Nói dối khi thề thốt với thánh hoàng, thồ công, giả vờ làm lễ cưới Thuý kiều.


    Như vậy chúng ta đó thống kê đươc 11 người từng nói dối trong Truyện Kiều. Khuyển, Ưng chỉ thực hiện âm mưu của Hoạn Thư chứ chúng không hề nói dối, thậm chí chúng không hề nói một câu nào. Còn Hồ Tụn Hiến thì sao? Ông này lập mưu nhằm tiêu diệt Từ Hải gồm các việc sau:


  - Sai quan thuyết hàng Từ Hải.


  - Tặng vàng bạc cho Thuý Kiều để Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng.


  - "Lễ binh dàn trước, bác đồng phục sau" để đánh úp, tiêu diệt khi Từ Hải ra đầu hàng.


  Nếu như Hồ Tôn Hiến trực tiếp thuyết hàng Từ Hải, thì tất nhiên y sẽ là kẻ núi dối vỡ phải hứa hẹn này nọ với Từ Hải, nhưng việc này y đó giao cho người khác làm. Và người thuyết hàng đó cũng không chắc đó nói dối, mà chỉ làm theo lệnh của cấp trên mà thôi. Ngay cả sau khi Từ Hải chết, Hồ Tôn Hiến có nói với Thuý Kiều nhiều câu, nhưng không câu nào là chắc chắn y nói dối cả. Như vậy Hồ Tôn Hiến là kẻ chủ mưu lừa để tiêu diệt Từ Hải, nhưng trong Truyện Kiều, chúng ta khó chỉ ra câu nào để khẳng định ông ta nói dối. Đó là điều làm ngạc nhiên nhiều người trước khi tham gia giải đố câu này.


         


               LỜI GIẢI


 


"Trăm năm trong cõi người ta"
Những lời nói dối cũng ba bảy đường


Khi thì vô hại, đáng thương


Khi thỡ gieo rắc tai ương đủ bề.


 


Vì Kiều, Kim bỏ xa quê


Dối điều du học, đến thuê cạnh nhà
Thúc Sinh nói dối Tú bà
Đưa Kiều nghỉ mát để mà hoàn lương
Vài lần nói dối Hoạn nương
Chỉ vì sợ vợ và thương Thuý Kiều
Nàng Kiều gặp lúc gieo neo
Muốn nương cửa Phật đặt điều dối quanh
Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh


Những lời dối ấy thương tình, người ơi.


 


Thằng bán tơ dối một lời
Tan nhà Viên Ngoại, nát đời Kiều nhi
Bịa Lâm Thanh, giấu Lâm Tri
Giả bề tìm vợ để đi mua người
Đem về tiếp khách kiếm lời
Mã Sinh phải chịu tội trời về sau.


Tú bà núi dối làu làu
Tìm nơi xứng đáng về sau gả chồng
Sở Khanh nói dối thần thông
Lừa Kiều để nhận tiền công Tú bà
Mẹ con họ Hoạn danh gia
Hay tin chàng Thúc phương xa phụ tình


Lắm khi dối cả lòng mình
Lập mưu hành hạ địch tình hả ghen


Bạc Bà nói dối bao phen


Hư không đặt chuyện, ép duyên lừa người
Điêu toa khen cháu hết lời
Thật thà có một đơn sai chẳng nào!
Còn thằng bạc Hạnh thì sao?
Thề nguyền dối cả trời cao đất dày
Chỉ vì tiền lãi trao tay
Đẩy Kiều trở lại vũng lầy lầu xanh


May mà có "khách biên đình"


Dối gian bao kẻ tan tành thịt xương.


 


Truyện Kiều đọc suốt canh trường
Lắm phường nói dối càng thương Thuý Kiều.                                                                


VT.


 


 CHỈ LÀM KHÔNG NÓI              


 


Đố:


Người đời tính nết khác nhau
Kẻ thì luôn miệng trước sau nối lời
Người thì kín tiếng, im hơi


Chân tay làm lụng không ngơi sớm chiều


Vậy xin được hỏi một điều:


Chỉ làm, không nói trong Kiều, những ai?


 


Trước hết, ta thống kê xem những ai "chỉ làm không nói":


 - Vài thằng con con đi theo Kim Trọng.


 - Gia đồng đưa tin "thúc phụ từ đường" tới Kim Trọng.


 - Khuyển, Ưng đốt nhà, đánh thuốc mê bắt Kiều.


 - Hai ả Xuân, Thu lo hương trà ở Quan Âm Các.


 - Quân của Từ Hải "Ba quân chỉ ngọn cờ đào/ Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri".


 - Hai tên thể nữ do Hồ Tôn Hiến tặng Kiều.


 - Thổ quan.


 - Hai ngư phủ Giác Duyên thuê để chực đón Kiều trên sông Tiền Đường.


 - Vợ của Vương Quan.


 - Một số người phục dịch, hầu hạ, hoặc đám đông như tay chân Tú Bà, những người khênh kiệu, ả hoàn, nô tỳ trong nhà họ Hoạn, quân lính của Từ Hải, của Hồ Tôn Hiến vân vân...


   Theo chúng tôi, bốn nhóm nhân vật quan trọng nhất đại diện cho những người chỉ làm không nói là: Khuyển Ưng, Thổ quan, hai ngư phủ, và Xuân Thu. Còn những nhóm người khác, nếu tính sót một số cũng không sao.


   Trong các bài giải chúng tôi nhận được, nhiều người tính thừa ra, xem một số người sau đây không nói là chưa chính xác:


 - Người khách viễn phương tìm đến Đạm Tiên. Những câu :"Khóc than khôn xiết sự tỡnh/ Khéo vô duyên bấy là mình với ta/ Đó không duyên trước chăng mà/ Thi chi chút ước gọi là duyên sau"...là Vương Quan lược thuật lời của vị khách này đấy!


 - Thằng bán tơ: "Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ": Nó vu oan khai tội cho Vương Ông, khả năng rất lớn là nó nói, chứ không phải khai bằng văn bản như một số thính giả lý luận.


 - Bọn sai nha."Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh", là tiếng bọn sai nha đấy.


 - Chung ông. Chung ông đã "Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày" là nói đấy!


 - Mã Kiều. Sự thật Mà Kiều nói rất nhiều: "Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời: Thôi đà mắc lận thì thụi / Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh..."


 - Mụ chủ chứa ở Châu Thai. Mụ này " Bắt nàng vào lạy gia đường", tất nhiên mụ có nói thì Thuý Kiều mới biết được lệnh mà làm theo...


  Điều đáng mừng là có nhiều bài giải nêu khá đầy đủ những người chỉ làm không nói, nhất là bốn nhóm người không nên bỏ sót trên kia. Vấn đề còn lại là bố cục, cách lập luận, diễn giải sao cho chặt chẽ và hấp dẫn.


   Một số thính giả nhập đề khá hay, như cụ Nguyễn Văn Tố ( xã Cách Bi, Quế Võ, Bắc Ninh):


 


Ngẫm trong kho báu Truyện Kiều


Bao người nói dối, nói điêu rõ rồi


Còn người kín tiếng im hơi


Chỉ làm không nói đôi lời xin thưa.


 


Bà Hoàng Kim Thoa (phố Tiền Phong - Tiền Cát - Việt Trì - Phú Thọ) lập luận khá có lý:


Bao người kín tiếng, im hơi


Dành nhân vật chính nói lời giao lưu.


Ông Nguyễn Minh Thắng ( xã Sư Ngòi, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bỡnh) lại luận về những người chỉ làm không nói theo cách riêng:


Có tài có tiếng với đời


Xoàng xoàng chìm tiếng im hơi chẳng rằng...


Thính giả Thạch Càn Thôn, nói khá đúng bản chất những người chỉ làm không nói:


Chỉ làm không nói trong Kiều


Xem ra cũng có khá nhiều chức danh


Những tên đầy tớ trung thành


Vâng theo lệnh chủ mà hành động thôi


Họ cần chi phải mở lời


Đó là Ưng, Khuyển bắt người dâng công...


 Mở đầu bài giải của mình, bà Mai Thị Huệ (xó Nga Bạch, Nga Sơn, Thanh Hoá) có nhận xét khá đúng về một số người chỉ làm không nói là" vì không được nói hoặc không dám nói". Rồi tiếp theo:


Điểm trong xã hội Truyện Kiều


Giàu sang, quyền chức bao nhiêu là người


Cũng nhiều thân phận tôi đòi


A hoàn phục dịch, cùng người làm thuê...


 để "khoanh vùng" đối tượng cần thống kê.


    Ông Nguyễn Văn Hà ( Thị trấn Hưng Nhân - Hưng Hà - Thái Bình) có nhận xét tương tự,sau khi thống kê:


Những người không nói kể trên


Phải đâu bận việc đến quên lẽ lời


Họ là kẻ dưới, tôi đòi


Chỉ làm theo lệnh của người bề trên.


Còn ông Phạm Huy Liệu (Quang Minh - Gia Lộc - Hải Dương), đúc kết theo kiểu phân loại:


Những người làm chẳng nói ra


Nghĩa nhân cũng lắm, xấu xa cũng nhiều...


   Điểm qua một số câu như vậy trong các bài giải là chúng tôi muốn lưu ý một điều: bài giải hay không những thống kê đây đủ, mà còn có những nhận xột, tổng kết của người tham gia giải đố.


  Đây là một câu đố tương đối khó, nhưng nếu chịu khó theo dõi, thống kê thì chúng ta hiểu thêm được một loại người trong Truyện Kiều cũng như trong xã hội. Sau đây là lời giải của chúng tôi.


 


           LỜI GIẢI


Ngẫm xem những kẻ trong Kiều


"Chỉ làm không nói", có điều nghiệm ra:


Phần nhiều phục dịch người ta


Làm theo lệnh chủ, hoặc là đám đông.


 


Trẻ con vài đứa tiểu đồng


Chàng Kim đi hội, lòng vòng theo sau


Gia đồng sang chuyển tin đau


Việc làm chăm chỉ, chứ đâu cần lời.


 


Quan Âm Các, đấy là  nơi


Xuân, Thu hai ả buồn vui với Kiều


Hương, trà ngày tháng lo đều


Lặng yên cửa Phật, kỵ điều nói năng.


 


Hai ông ngư phủ chài giăng


Đón nàng, đợi vớt được nàng mới thôi


Bao lâu chẳng thốt một lời


Mặc cho sóng vỗ, nước trôi Tiền Đường.


Khuyển, Ưng hai đứa vô lương


Thuốc mê tưới đẫm hỏi nàng biết chi?


"Vực ngay lờn ngựa tức thì"


Mưu nhà họ Hoạn thực thi, miễn bàn.


 


Bị Hồ Tôn Hiến chơi gian


Ép duyên người đẹp, Thổ Quan tưởng hời


Vui chưa kịp thốt nên lời


Sông sâu nhảy xuống biết rồi ra sao?


 


"Ba quân chỉ ngọn cờ đào


Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"


Lệnh nghiêm, họ chẳng núi gì


Để cho đội ngũ uy nghi, chỉnh tề.


 


Lặng im làm, lặng im nghe


Tay sai mụ Tú bắt về Kiều nhi.


Những người khênh kiệu lầm lỳ


Im hơi đưa đón nàng đi bao lần.


"Dưới hoa dậy lũ ác nhân"


Tôi đòi họ Thúc thất thần trốn đi.


Nhà họ Hoạn, lũ thanh y


Ra vào sao chẳng núi gì với nhau?


Hai tên thể nữ Hồ trao


Theo Kiều lặng lẽ để hầu nàng thôi.


Vợ Vương Quan mới lạ đời


"Bà quan" mà lại kiệm lời thế sao?


 


Đọc Kiều suy ngẫm trước sau:
"Chỉ làm không nói" phải đâu người tài! 


 


VT.


VẦNG TRĂNG VỚI THÚY KIỀU


 


    Theo quy luật tự nhiên, số đêm có trăng cũng chỉ xấp xỉ với đêm tối trời, thế nhưng trong Truyện Kiều, phần lớn các đêm đều có trăng. Nếu như tôi thống kê không nhầm, thì chỉ có ba đêm không trăng, đấy là đêm Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân, đêm cùng Mã Giám Sinh ở trú phường và đêm Hoạn Thư đánh ghen bắt hầu đàn. Trường hợp thứ nhất và thứ ba, có thể do  chuyện xẩy ra trong đêm khuya, lại ở trong nhà, nên vầng trăng không xuất hiện. Trường hợp thứ hai, là đêm Thúy Kiều bị lão Mã hại đời trinh tiết, tác giả muốn mô tả một đêm kinh hoàng, tăm tối “ Trời hôm mây kéo tối sầm/ Dàu dàu ngọn cỏ, đầm đầm cành sương” dẫn đến “ Tiếc thay một đóa trà mi/ Con ong đã tỏ đường đi lối về”, và “ Đời người thôi thế là xong một đời” nên không cho vầng trăng nào xuất hiện?


  Trong Truyện Kiều, với Thúy Kiều đêm đầu tiên là đêm sau ngày mấy chị em đi chơi thanh minh. Đêm đó Thúy Kiều ám ảnh bởi Đạm Tiên, manh nha  mối tình với chàng Kim và vầng trăng đã mấy lần xuất hiện với các tên gọi khác nhau, khi thì “Gương nga chênh chếch dòm song”, “Một mình tựa ngắm bóng nga”; khi thì “Chênh chênh bóng nguyệt xế mành”…với chức năng chủ yếu là dẫn dắt Thúy Kiều vào cõi mộng.


  Thứ hai là khi cả nhà đi dự “sinh nhật ngoại gia”, Thúy Kiều tận dụng cơ hội lẻn sang thăm chàng Kim hai lần. Đi lần thứ nhất không thấy có trăng, vì ban ngày, nhưng lần thứ hai thì “Nhặt thưa gương giọi cầu cành” khi nàng “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Và vầng sáng nhất, quan trọng nhất trong đêm ấy là vầng trăng chứng kiến thề bồi: “ Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai mặt một lời song song”.


   Một tháng ròng theo Mã Giám Sinh đi từ Bắc Kinh về Lâm Tri, tất nhiên thế nào cũng có đêm có trăng, và tác giả đã dành cho một câu tả cảnh, tả tình hay vào loại bậc nhất của Truyện Kiều:


Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi


Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.


Khuya, ngồi trên xe ngựa đi đường nhìn lên trời, mây mù như tan ra cho vầng trăng hiển hiện.Ôi, vầng trăng thề thốt vẫn còn kia, mà mình đã phụ lời với người tình, mắt gặp lại trăng mà lòng thẹn với lòng!


 Ở Lâm Tri nàng buồn, chiều hôm ra ngồi trước lầu Ngưng Bích, nhìn ngang màn trời chợt nhận ra “ Vẻ non xa, tấm trăng gần, ở chung”. Trong tự nhiên thì trăng xa hơn núi, nhưng trong khoảnh khắc ấy, núi non như đẩy xa ra, vầng trăng như kéo gần lại, để cả hai thứ ấy  cùng nằm trong một bình diện.


    Rồi nàng mắc lừa Sở Khanh, trốn đi trong “Đêm thu khắc lậu, canh tàn/ Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương”, hình như cảnh ấy muốn báo một chuyện hãi hùng sắp diễn ra, là Sở Khanh trốn đi, Tú Bà bắt nàng về, đánh đập, buộc nàng phải chịu tiếp khách. Nhưng, “nghề chơi cũng lắm công phu”, Thúy Kiều phải học nghề như bao cô gái khác, điều oái oăm là cái mụ Tú Bà “nhờn nhợt màu da”ấy lại chọn đêm trăng sáng để dạy nghề lầu xanh! Nàng đã thực sự trở thành gái lầu xanh, dù có “vui gượng kẻo là” thì cũng phải tiếp khách, cũng phải biết “cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa” để chiều khách làng chơi, kể cả khi với Thúc Sinh “nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng”, chuốc rượu, nối thơ “ khi gió gác, khi trăng sân”…Rồi cũng vào một đêm trăng “ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương”, Thúc Sinh đã đánh lừa Tú Bà để hoàn lương Thúy Kiều. Sắc, tài đã cho nàng Kiều thắng kiện, dẹp cơn thịnh nộ của Thúc Ông, về chung sống “huệ lan sực nức một nhà” với Thúc Sinh. Thúy Kiều khuyên chồng về Vô Tích thăm vợ cả là Hoạn Thư, Thúc Sinh lên đường, nàng Kiều đưa tiễn, “ Vầng trăng ai xẻ làm đôi” một nửa ở lại với gối chiếc Thúy Kiều, một nửa theo dặm trường chàng Thúc!


   Một năm xa, một năm chờ đợi, vào một đêm thu, nàng nhìn lên bầu trời thấy vầng trăng khuyết và ba ngôi sao, tưởng ai tạc lên giữa không gian chữ TÂM, là chữ cuối của Thúc Kỳ Tâm, tên của Thúc Sinh, để nàng thêm nhớ chàng. Nhưng chính đêm trăng đó bọn Khuyển Ưng đã đến đánh thuốc mê bắt nàng đưa về Vô Tích theo mưu đồ đánh ghen của Hoạn Thư. Kể chi chuyện nàng bị Hoạn Thư hành hạ bắt hầu đàn, kể chi chuyện nàng ra ở Quan Âm Các, chỉ nhớ chuyện nàng trốn khỏi Quan Âm Các cũng vào một đêm trăng “ Cất mình qua ngọn tường hoa/ Lần đường theo ánh trăng tà về tây”.Trăng cứu Thúy Kiều ra khỏi Quan Âm Các thì “cữ cuối xuân / bóng hoa rợp đất, vẻ ngân ngang trời” lại đưa Bạc bà đến Chiêu Ẩn Am để mang tai họa cho nàng, bắt nàng trở lại lầu xanh, chỉ có khác là không phải ở Lâm Tri mà ở Châu Thai.


    Một đêm “gió mát trăng thanh” thật đẹp là đêm vị anh hùng Từ Hải xuất hiện, sau đó cứu nàng ra khỏi vũng lầy lầu xanh, nhưng rồi chính Từ mắc mưu Hồ Tôn Hiến, phải chết đứng. Bị ép gả cho thổ quan, nàng Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn khi “mảnh trăng đã gác non đoài”…Nhưng rồi chính Thúy Kiều được hai ngư phủ cứu, đưa về Thảo Am sống cùng Giác Duyên, “ Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng” chờ ngày đoàn viên “ trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”. Như thế, vầng trăng đã hành trình theo cuộc đời của Thúy Kiều. Và ta chắp lại thành thơ:


 


                         TRĂNG TRONG KIỀU


 


Phải chăng người đẹp trên trời


Kết thân người đẹp cõi đời từ lâu


Mà Kiều, đêm ở nơi đâu


Chị Hằng tìm đến bên nhau tự tình?


 


Vui buồn sau hội thanh minh


Gương nga, bóng nguyệt hiện hình sẻ chia


Thương nàng giấc mộng não nề


Cớ sao trăng lại đưa về Đạm Tiên?


 


Đầu cành trăng dọi nhà bên


Xăm xăm băng lối, chàng Kim sững sờ


Rõ ràng mở mắt còn ngờ


Vầng trăng chứng kiến tóc tơ thề bồi.


 


Chưa sum họp, đã chia phôi


"Thấy trăng mà thẹn những lời non sông"


Theo xe đi một tháng ròng


Vầng trăng thương cảm nỗi lòng Kiều nhi.


 


Gặp trăng mấy độ Lâm Tri


Trăng gần Ngưng Bích, xa gì lầu xanh


" Bóng nga thấp thoáng dưới mành"


Trăng ơi sao để Sở Khanh hiện về?


Lừa nàng lẩn trốn canh khuya


Gió cây trút lá thảm thê trăng ngàn


Tú Bà đã đắt mưu gian


Chọn khi nguyệt sáng dạy nàng nghề chơi!


Bẽ bàng chi bấy người ơi


Nửa rèm tuyết ngậm, trăng soi bốn bề


Câu thơ, nét vẽ não nề


Chiều người trong nguyệt tái tê cung đàn.


 


“Khi gió gác, khi trăng sân”


Với chàng Thúc biết bao lần hàn huyên


Dưới trăng hè vẳng tiếng quyên


Thang lan rủ trướng rõ thêm ngọc ngà


Biệt ly đau dặm đường xa


Vầng trăng xẻ nửa, quan hà chia hai.


“Tóc thề đã chấm ngang vai”


Ba sao, trăng khuyết tên ai giữa trời


Trốn Quan Âm các ra ngoài


Trăng tà soi bóng dẫn người về tây.


 


Khách biên đình bỗng một ngày


Trăng thanh gió mát sang đây thăm Kiều


Ngờ đâu oan nghiệt còn theo


Non đoài trăng gác đêm gieo Tiền Đường


Giác Duyên nhà cỏ đón nàng


Chay lòng dưa muối, gió trăng cõi thiền


Để rồi đón cảnh đoàn viên


Trăng tàn mà lại sáng lên không ngờ.


 


Trăng trời khi tỏ, khi mờ


Trăng Kiều tròn, khuyết - bao giờ cũng trong


Như nàng nước đẩy theo dòng


Mà nguồn trinh bạch giữ lòng vẹn nguyên


Trăng, người hội ngộ bao phen


Nỗi niềm trần thế thấu lên cõi trời!


 


THÚY KIỀU LÀM THƠ


 


             Chóng ta biÕt r»ng, Thuý KiÒu lµ ng­êi " pha nghÒ thi ho¹, ®ñ mïi ca ng©m " nh­ lêi giíi thiÖu cña NguyÔn Du vµo ®Çu thiªn truyÖn, hoÆc n«m na lµ " cã nghÒ ®µn l¹i ®ñ nghÒ v¨n th¬" nh­ lêi th¸n phôc cña hä §«. Trong TruyÖn KiÒu, nµng ®· ®¸nh ®µn tÊt c¶ t¸m lÇn, cã bèn lÇn ®­îc NguyÔn Du m« t¶ tû mû, bèn lÇn kh¸c chØ nãi qua. ThÕ th×, trong TruyÖn KiÒu, nµng ®· lµm th¬ bao nhiªu lÇn? Vµ lµm trong nh÷ng hoµn c¶nh nµo? Ta h·y lÇn theo TruyÖn KiÒu xem sao.


   Bên mộ Đạm Tiên nàng làm thơ hai lần.


Lần thứ nhất là một bài tứ tuyệt:


Rút trâm sẵn dắt mái đầu


Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần.


 Lần thứ hai là một bài cổ thi:


Lòng thơ lai láng bồi hồi


Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.


 Lần thứ ba Thuý Kiều làm thơ trong đêm sau khi viếng mộ Đạm Tiên trở về nhà:


Ngổn ngang trăm mối bên lòng


Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình


Lần thứ tư nàng làm thơ trong mơ khi gặp Đạm Tiên,  một lúc đủ mười khúc ngâm, đề bài do chủ hội Đoạn Trường ra .
                               Nàng vâng lệnh ý đề bài
                               Tay tiên một vẩy đủ mười khúc ngâm .


   Mặc dù nàng làm nhanh thế mà thơ rất hay, được Đạm Tiên khen rằng:"Nếu đem vào tập Đoạn Trường. Thì treo giải nhất chi nhương cho ai"!


  Lần thứ Năm nàng làm thơ đề trên bức tranh tùng do Kim Trọng vẽ:


Tay tiên gió táp mưa sa


Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu


được Kim Trọng khen  rằng làm thơ như "nhả ngọc phun châu" .


  Lần thứ sáu nàng phải làm thơ vịnh cây quạt  (cùng với việc đánh đàn)để thử tài khi nàng bán mình chuộc cha và kết quả bài thơ cũng như tiếng đàn làm vừa lòng khách ,thể hiện trong câu:


Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ


Mặn nồng mỗi vẻ một ưa…


 Lần thứ  bảy , Thuý Kiều làm thơ trước lầu Ngưng Bích, ''đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu", Sở Khanh nghe trộm rồi hoạ vần, bắt đầu mưu đồ lừa Thuý Kiều để lấy 30 lạng vàng của mụ Tú Bà.


Lần thứ tám Thuý Kiều làm thơ trong thời gian tiếp khách ở lầu xanh:


Đòi phen nột vẽ, câu thơ


Cung cầm trong nguyệt, nước cớ dưới hoa


Lần thứ chín với Thúc Sinh thể hiện qua hai câu:


Khi gió gác, khi trăng sân


Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nói thơ


Lần thứ mười nàng làm thơ vịnh cái gông trước công đường khi quan phủ xử  án thử tài:


Nàng vâng cất bút tay đề


Tiên hoa trình trước án phê xem tường


Và nhờ bài thơ này, nàng đã khỏi bị "phép gia hình", cũng không phải trở lại lầu xanh mà được chung sống cùng Thúc Sinh.


  Lần thứ mười một, khi sắp nhảy xuống sông Tiền Đường, nàng đã để lại "một thiên tuyệt bút", trong Truyện Kiều của Nguyễn Du không cho biết đấy là thơ hay văn xuôi, nhưng đọc Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì biết đó là bài thơ gồm sáu câu, nội dung như sau: Hẹn ước mười lăm năm trước. Hôm nay mới đến Tiền Đường. Trăm tuổi quang âm thấm thoắt. Một đời thân sự kê vàng. Tiếng sóng giục người mau bước. Từ đây hết kiếp đoạn trường! "


   Nh­ vËy trong TruyÖn KiÒu cña NguyÔn Du, Thuý KiÒu ®· lµm th¬ mười một lÇn, nhiÒu h¬n sè lÇn ch¬i ®µn, nh­ng chØ xÊp xØ mét nöa khi so víi sè lÇn nµng lµm th¬ trong Kim V©n KiÒu TruyÖn cña Thanh t©m Tµi Nh©n. Trong t¸m lÇn nµng ®¸nh ®µn, th× c¶ t¸m lÇn đều do ng­êi kh¸c yªu cÇu hoÆc Ðp buéc, cßn mười một lÇn lµm th¬ th× cã ®Õn sáu lÇn nµng tù lµm ®Ó nãi nçi lßng m×nh, chØ cã năm lÇn do ng­êi kh¸c yªu cÇu hoÆc Ðp buéc mµ th«i. Trong mười một lÇn lµm th¬, chØ cã hai lÇn nµng vui lµ khi ®Ò th¬ trªn bøc tranh tïng cña Kim Träng, và lần làm thơ với Thúc Sinh cßn chín lÇn kh¸c th× khi nµo còng buån, khi tù nµng lµm th¬ th× th¬ cµng buån, ®óng c¶ thiªn truyÖn lµ mét khóc ®o¹n tr­êng.


   NguyÔn Du kh«ng chØ gi¶m sè lÇn KiÒu lµm th¬ so víi Kim V©n KiÒu TruyÖn, mµ thÓ th¬ cña nh÷ng bµi KiÒu s¸ng t¸c, Cụ còng thay ®æi cho hîp lý h¬n, vÝ dô nh­ bµi th¬ ®Ò bªn mé §¹m Tiªn, Thanh T©m Tµi Nh©n viÕt: "Nµng liÒn vun ®Êt c¾m h­¬ng, sôp bèn l¹y, råi ®Ò mét bµi th¬ r»ng:S¾c h­¬ng ®©u ®ã t¸. Th¨m viÕng n·o lßng thay. Ch¨n gÊm tr¨ng soi l¹nh. §µi g­¬ng bôi phñ ®Çy.§Êt tuy vïi ngäc Êy. TuyÕt ch­a lÊp danh nµy.R­îu nhiÒu nh­ s«ng ®ã. Nµo ai t­íi chèn nµy. Thuý KiÒu ®Ò th¬ xong, buån rÇu sa n­íc m¾t…"


  NguyÔn Du chØ viÕt:


Rót tr©m s½n d¾t m¸i ®Çu


V¹ch da c©y, vÞnh bèn c©u ba vÇn


lµ ®· tinh gi¶n t¸m c©u th¬ trªn thµnh mét bµi tø tuyÖt. Mét ®iÒu l¹ n÷a lµ mÆc dï trong mét ®o¹n v¨n xu«i, mÊt kh¸ nhiÒu c©u ch÷, ng­êi ®äc vÉn kh«ng biÕt nµng KiÒu ®Ò th¬ vµo ®©u, thÕ nh­ng chØ trong hai c©u lôc b¸t, NguyÔn Du cho ta biÕt nµng kh¾c th¬ vµo da c©y, vµ khi ®ã th× mét bµi tø tuyÖt hîp lý h¬n. Sù s¸ng t¹o nh­ thÕ nµy ta th­êng xuyªn gÆp khi so s¸nh TruyÖn KiÒu víi Kim V©n KiÒu truyÖn.


   Đäc l¹i TruyÖn KiÒu, b¹n chó ý xem thö ngoµi mười một lÇn ®· ®­îc nªu trªn, Thuý KiÒu cã lµm th¬ lÇn nµo n÷a kh«ng ?


                                                                                              


                                                                                                          


 THỦ PHÁP ĐẢO NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU


       Cũng như nhiều nước trên thế giới, ngôn ngữ chúng ta ngày càng phát triển, phong phú. Đó là nhờ công lao của hàng triệu người, hàng trăm thế hệ, trong suốt hàng ngàn năm. Các nhà văn, nhà thơ lớn đã góp phần không nhỏ vào thành tựu này. Nhưng muốn làm giàu ngôn ngữ của dân tộc, thì cụ thể phải làm những việc gì? Theo tôi, có ba việc chính. Thứ nhất là tạo thêm từ mới. Thứ hai, tạo thêm nghĩa mới cho từ đã có sẵn. Thứ ba, tạo ra cách diễn đạt mới không theo thói quen thông thường. Hai trường hợp trên thuộc về từ vựng, trường hợp thứ ba thuộc về cú pháp.


   Đại thi hào Nguyễn Du là nhà thơ lớn nhất của dân tộc ta suốt mấy ngàn năm qua. Ông là người làm giàu cho tiếng Việt, qua Truyện Kiều, đủ cả ba yếu tố trên.


Thứ nhất: Tạo từ mới.


 Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã tạo ra nhiều từ mới, chỉ xin đơn cử một thí dụ. Khi Thúy Kiều từ Bắc Kinh, sau một tháng ròng theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri, gặp mụ Tú bà, và đây là việc làm và hành động của mụ:


Lạy xong hương hỏa gia đường


Tú bà VẮT NÓC lên giường ngồi ngay.


“Vắt nóc” là gì? Có thể là kiểu leo lên giường một cách khác thường hay kiểu ngồi trịch thượng, ra oai, coi thường người khác của mụ Tú, thế nhưng nếu tra từ điển để tìm nghĩa của hai chữ VẮT NÓC thì chắc chắn không có trước khi có Truyện Kiều. Như vậy là Nguyễn Du đã làm giàu thêm ngôn ngữ ta bằng hai từ VẮT NÓC với nội dung như trên đã nói, bằng con mắt nhìn không hề có tình cảm của tác giả.


 Thứ hai: Tạo thêm nghĩa mới: 


Khi bọn Ưng, Khuyển bắt Thúy Kiều từ Lâm Tri về Vô Tích nộp cho Hoạn bà, Hoạn bà đã tra hỏi rồi cho gia nhân đánh đập Thúy Kiều tàn nhẫn, Nguyễn Du viết:


Gạn gùng ngọn hỏi, ngành tra


Sự mình cứ thế nàng mà gửi thưa


Bất bình nổi trận MÂY MƯA


Quở rằng những giống bơ thờ quen thân…


Từ trước đến nay, với chúng ta, ai cũng hiểu hai chữ “mây mưa” là nói chuyện quan hệ tình dục giữa trai gái (thường dùng ngoài hôn thú). Dùng từ điển mà tra, chúng ta chỉ được nghĩa ấy, không thể phù hợp trong hoàn cảnh này. Như vậy, Nguyễn Du đã đưa ra một hoàn cảnh, để cho chữ MÂY MƯA có thêm một nghĩa mới, “trận mây mưa” cũng giống như “trận lôi đình” vậy.


Thứ ba: Tạo ra cách diễn đạt mới:


Ngữ pháp quen thuộc của chúng ta thường theo thứ tự chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, còn các thành phần khác có thể đứng trước hoặc sau câu. Trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du không tuân thủ thứ tự đó, để bảo đảm vần điệu cho câu thơ. Có khi sự hoán vị này không làm khó người đọc khi tìm hiểu câu thơ, vì như câu:


Lạ gì bỉ sắc tư phong


Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen


Thì ai cũng biết chủ ngữ của động từ “đánh ghen” là “trời xanh”, còn “má hồng” là tân ngữ của vị ngữ “đánh ghen”. Như vậy ở đậy, thì hào đã hoán vị vị ngữ và tân ngữ. Câu thơ ấy nếu diễn tả đúng theo ngữ pháp là : “Trời xanh quen thói đánh ghen má hồng”. Tương tự như vậy, câu:


Cảo thơm lần giở trước đèn


Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh


thì tác giả đã hoán vị vị ngữ và tân ngữ. Đây là một câu chủ ngữ ẩn, nếu sắp xếp đúng thứ tự ngữ pháp sẽ là: Lần giở cảo thơm trước đèn hoặc “Trước đèn lần giở cảo thơm”, nhưng như vậy sẽ thất vận.


Có khi tác giả hoán vị các từ chỉ vì trắc bằng trong câu lục bát. Ví như khi giới thiệu Hoạn Thư, Nguyễn Du viết:


Ở ăn thì nết cũng hay


Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.       


Trong ngôn ngữ chúng ta, thường nói “nết ĂN Ở”, chứ không mấy ai “nết Ở ĂN”. Điều ấy Nguyễn Du chẳng xa lạ gì, nhưng nếu viết “Ăn ở thì nết cũng hay”, thì chữ thứ hai câu lục phải mang thanh trắc, trong khi câu lục này ngắt nhịp 2/2/2, đó là điều Nguyễn Du không chấp nhận. Lưu ý với bạn đọc rằng, trong Truyện Kiều, tất cả những chữ thứ hai của câu bát đều thanh bằng, và có chưa đến 25 chữ thứ hai của câu lục mang thanh trắc, nhưng khi đó câu lục phải ngắt nhịp 3/3 chứ không thể theo nhịp 2/2/2 quen thuộc.


    Với ba ví dụ kể trên, sự hoán vị hoặc là không thay đổi nghĩa của câu thơ, hoặc là có thay đổi nhưng bạn đọc tự chỉnh lấy mà hiểu được ý thơ. Tuy nhiên, có một số trường hợp hoán vị, không chỉ bạn đọc thông thường hiểu sai ý thơ, mà ngay cả một số người làm công tác hiệu đính Truyện Kiều cũng gặp sai lầm. Ví như khi giới thiệu Thúc Sinh:


Khách du bỗng có một người


Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.


Có nhà nghiên cứu Truyện Kiều không chấp nhận chữ DU ở câu thơ ấy, và bảo tác giả đã dùng chữ Hán không đúng chỗ trong tác phẩm thơ Nôm. Và ông ta đề nghị phải sửa lại: “ Khách CHƠI bỗng có một người…”.Nói về nghĩa, thì chữ DU trong chữ Hán đúng là tương ứng với chữ CHƠI trong chữ Nôm, nhưng thay đổi như vậy vào trường hợp này không giữ được nghĩa mà tác giả Truyện Kiều muốn dùng. Ví nếu như nhà biên soạn kia, thì khi mới xuất hiện, Thúc Sinh đã là “khách chơi”, “khách làng chơi” rồi! Điều này không đúng. Thúc Sinh khi mới về Lâm Tri theo cha, là một chàng trai “nòi thư hương”, là “con nhà lành” nên khi đến lầu xanh còn tưởng Thúy Kiều là con của Tú bà kia mà! Chàng bắt đầu “hư” là sau khi đến lầu xanh, còn trước đó, Nguyễn Du gọi chàng là “khách du” chẳng qua là hoán vị hai chữ “du khách”, để tránh thanh trắc cho chữ thứ hai câu lục. Mà chúng ta biết rằng, cho đến ngày nay, thì “du khách” và “khách chơi” ý hoàn toàn khác nhau, nên không thể sửa chữa như nhà biên soạn kia được.


Sau khi nhặt được kim thoa của Thúy Kiều trên cành đào, Kim Trọng mang về nhà mình, Nguyễn Du nói trạng thái của chàng:


Liền tay ngắm nghía biếng nằm


Vẫn còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.


Hai chữ “biếng nằm” nhiều bản Kiều không chú thích, còn bản của Đào Duy Anh giải thích biếng nằm là “không nằm”…tôi thấy không thỏa đáng. Đành rằng chữ “biếng” trong tiếng Việt có mang nghĩa là “lười”, là “khó” trong các cụm từ “biếng khuây”, “ biếng ăn”, “biếng ngủ”…nhưng nó thường dùng để chỉ trạng thái của người ta trong một khoảng thời gian tương đối dài, chứ không phải là khoảnh khắc. Chàng Kim nhặt được chiếc thoa mang về nhà mà bảo rằng “không nằm” thì không nói được gì, , vì ngoài nằm ra còn các trạng thái đi, đứng, ngồi…Theo tôi, chữ “biếng nằm” ở đây là đảo ngữ “nằm biếng”, trong dân gian vẫn dùng để chỉ lối “nằm lười”, không ngủ, thậm chí không làm gì. Vậy nên câu thơ trên nghĩa là: Sau khi nhặt được kim thoa về nhà, chàng Kim nằm lười mà ngắm nghía chiếc thoa!


     Nhưng sự hoán vị trong Truyện Kiều gây hiểu nhầm nhiều nhất cho bạn đọc, có lẽ là câu kể chuyện khi gia đình Thúy Kiều sau bao công lênh tìm kiếm đã gặp được nàng bên ngoài ngôi nhà cỏ của Giác Duyên bên sông Tiền Đường:


Giọt châu thánh thót quẹn bào


Mừng mừng tủi tủi xiết bao sự tình


Huyên già dưới gối gieo mình


Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi


Từ con lưu lạc quê người… 


      Nếu chỉ đọc qua mà không dừng lại suy xét thì hầu hết độc giả Truyện Kiều đều nghĩ chủ ngữ của động từ “gieo mình” là Huyên gia, và lời kể lể tiếp theo cũng là lời của bà mẹ Thúy Kiều! Ngay có bản Nôm cổ như Liễu Văn Đương 1871 cũng hiểu nhầm như thế nên chữ “gối” được viết để chỉ cái gối gỗ dùng để gối đầu ( có bộ mộc), chứ không phải để chỉ đầu gối! Sự thật không phải như thế.Lúc này Thúy Kiều đã nghe lời gọi của Giác Duyên mà bước từ lều cỏ ra ngoài sân, ngoài vườn, nên không có cái gối nào ở đây cho Vương bà gieo mình cả. Thế thì câu trên có nghĩa là sao? Đây là do đảo ngữ, chứ thứ tự theo ngữ pháp phải là: “Gieo mình dưới gối huyên già”! Câu chủ ngữ ẩn, chỉ Thúy Kiều.


      Khổ cho chúng ta là sau khi bị đảo ngữ, thì Huyên già làm chủ ngữ không ai còn bàn cãi. Nếu như, đó không phải là một người, là như cây lim chẳng hạn: “Lim già dưới gốc gieo mình” thì không còn ai hiểu lầm cây lim kia là chủ ngữ cả! Những câu kể tiếp theo là lời Thúy Kiều, mà ngay câu “Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi”, thì rõ ràng không phải chuyện của Vương bà rồi. Hơn nữa, sau khi Thúy Kiều kể, thì Nguyễn Du tiếp:


Ông bà trông mặt cầm tay


Dung quang chẳng khác như ngày mới xa…                           


một lần nữa khẳng định người “gieo mình” và “khóc than kể lể” trên kia chính là nàng Kiều.


   Biết sự đảo ngữ này dễ gây hiểu lầm cho bạn đọc, Kiều Oánh Mậu đã chỉnh lại thành “Gieo mình dưới gối huyên đình”, kể ra cũng có lý!


       Trong Truyện Kiều, đảo ngữ chỉ là một trong nhiều thủ pháp mà Nguyễn Du sử dụng để tạo ra cách diễn đạt mới. Ngoài đảo ngữ còn có thủ pháp tiểu đối, thủ pháp giản lược nhiều từ trong câu, để biến một câu văn xuôi dài dòng thành một câu thơ lúc bát, nhưng khi muốn hiểu nghĩa, chúng ta buộc phải nghĩ tới các từ đã được giản lược. Đó là nội dung của một bài viết khác.


    Rõ ràng đảo ngữ trong Truyện Kiều là phủ pháp làm giàu thêm tiếng Việt về mặt cú pháp. Chúng ta lưu ý đặc điểm này, để trong nhiều trường hợp nó sẽ giúp ta “giải mã” được những câu Kiều khó hiểu và tránh được những sự hiểu nhầm đáng tiếc.


 Tháng 1 năm 2015                                                             


  (còn tiếp)


Nguồn: Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »