tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
28.05.2018
Vương Trọng
Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay (3)


BÌNH MẤY CÂU KIỀU


 1 - Sống làm vợ khắp người ta


   Hại thay thác xuống làm ma không chồng.


    Đây là lời Thuý Kiều thốt lên sau khi nghe Vương Quan kể chuyện bi thảm của Đạm Tiên bên ngôi mộ “sè sè nấm đất”, “dàu dàu ngọn cỏ”, lạnh lẽo cả trong tiết thanh minh. Đạm Tiên trước, Thuý Kiều sau; ca nhi ngàn xưa và “ca ve” ngày nay có chung một đặc điểm: đấy là những người con gái tạo hoá ban cho một chút nhan sắc nhưng lại giáng xuống bản thân hoặc gia đình họ những tại hoạ, buộc họ phải gánh chịu, đưa đẩy họ vào chốn lầu xanh, mất quyền làm người, trở thành một món hàng . Vì có chút nhan sắc nên lắm chàng tìm đến; bởi đã trở thành món hàng nên mình không có quyền chọn lựa mà để người ta cư xử với mình như với một món hàng đã bỏ tiền mua. Câu thành ngữ mới “ trả tiền bóc bánh” phần nào nói được thái độ cư xử thô bạo, không chút tình cảm của khách làng chơi đối với các cô gái lầu xanh.Đời một kiếp ca nhi chung chạ với bao người đàn ông, biết mặt không biết tên, “mặc người gió Sở mưa Tần”, xong cuộc, họ bỏ đi không để lại dấu vết, chứ có mấy ai được như chàng Thúc “trước còn trăng gió sau ra đá vàng”! Những đôi lứa yêu nhau chân thành, vì nguyên do nào đó không lấy được nhau, khi chết đi họ còn mang theo cả khối tình xuống chốn tuyền đài. Tình yêu là thế, còn tình dục chỉ là sự thoả mãn xác thịt nhất thời, kiếp này chẳng yêu thương, nói chi đến kiếp sau. Cặp lục bát này về hình thức, là sự đối lập giữa lúc sống và sau khi chết. Nhưng sự đối lập ấy chỉ là hình thức, còn thực chất đó là quan hệ nhân quả: khi sống thế thì sau khi chết phải thế!


Trong toán học cao cấp có khái niệm “trù mật khắp nơi” và “không đâu trù mật” để nói về hai cực đối lập của sự phân bố các phần tử của tập hợp.  Ở đây, hình như Đại thi hào vô hình trung cũng sử dụng khái niệm ấy để nói về “sự phân bố chồng” của kiếp ca nhi ở cõi dương và ở cõi âm: khi sống thì ở đâu cũng có chồng, bất cứ người đàn ông nào cũng có thể là chồng, còn chết rồi thì ngược lại: không có một ai. Nói “làm ma không chồng” là dự đoán sự cô quạnh khi mình ở cõi âm từ thực tế của kiếp này. Sự thật nghịch lý và bi kịch của kiếp ca nhi chẳng cần đợi đến khi đã “thành ma”, chẳng cần đợi kiếp sau, mà ngay ở kiếp này: Khi mình còn nhan sắc thì “xôn xao ngoài ngõ thiếu gì yến anh”, đến khi đau yếu, bệnh tật thì không kẻ đoái hoài, chết một mình một góc, đâu phải chỉ một Đạm Tiên? “Sống làm vợ khắp người ta” đã nhục, đã khổ lắm rồi, người ca nhi nào cũng chung ý nghĩ “cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”, cho hết thời trẻ trung, cho hết cuộc đời, tưởng khi mình chết đi thì mới được thanh thản. Nhưng không, sự sỉ nhục của kiếp phong trần không chỉ dừng lại trần thế mà còn theo về cõi âm với một biến tướng mới, về hình thức tưởng như ngược lại những gì ca nhi đã trải, nhưng không hề mang lại niềm vui mà chỉ chuốc lấy nỗi bất hạnh mới thật tệ hại: làm ma không chồng!  “Sống làm vợ khắp người ta”!Chữ “khắp” mới thật tài tình, hàm chứa sự xô bồ, không hề có sự chọn lựa.Thông thường chữ khắp thường đặt trước một danh từ chỉ nơi chốn: khắp chợ, khắp đồng, khắp làng, khắp nước… Ở đây Nguyễn Du đã thay đổi cách sử dụng quen thuộc đó, mạnh dạn đặt sau chữ khắp hai chữ người ta thật mới mẻ và bất ngờ. Khắp người ta: không loại trừ một loại người nào. Có soạn giả Truyện Kiều không tán thành khái niệm vợ, chồng đối với các cô gái lầu xanh vì vợ chồng thì phải có hôn thú (!) nên muốn đề nghị đổi chữ khắp thành chữ chắp: vợ chắp người ta! với lý luận rằng cô gái lầu xanh chỉ là vợ chắp, chứ không thể là vợ của khách làng chơi được!Về luật pháp thì phần nào soạn giả này có lý, nhưng đối với việc thẩm định Truyện Kiều nói riêng và thưởng thức thi ca nói chung thì, ý kiến ấy xem ra quá cứng nhắc, khó thuyết phục được ai. Nguyễn Du không đợi giấy hôn thú để chỉ khái niệm vợ chồng ở chốn thanh lâu, mà sử dụng đặc trưng lớn nhất của vợ chồng là chuyện chăn gối. Đó là chưa kể ở chốn thanh lâu người ta vẫn quen xưng “chàng chàng, thiếp thiếp” ( Chàng chàng thiếp thiếp vui bằng được / Bố bố con con chẳng nhận ra - Nguyễn Bính) ngày xưa và “vợ vợ, chồng chồng” ngày nay, mà ai cũng hiểu rằng “chàng thiếp”, “vợ chồng” ở đây khác xa khái niệm vợ chồng truyền thống.  Phải chăng cặp lục bát này đã phơi bày bi kịch lớn nhất của kiếp ca nhi?


 


2 - Một mình lưỡng lự canh chầy/ Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.


Ngày đi chơi thanh minh gặp mộ Đạm Tiên, đêm Đạm Tiên báo mộng cho biết mình có tên trong sổ đoạn trường, Thuý Kiều “trằn trọc canh khuya”, sụt sùi kinh hãi cho cuộc đời sau này của mình. Trước đó, bên mộ Đạm Tiên, sau khi nghe Vương Quan kể về bi kịch của cô ca kỹ này, Thuý Kiều đã vận vào mình “thấy người nằm đó biết sau thế nào”. Định mệnh là tư tưởng quán xuyến trong Truyện Kiều. Có người dẫn câu “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” để kết luận Nguyễn Du chống lại tư tưởng định mệnh, mà quên rằng câu trích kia không phải là lời tác giả Truyện Kiều, mà là lời của chàng Kim nói lại khi thấy Thuý Kiều quá tin vào tướng, số. Còn cụ Nguyễn Du thì sao? “ Cho hay muôn sự tại trời” là kết luận Truyện Kiều cũng là nói lên nhận thức của tác giả. Nhưng trong Truyện Kiều, người tin vào tiền định, vào định mệnh mà bạn đọc dễ nhận biết nhất chính là Thuý Kiều. Cảm thương kiếp Đạm Tiên, đâu chỉ là tình thương đối với người ca nhi bạc mệnh, mà chính Thuý Kiều thương cho mình vì quá khứ của Đạm Tiên chính là “nỗi sau này” của Thuý Kiều. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng hơn 60 lần chữ nỗi, ngoài những kết hợp quen thuộc như nỗi lòng, nỗi riêng, nỗi niềm, nỗi quê …còn có những kết hợp hết sức mới mẻ như nỗi đêm, nỗi ngày ( nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung), đặc biệt ý nghĩa chữ nỗi được mở rộng ra với “nỗi dọc đường”, và ở đây là “nỗi sau này”. Trong cái đêm “trằn trọc canh khuya”, “lưỡng lự canh chầy ấy”, “nỗi sau này” của Thuý Kiều chưa hề cụ thể, mà chỉ từ cuộc đời của Đạm Tiên mà suy ra cho thân phận của mình. “Nỗi sau này” là nói về điều kinh hãi bày sẵn ở phía tương lai, và khi trở thành thực tại thì đó là “Hết nạn nọ, đến nạn kia / Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần / Trong vòng giáo dựng gươm trần / Kề răng hùm sói gửi thân tôi đòi…” như lời sư Tam Hợp đã tổng kết lại. Ở đây sự kinh sợ “nỗi sau này” của Thuý Kiều được tác giả đồng cảm, và diễn biến của phần lớn Truyện Kiều như cốt để chững minh cho “nỗi sau này” đó đáng sợ đến dường nào.


3- Dặm khuya ngất tạnh mù khơi


Thấy trăng mà thẹn những lời non sông


Với Thuý Kiều, đêm trong Truyện Kiều thường có trăng. Đó là “gương nga chênh chếch nhòm song” đêm Đạm Tiện hiện về báo mộng;  “nhặt thưa gương giọi đầu cành” và “vầng trăng vằng vặc giữa trời” đêm tự tình và thề bồi cùng Kim Trọng; “ gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương” đêm lẻn trốn cùng Sở Khanh; “một vầng trăng khuyết ba sao giữa trời” đêm ở Lâm Tri nhớ Thúc Sinh; “lần đường theo ánh trăng tà về tây” đêm trốn ra khỏi Quan Âm các; “mảnh trăng đã gác non đoài” đêm nàng nhảy xuống sông Tiền Đường…Còn vầng trăng xuất hiện trong cặp lục bát trên kia là trong đêm trên đường nàng theo xe cùng Mã Giám Sinh đi từ quê Bắc Kinh về tận Lâm Tri. Thấy vầng trăng ấy, Thuý Kiều đã liên tưởng đến vầng trăng nào mà thẹn? Tất nhiên nàng không thể nghĩ về những vầng trăng về sau, vì khi đó nàng chưa từng được chứng kiến. Nàng cũng không nghĩ về vầng trăng đã dẫn Đạm Tiên về báo mộng cho mình, mà chắc chắn nàng nghĩ về vầng trăng có liên quan đến kỷ niệm, đến mối tình với chàng Kim, đấy là “vầng trăng vằng vặc giữa trời” của đêm thề bồi, hẹn ước.  “Lời non sông” là lời gì vậy? Cũng như “lời vàng đá”, “lời non sông” là lời thề bồi tình yêu của các cặp tình nhân ngày xưa, vì khi thề họ thường mượn những vật thể to lớn như núi sông, quý giá và chắc chắn như vàng đá để nói tình yêu của mình. Ta điểm lại xem “những lời non sông” của Kim Kiều như thế nào? Dưới vầng trăng vằng vặc đêm ấy, hai mặt một lời, họ đã thề: “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”, hứa “chạm xương khắc cốt” tình cảm của nhau, “chữ đồng là nói tắt chữ đồng tâm, nghĩa là cùng một lòng yêu nhau” như học giả Đào Duy Anh giải thích.  Chàng Kim đã thề với Thuý Kiều:


“Ví dù giải kết đến điều


      Thì đem vàng đá mà liều với thân”


 nghĩa là đã yêu nhau rồi, đính hôn rồi ,vì lẽ gì đó mà trời xanh bắt chia lìa thì xin chết với nhau bởi coi lời thề như vàng đá.


Khi chia tay Thuý Kiều để về hộ tang chú, chàng Kim cũng từng nhắc đến vầng trăng thề bồi ấy:


Trăng thề còn đó trơ trơ


Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng”


Khi đó, chính Thuý Kiều đã hứa:


“Đã nguyền đôi chữ đồng tâm


Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”…


Thế mà giời đây, không giữ được lời thề, nàng đã thành vợ người khác rồi, thì  không hổ thẹn sao được?


  Từ Bắc Kinh, Thuý Kiều phải đi xe suốt một tháng ròng mới đến Lâm Tri. Trên đường đi, đêm khuya bất chợt nàng thấy vầng trăng mà thẹn cho những lời mình từng thề thốt mà không sao giữ được. “Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi”. Trước hết, ta hãy dừng lại hai chữ dặm khuya. Nguyễn Du là thi sĩ bậc thầy trong việc nén chữ trong thơ lục bát, nghĩa là dùng ít chữ mà nói được nhiều ý. Dặm khuya không chỉ nói về thời gian là khuya, mà còn nói về không gian là trên đường đi, hàm ý cái cảnh đêm khuya Thuý Kiều chứng kiến là trên đường đi. Các nhà thơ ngày nay chỉ có thể viết được đêm khuya, canh khuya…giỏi lắm cũng chỉ đường khuya là cùng, chứ khó nghĩ ra được hai chữ dặm khuya như tác giả Truyện Kiều trên hai trăm năm trước. Học giả Đào Duy Anh cho in là ‘ngắt tạnh mù khơi” và giải thích: “ chỉ tình trạng lặng ngắt, vắng tanh”. Tôi không đồng tình với cách giải thích này. Tôi nghiêng về “ngất tạnh, mù khơi” như một số bản Kiều khác, và coi đây là một tiểu đối, nên ta hiều được chức năng ngữ pháp và ý nghĩa của các từ. Danh từ mù giúp ta hiểu được chữ ngất cũng là một danh từ, có ý nghĩa là một thứ gì đó thường che khuất tầm mắt người nhìn như mù, như mây, như hơi sương... “Ngất tạnh” cũng giống như mưa tạnh, không còn ngất nữa, “mù khơi” là mù loãng ra, khai thông tầm nhìn. Vì “ngất tạnh, mù khơi” nên nàng Kiều mới nhìn thấy trăng. Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến logic trong thơ, không chỉ trong một câu, mà từ câu này tiếp nối với câu khác. Ở phần Đòan viên, Nguyễn Du đã tả cảnh:


Trời còn để có hôm nay


Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời


Hoa tàn mà lại thêm tươi


Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.


  Như nhiều bạn đọc đã chú ý về logic trong đoạn thơ này: tan sương đầu ngõ để thấy hoa, vén mây giữa trời để thấy trăng. Và, “tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời” cũng có ý nghĩa tương tự như “ ngất tạnh, mù khơi” để có thể nhìn thấy trăng. Nhưng cả câu lục “Dặm khuya ngất tạnh mù khơi” chỉ là sự gợi mở về không gian và thời gian, trọng lượng câu thơ tập trung ở câu bát “Thấy trăng mà thẹn những lời non sông”, làm người đọc thấy được từ sâu thẳm nỗi lòng của Thuý Kiều sự đau đớn, mối ân hận tiếc nuối, thẹn với vầng trăng thề bồi bởi chính mình vì hoàn cảnh mà thành người phụ bạc tình yêu.


 


4 – Thân lươn bao quản lấm đầu


Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.


 


   Đây là lời hứa của Thuý Kiều khi bị Tú bà đánh đập vì tội lẻn trốn đi cùng Sở Khanh. Thông thường, khi con cái hoặc thuộc hạ mắc tội bị bố mẹ hoặc người có quyền đánh đập, thì người có tội thường hứa từ nay về sau xin chừa, không bao giờ dám phạm vào tội ấy nữa. Lòng trinh bạch là gì, phải chăng đấy cũng là một loại tội lội mà Thuý Kiều hứa “từ sau xin chừa”? Lòng trinh bạch là lòng trong trắng của Thuý Kiều. Nhưng sao không phải là tấm lòng trinh bạch mà lại là chút lòng trinh bạch? Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng khá nhiều chữ chút, để chỉ một ít, một vật nhỏ mọn với lối nói khiêm nhường như chút dạ, chút lòng, chút phận, chút thân, chút riêng, chút ước… Nhưng ở câu thơ này, “chút lòng trinh bạch” còn hàm chứa một nội dung khác: lòng trinh bạch của Thuý Kiều đã bị Mã Giám Sinh cướp đi phần lớn trong đêm ở nhà trọ trước ngày theo xe để về Lâm Tri. “ Tiếc thay một đoá trà mi/ Con ong đã tỏ đường đi lối về”. Cái quý nhất của người con gái đã không còn nữa, nàng toan tự tử nhưng sợ liên luỵ đến bố mẹ, đành ngậm tủi nuốt hờn. Nhưng dù sao khi ấy nàng vẫn nghĩ Mã Giám Sinh mua mình về làm vợ, nên y có quyền làm điều đó. Khi về đến Lâm Tri, mới hay được sự tình và nàng quyết giữ lấy chút lòng trinh bạch ít ỏi còn lại. Ở đây “lòng trinh bạch” còn hàm chứa  thêm ý nghĩa là nếp con nhà lành.Nàng đã làm những gì với mục đích giữ lấy nó? Lần đầu khi Tú Bà bắt nàng tiếp khách, Thuý Kiều đã toan tự tử “ một dao oan nghiệp đứt dây phong trần”, để cho mụ Tú phải “ cắt người coi sóc rước thầy thuốc men” nàng mới tỉnh lại được. Khi tỉnh ra, nàng không tự tử tiếp, một mặt vì lời hứa hẹn giả dối của mụ Tú “tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà”, nhưng cái chính là nàng tin lời Đạm Tiên báo mộng: “Số còn nặng kiếp má đào / Người dù muốn quyết trời nào đã cho”. Như vậy, nàng không thể dùng cái chết để giữ chút lòng trinh bạch ở chốn lầu xanh. Thế thì trốn theo Sở Khanh, một việc làm nàng không tin ở thành công mà phó thác cho số phận : “ Cũng liều nhắm mắt đưa chân/ Mà xem con tạo xoay vần đến đâu”. Nhưng tránh đâu cho khỏi trời, nàng bị bắt về đánh đập “Uốn lưng thịt đổ, giập đầu máu sa”, làm cho nàng nhận ra một chân lý cay đắng: ở chốn này, lòng trinh bạch là tội lỗi. Hay nói một cách khác, Tú Bà đã biết cách làm cho Thuý Kiều phải từ bỏ “chút lòng trinh bạch” của nàng.


  Thì ra ở đời, con người phải đổi thay theo hoàn cảnh. Lòng trinh bạch là của quý, ai chẳng muốn giữ gìn, nâng niu, nhưng khi đã bước vào vũng bùn lầu xanh, đành từ bỏ thôi, mình đã thành con lươn chui rúc rồi thì làm sao giữ cho đầu khỏi lấm? Còn gì đáng thương hơn sự đầu hàng số phận đau đớn của Thuý Kiều?                                                   


 


          “CHỒNG CHUNG CHƯA DỄ AI CHIỀU CHO AI”


   Với đông đảo bạn đọc, nói đến Hoạn Thư là nói đến máu ghen, và có người cũng chỉ biết Hoạn Thư ở chuyện ghen mà thôi, chứ ít quan tâm đến những đức tình khác của người “đàn bà dễ có mấy tay” này.Vì bênh vực Thúy Kiều nên ta ghét Hoạn Thư, cũng là điều dế hiểu, thế nhưng Họan Thư “ lòng riêng riêng những kính yêu” nàng Kiều và chính Thúy Kiều cũng nhận ra Hoạn Thư “biết người, biết của”. Thế thì thực chất Hoạn Thư là người thế nào, ta thử xét xem.


         Xuất thân từ một gia đình quan lại, bố là Thượng thư bộ Lại, bộ đứng đầu của trăm chức quan, nhà cửa thì “tòa rộng dãy dài”, có nhiều hoành phi câu đối sơn son thếp vàng. Với những gia đình như thế, con cái thường được giáo dục cẩn thận, được học hành tử tế. Do “duyên đằng thuận nẻo gió đưa”, Hoạn Thư kết hôn với Thúc Sinh “cũng nòi thư hương”, chàng theo ông bố làm nghề kinh doanh mãi tận Lâm Tri để du học, cách nhà cả tháng trời theo đường bộ. Thế là Hoạn Thư phải xa chồng, một mình ở nhà với bọn hầu gái, thi thoảng mới ghé về thăm mẹ, tức Hoạn bà, vợ ông Thượng thư bộ Lại.


   Theo lẽ thường, mọi người vợ nghe tin chồng ở nơi xa tằng tịu với một người đàn bà nào đó, thì máu ghen đã sôi lên, huống như nghe tin chồng lấy một cô gái lầu thanh làm vợ thiếp. Người vợ bình thường đã đau, Hoạn Thư càng đau hơn vì nàng là con quan thượng thư, luôn được mọi người trọng vọng và không một ai dám làm trái ý mình bao giờ. Và đối với Thúc Sinh nên duyên là do duyên số đưa hai người đến với nhau… thì cái chuyện tày trời do Thúc Sinh gây ra thật quá sức tưởng tượng. Thử hỏi, với một người đàn bà khác đứng vào vị trí của Hoạn Thư thì sao? Thì sẽ cùng gia nhân lao ngay đến Lâm Tri, bắt Thúy Kiều, “cạo đầu bôi vôi”, không xé tan quần áo Thúc Sinh thì cũng bù lu bù loa, để cho “bàn dân thiên hạ” biết được tội lỗi không thể tha thứ của Thúc Sinh. Nhưng Hoạn Thư thì sao? Mặc dù cái tin khủng khiếp ấy làm nàng sôi máu lên, không ghìm nổi, “lửa tâm càng dập càng nồng”, buộc nàng phải có hành động, nhưng nàng tự dặn mình rằng: “ Dại chi chẳng giữ lấy nền / Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình”! Những người thiếu văn hóa thường lấy gia thế của mình làm chỗ dựa cho những hành động có lúc thái quá của mình, nhưng với người có văn hóa, không bao giờ muốn những hành động của mình ảnh hưởng đến gia thế, đến nếp nhà. Hoạn Thư quyết “giữ lấy nền”, giữ lấy gia phong của mình và coi chuyện ghen tuông là chẳng hay ho gì. Mặc dù “ngứa ghẻ, hờn ghen” là thứ không chịu nổi, nhưng là người có văn hóa, Hoạn Thư không bao giờ muốn làm ảnh hưởng đến thanh danh của chồng, mặc dù Thúc Sinh có rất nhiều tội, ngoài việc cưới một cô gái lầu xanh, “lại còn bưng bít giấu quanh”, như đổ thêm dầu vào ngọn “lửa tâm” của nàng.


   Phải nói rằng Hoạn Thư là người trầm tĩnh, ý nghĩ sâu xa và quyết làm cho được những điều mình dự kiến. Khổ cho hai kẻ tôi tớ khi nghe tin Thúc Sinh có vợ thiếp ở Lâm Tri thì báo tin cho bà chủ để tâng công, không ngờ “đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”, một mặt là giữ thể diện cho chồng trươc bọn gia nhân, đồng thời không ảnh hưởng đến “mưu cao vốn đã rấp ranh những ngày” của nàng.


   Là một người có văn hóa, nên cách đánh ghen của Hoạn Thư là cách đánh ghen của người có văn hóa. Như trên đã nói, nàng đánh ghen, nhưng không hề làm tổn hại đến thanh danh của chồng. Còn đối với Thúy Kiều, nàng không hề dùng đến bạo lực, không hề dùng một lời lẽ xúc phạm nào.Có người đọc Truyện Kiều không kỹ, tưởng rằng Hoạn Thư đã từng cho gia nhân đánh đập nàng Kiều, sự thật không phải như thế. Ta nhớ rằng khi bọn Khuyển Ưng bắt Kiều từ Lâm Tri về thì đưa nàng đến nhà mẹ của Hoạn Thư, và người sai quân đánh đập Thúy Kiều là Hoạn bà, lúc ấy không hể có mặt Hoạn Thư ở đó, mà mấy ngày sau, làm như vô tình về thăm nhà mẹ đẻ, Hoạn Thư gặp Thúy Kiều và xin mẹ đưa người này về nhà mình. Hoạn Thư là người biết người, biết của nên khi tiếp xúc với Thúy Kiều thì nhận ra đây là một người có tài, nên giảm bớt khoảng cách giữa bà chủ và người hầu, “khuôn uy dường cũng bới vài bốn phân”. Trong Truyện Kiều, Hoạn Thư là người khen Thúy Kiều nhiều nhất, tất cả bốn lần từ khi mới đưa Thúy Kiều từ nhà mẹ về đến nhà mình, cho đến lần cuối gặp nhau ở Quan Âm Các. Khen đánh đàn hay, khen viêt tờ trình giỏi, và khen viết chữ đẹp như chữ trong Thiếp Lan Đình… Số lần khen đã nhiều, và chất lượng lời khen thi không ai sánh kịp: “Số này đáng đúc nhà vàng cũng nên”, nghĩa con người tài như Thúy Kiều, thì nên “đúc nhà vàng” mà ở mới xứng! Thế thì sao Hoạn Thư còn hành hạ Thúy Kiều? Điều này chính Hoạn Thư đã giải thích: “ Chồng chung chữ dễ ai chiều cho ai”. Nhưng cách hành hạ của Hoạn Thư là hành hạ về mặt tinh thần, là bắt đánh đàn hầu hai vợ chồng nàng. Tôi tin rằng chính Hoạn Thư đã nhận ra Thúy Kiều là một người có văn hóa, nên mới hành hạ thế này, mà không hành hạ về thể xác. Vì Thúy Kiều có văn hóa mới nhận ra cái trớ trêu, cái đau, cái nhục…khi đánh đàn hầu Thúc Sinh với Hoạn Thư hơn mọi sự hành hạ khác. Mục đích của Hoạn Thư không phải là muốn triệt đường sinh sống của Thúy Kiều, mà làm cho nhục, làm cho tự Thúy Kiều phải biết mà xa Thúc Sinh ra và việc bố trí cho Kiều ra “coi chùa, chép kinh” ở  Quan Âm Các là bước đi đầu tiên. Chúng ta lưu ý điều này: Hoạn Thư không ra lệnh, hoặc hành động bắt Thúy Kiều phải xa Thúc Sinh, mà Hoạn Thư phải tìm cách làm cho Thúy Kiều phải tự nghĩ và quyết định xa Thúc Sinh. Và cái cách làm của Hoạn Thư cũng không hề bạo lực, không hề trách móc hay mắng chửi. Đó là khi Kiều đã ra ở Quan Âm Các, một hôm, Hoạn Thư bảo về thăm mẹ, thế là Thúc Sinh “tranh thủ thời gian” lẻn ra thở than, kể lể, có cả chuyện kể tội Hoạn Thư với Thúy Kiều. Nhưng Hoạn Thư không về thăm mẹ, mà ra rình nghe suốt cả nửa giờ, rồi mới xuất hiện trước mặt hai người, không hề tức giận, mà chỉ “cười cười nói nói ngọt ngào”, để cho Thúy Kiều nhận ra “cười này mới thực khôn lường hiểm sâu” và phải tự quyết định lấy cắp khánh ngọc, nửa đêm trèo tường trốn đi. Hoạn Thư chỉ muốn cho Thúy Kiều tự bỏ đi, thế là thỏa mãn, chứ không muốn cho quân đuổi theo để bắt Kiều về, mặc dù đoạn đường từ Quan Âm Các đến Chiêu Ẩn Am, Thúy Kiều chỉ đi bộ từ nửa đêm đến mờ sáng, xa lắm cũng chỉ vài chục cây số, chẳng thấm tháp gì so với quãng đường từ Vô Tích đến Lâm Tri mà tay chân của Hoạn Thư từng đi bắt Kiều về. Một điều nữa đáng nói là Hoạn Thư còn muốn tạo cho chuyến trốn chạy của Kiều thuận lợi, nên không tiếc số chuông vàng, khánh bạc mà Kiều đã lấy cắp, chắc là coi đó là thứ để Kiều chi tiêu trong quá trình trốn chạy. Hoạn Thư tin Kiều là người thông minh nên biết được nhã ý của mình, nên khi tự bào chữa cho mình trong phiên tòa báo ân báo oán, Hoạn Thư đã nhắc lại điều này:


Nghĩ cho khi các viết kinh


Đến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo


       Chắc chắn khi lấy cắp chuông vàng khánh ngọc nửa đêm trốn đi mà không thấy gia nhân của Hoạn Thư đuổi theo, Thúy Kiều đã biết được rằng chính Hoạn Thư mở đừng sống cho mình, với duy nhất một điều kiện là hãy xa Thúc Sinh.. Bởi vạy, khi nghe Hoạn Thư nhắc lại điều này, là chạm tới mối cảm tình lớn nhất của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư, nên : “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Trong Kim Vân Kiều Truyện, thì Hoạn Thư bị đánh tơi bời trước khi được tha, còn trong Truyện Kiều, thì không ai động chạm tới thân thể của Hoạn Thư, cũng như Hoạn Thư chưa từng đụng chạm đến thân thể Thúy Kiều.


    Tôi nghĩ rằng, nếu Hoạn Thư và Thúy Kiều không gặp nhau vì một anh chàng Thúc Sinh đa tình nhưng bạc nhược, mà tương ngộ trong những hoàn cảnh khác, thì tôi tin  họ sẽ là một đôi bạn tri kỷ, vì cả hai đều có giáo dục, có tài và có văn hóa, sâu sắc và tế nhị. Bi kịch xẩy ra giữa hai người đàn bà này trăm sự chỉ vì “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”!


 


Tháng 1 năm 2015


PHIẾM ĐÀM VỀ CÔ EM THÚY VÂN


“Cô em” là gọi một cách dân dã, pha chút suồng sã cho có vẻ thân mật, chứ sự thực nàng sống cùng thời với cụ tổ chín đời của Đại thi hào Nguyễn Du, xấp xỉ với cụ tổ mười lăm đời của người viết bài này. Nhưng nàng vẫn trẻ, mở đầu Truyện Kiều đi chơi hội đạp thanh thì mới tuổi “cặp kê”, tức khoảng mười lăm, mười sáu tuổi; cuối Truyện Kiều, trong buổi đoàn viên thì cộng thêm 15 năm nữa, tức là mới ngoài ba mươi, nếu sống thời nay ở nước ta thì đang tuổi sinh hoạt Đoàn!


   Mặc dù nhan sắc có thua người chị, nhưng cô em này vẫn đẹp, đẹp một cách khỏe mạnh. Này nhé: mặt tròn, tóc dày mượt, da trắng là điều không ai tranh cãi, chỉ riêng chuyện thân thể nở nang hay nét mày rậm rạp thì các nhà Kiều học xưa nay trang cãi bất phân thắng bại, giống như chuyện cào cào châu chấu hay tôm và tép. Tôi thì vẫn tin chữ “ngài” là tiếng Nghệ Tĩnh, người phản đối nói rằng trong chữ Nôm, chữ ngài ấy có “bộ trùng”, nên phải là con ngài tằm…nhưng xem ra cũng chưa hẳn thuyết phục, vì bản Kiều Nôm đó có thể do một nhà Nho quê Bắc chép, họ không hiểu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, nên tin là chỉ con ngài tằm, thì phải viết như thế, mặc dù họ cũng thấy khó giải thích tại sao tính từ “nở nang” lại dùng để chỉ nét lông mày! Nhưng mà thôi, dù hiểu thế nào đi nữa, thì cô em này vẫn là cô gái khỏe mạnh. Đó là điều đáng mừng, dù nhan sắc không bằng chị. Mặc dù cụ Nguyễn Du nói chị Kiều tài hơn em, Kiều tài thì đúng rồi, nhưng đọc thế cứ nghĩ là cô em cũng có chút tài, dù không bằng chị, nhưng đọc đến nát Truyện Kiều ra, chả tìm được chút tài nào của cô em này cả! Đúng là “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, tính Vân dường như ngược lại với tính Kiều: chị nhạy cảm, tinh tế, thương người…; em không hề cảm xúc trước câu chuyện đau buồn của người khác. Cùng nghe Vương Quan kể chuyện về Đạm Tiên, chị thì “mê mẩn tâm thần”, “ủ dột nét hoa”…, hết tìm hương thắp khấn vái lại đề thơ nói nỗi lòng mình rồi khắc lên gốc cây “bốn câu ba vần”, còn bản thân chị thì “sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài”. Cô em Thúy Vân “bình chân như vại”, không làm bất cứ một việc gì, chỉ nói một câu, đó là trách chị: “Khéo dư nước mắt khóc người dới xưa”, thì thật là gỗ đá chứ còn đâu là người nữa!


   Đêm ấy về được Đạm Tiên báo mộng, chị Kiều làm thơ, còn cô em này đánh một giấc từ dầu hôm đến sáng, hiển nhiên thôi. Đáng trách là khi gặp cảnh gia biến, cô em coi như chuyện của người khác, chị Kiều quyết định bán mình chuộc cha, em cũng chẳng hề tham gia bàn bạc hay an ủi chị. Khi chị bán mình xong rồi, ngày mai phải theo người ta ra đi, thao thức không ngủ được, còn em thì đánh giấc tỳ tỳ, nửa đêm tỉnh dậy thấy chị không ngủ được, ngồi một mình suy nghĩ thì hỏi:


Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh


Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?


    Tôi thuộc nhóm người không ưa Thúy Vân, và chính câu em hỏi chị này đẩy hẳn tôi về phía đối lập. Trời ơi, sao có người đến vô tâm làm vây? Chị không chỉ hy sinh nhan sắc tuổi xuân, mà còn hy sinh một mối tình tuyệt đẹp đã thề bồi, hứa hẹn…để bán thân mình đi, lấy tiền chuộc cha. Cô em không làm được như chị thì cũng phải biết tâm sự, sẻ chia…chứ sao vô tâm đến tàn nhẫn như vậy? Mà Vương ông là cha chung chứ đâu phải chỉ là cha của một mình Thúy Kiều?


   Còn chuyện cô em nhận lời trao duyên của chị thì sao? Nên khen hay nên trách? Đáng khen ở chỗ không phản đối lời đề nghị của chị, đáng trách là quan niệm quá đơn giản về tình yêu. Với một cô gái ngoan, nhưng có bản lĩnh, xem tình yêu là thiêng liêng thì có thể hứa làm mọi việc cho chị yên tâm ra đi, trừ chuyện trao duyên. “người yêu của chị là anh của em, em có thể nghe lời chị để chăm sóc anh thay chị, còn chuyện kết duyên thì không thể”! Đáng ra phải nói như thế, còn cô em này cứ “ngậm miệng ăn tiền”, không, “ngậm miệng ăn tình”, cứ coi như chuyện lấy chồng chỉ là một công việc chị nhờ! Lại nhớ khi trao duyên, chị dặn:


Trông ra ngọn cỏ, lá cây


Thấy hiu hiu gió thì hay chị về


Thế mà khi làm vợ Kim Trọng rồi, chả hề nghĩ gì về chị, trong khi chàng Kim “ Dường như trên nóc, trước thềm/ Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng”…thì Thúy Vân không chỉ thua chị mà còn kém chàng Kim lắm lắm!


   Kể ra cô em này cũng có chút công giúp chồng tìm chị. Đó là khi cùng con theo chồng về nhậm chức ở Lâm Tri, thì Thúy Vân nằm mộng thấy Thúy Kiều cùng ở Lâm Tri, tuy nhiên Kim Trọng phân vân, vì trước khi đưa Kiều đi, Mã Giám Sinh nói đưa nàng về Lâm Thanh, là y nói dối, nhưng như bao người khác, chàng Kim tưởng thật. Dù bán tin, bán nghi, nhưng Kim Trọng cũng có ý cất công dò hỏi, và cuối cùng đã ra manh mối. Nghĩ cho cùng, nằm chiêm bao thấy, thì cũng như chuyện vô thức, chẳng có gì để khen cô em này.


   Trong toàn bộ Truyện Kiều, hình như Thúy Vân chỉ nói có năm lần. Hai lần đầu hết sức vớ vẩn là bảo chị “khéo dư nước mắt khóc người đới xưa” bên mộ Đạm Tiên; lần thứ hai hỏi chị “ Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh…”, lần thứ ba báo “ Chiếc thoa này với tờ bồi là đây” là nguyên nhân ngất xỉu của Thúy Kiều trong đêm trao duyên, và lần thứ tư kể chuyện chiêm bao với chồng ở Lâm Tri. Lần thứ năm là trong bữa tiệc đoàn viên, cô em nói trong “ tàng tàng chén cúc dở say”, nhưng vẫn là ý của cô em chứ đâu lời của rượu:


Gặp cơn bình địa ba đào


Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em


…


Còn duyên may lại còn người


Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa


Quả mai ba bảy đang vừa


Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì”.


 Nói một cắt ngắn gọn, nôm na là chị còn trẻ, bây giờ kết duyên với Kim Trọng đi! Tốt tính thật, nhưng tốt không phải lối, lòng tốt của người sống đơn giản, không coi tình yêu là thiêng liêng, giống như trước đây chị nhờ em một việc, em đã làm trong suốt mười lăm năm, bây giờ chị về rồi, em trả lại việc cho chị đấy! Tất nhiên là Thúy Kiều từ chối, còn Kim Trọng nghe thì sao? Thật là niềm vui bất ngờ, mình tưởng rằng phải thuyết phục khó khăn lắm mới có được điều này! Vì muốn nối duyên với Thúy Kiều nên chàng Kim mới cho đây là niềm vui, chứ nhìn lại đàn con đông đúc và nhận ra, với Thúy Vân, mười lăm năm trời sống với chàng chỉ là làm vợ thay chị những ngày chị lưu lạc, chứ đâu có là tình yêu!


   Vâng, với cô em này,thì hai chữ “tình yêu” quá phù phiếm!


Nhưng Thúy Vân không cá biệt, trong xã hội chúng ta có một loại người sống đơn giản như thế, gọi chung là “Motip Thúy Vân”:


 


Người đầy đặn, má bầu bầu bánh đúc


Không thích đàn, chả để ý gì thơ


Đặt mình xuống chằng biết chi trời đât


Ngáy thường nhiều hơn những giấc mơ.


 


Nhà lâm nạn, coi như người ngoài cuộc


Vẫn ăn no, ngủ kỹ như không


Cần chi hẹn hò, cần chi thề thốt


Chẳng yêu đương cũng lấy được chồng.


 


Ta lạc lõng giữa cuộc đời trần tục


Thi ca ơi, ngươi phù phiếm vô ngần


Quanh ngày tháng phố phường ta gặp


Vắng Thúy Kiều, và chen chúc Thúy Vân!


 


    Có người bảo tôi làm thơ thế này thì Thúy Vân đau quá. Cứ yên tâm, mình viết mình đọc mà thôi, loại người như cô em này thì thơ phú là loại phù phiếm, chả bao giờ ghé mắt đâu! Kể cho cùng đâu đáng trách, mà thật đáng thương!


 


Tháng 1- 2015


THÚC SINH: LIỀU KHI Ở XA, HÈN LÚC GẦN VỢ


     Phần lý lịch “trích ngang”của Thúc Kỳ Tâm, tức Thúc Sinh trong Truyện Kiều khá đơn giản. Chàng “ nòi thư hương”, người huyện Tích, châu Thường, theo thân phụ kinh doanh ở Lâm Tri. Trong “Kim Vân Kiều Truyện” thì rõ thêm một ít: chàng mười bảy tuổi, theo cha về Lâm Tri để đi du học. Nguyễn Du không hề có nét nào tả dáng vóc và trang phục của chàng như các nhân vật nam Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Sở Khanh hay Từ Hải. Vậy nên ta khó hình dung về chàng, duy tính ăn tiêu “bốc rời” thì không ai quên được. Mặc dù ta không rõ gia thế, nhưng cha chàng có lẽ là thương gia lớn, có uy tìn thì chàng mới được kết hôn cùng con gái Thượng thư bộ Lại. Cha chàng có làm ăn phát đạt, giàu có mới chu cấp cho chàng nhiều tiền, đang còn đi học mà chi tiêu phung phí “trăm ngàn đổ một trận cười như không”. Nhưng khi mới xa vợ, theo cha về Lâm Tri, chàng là “con nhà lành”, chưa chơi bời, hư hỏng. Vậy nên khi có tin Thúy Kiều nhan sắc, chàng theo người lần mò đến lầu xanh, cứ tưởng đấy là nhà của Thúy và mụ Tú bà là mẹ của nàng, và sau khi biết không phải thế thì chàng rất ngạc nhiên, chứng tỏ trong tri thức của chàng từ đó về trước chưa từng có khái niệm về cái nghề “buôn phấn bán hương” của các cô gái. Xa vợ hàng năm, với khoảng cách một tháng ròng đường bộ, tuổi trẻ, sẵn tiền…thì việc chàng đến lầu xanh giải trí không có gì là lạ, nhưng việc chàng bỏ tiền ra hoàn lương Thúy Kiều để lấy làm vợ thì thật là cả một chữ LIỀU to tướng. Trước là liều với cha, sau là liều với vợ và gia đình ông Thượng thư. Chả lẽ chàng Thúc Sinh không nghĩ đến những hậu quả hay sao? Nguyên nhân của sự liều đó do đâu? – Chính là do Thúy Kiều. Nàng không chỉ hút hồn chàng bằng nhan sắc, mà bằng bằng thơ, bằng đàn…làm cho chàng muốn nàng là của riêng, không muốn chia cho ai khác. Muốn cho sự liều mày được việc, trước hết chàng Thúc phải có nhiều tiền, hơn nữa phải dùng mưu “ mượn điều trúc viện thừa lương”, tức là nói đưa Kiều đi nghỉ mát để đưa ra khỏi lầu xanh, nằm ngoài tầm kiểm soát của mụ Tú bà. Trong Kim Vân Kiều Truyện thì chàng Thúc còn biết dùng người quen dọa dẫm Tú bà, nhưng với Truyện Kiều, thì chỉ cần tiền và phép cách ly này là chàng đã đạt mục đích biến người tình ở chốn thanh lâu thành vợ thiếp. Cũng may là những công việc khó khăn đó chàng đã hoàn tất khi bố chàng về Vô Tích, nhưng khi chàng và Thúy Kiều nên vợ chồng được nửa năm thì Thúc ông trở lại Lâm Tri. Và khi biết tin dữ này, “phong lôi nổi trận tơi bời”, ông hết sức quyết tâm “ dạy cho má phấn lại về lầu xanh” vì ông cho đó là nơi xứng đáng của Thúy Kiều, chứ đâu dễ làm dâu của ông. Trước tình cảnh ấy, chàng Thúc tỏ ra biết tội của mình, biết tội đấy, nhưng không hề muốn sửa lỗi, vì theo chàng là không thể sửa được, giống bàn tay đã nhúng chàm thì khó rửa sạch được. Nếu bố không thương con, không chịu chấp nhận cho con lấy Thúy Kiều thì con xin chết, “bạc đen thôi có tiếc mình làm chi”. Như thế chàng Thúc không chỉ liều, mà còn hết sức kiên quyết, dám thách thức ông bố, người đưa chàng về Lâm Tri để du học.. Tất nhiên là Thúc ông không thể chấp nhận điều đó, bố bảo không nghe thì ra tòa. Cái phiên tòa xử Thúc Sinh và Thúy Kiều này cũng khá lạ. Mặc dù cả hai được điều ra quỳ ở sân tòa, nhưng Thúc Sinh chỉ nhận một lời trách: “Gã kia dại nết chơi bời”, còn bao nhiêu tội lỗi đều đổ xuống đầu Thúy Kiều, nào “là người đong đưa”, nào “hoa thải hương thừa”, và bị ra “tối hậu thư”, hoặc là bị đánh đập tơi bời, hoặc là phải trở về chỗ cũ, nhưng nàng Kiều thà chịu “gia hình” chứ không thể bỏ chàng Thúc để trở lại chốn thanh lâu. Thái độ của Thúc Sinh lúc này cũng đáng nể lắm, nhận tội lỗi về mình, trách mình cạn nghĩ, để cho nàng đến nông nỗi này. Chính thái độ đó mà quan tòa mới “tìm bài giải vi”, nghĩ ra cách thử tài, và sau đó đã cho nàng thắng kiện, làm vợ Thúc Sinh, và Thúc ông cũng thuận tình. Nguyễn nhân chính đưa đến kết quả tốt đẹp của phiên tòa là Thúy Kiều tài, sắc là chính, nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua thái độ kiên quyết của chàng Thúc.


   Như vậy là từ khi làm quen, đến cưới Thúy Kiều, rồi cùng Thúy Kiều thắng kiện để thành vợ chồng, chúng ta thấy chàng Thúc cũng “nam nhi quân tử” lắm, biết theo đến cùng mục đích của mình, dù phải qua những thử thách ghê gớm. Nhưng ngay giai đoạn này, đã bộc lộ chàng là người “cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu” mặc dù đã nghe Thúy Kiều lường trước bao khó khăn của cuộc hôn nhân này. Vì cạn nghĩ nên không nghe những lời khuyên rất phải của Thúy Kiều, hơn nữa còn làm ra vẻ “ta đây”, thề thốt to lời không khác giọng Sở Khanh là mấy:


Đường xa chớ ngại Ngô, Lào


Trăm điều hãy cứ trông vào một ta


Đã gần chi có điều xa


Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều.


    Hứa như vậy mà Thúy Kiều chưa tin thì chàng “chỉ non thề bể”, làm bất cứ điều gi cốt để nàng yên tâm, và cũng không loại trừ khi đó chàng Thúc nghĩa như vậy thật. Hai người sống với nhau được một năm tròn, nghe lời Thúy Kiều khuyên, Thúc Sinh mới về Vô Tích thăm Hoạn Thư. Và cũng nghe theo lời khuyên của Thúy Kiều, lúc đầu Thúc Sinh định nói thật với vợ cả về chuyện của mình với Kiều, nhưng không có dịp nào để nói, vì Hoạn Thư luôn tỏ ra không hề nghi ngờ gì chồng, “mười phần ta đã tin nhau cả mười”, làm cho chàng thay đổi ý định với kết luận “nào ai có khảo mà mình lại xưng”, mà không hề biết Hoạn Thư đang lập mưu để làm một việc tày trời. Sau một năm sống với Hoạn Thư,chắc với Thúc Sinh thời gian trôi chậm lắm, đợi khi vợ khuyên về Lâm Tri thăm bố thì như mở cờ trong lòng, chàng liền lên ngựa, lòng phơi phí nên thấy quang cảnh mùa thu đẹp tuyệt vời “ Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Lưu ý với bạn đọc rằng, chuyện cho Thúc Sinh đi ngựa từ Vô Tích về Lâm Tri là sáng tạo của Nguyễn Du, hợp lý hơn trong trong Kim Vân Kiều Truyện thì Thúc Sinh cũng đi thuyền. Ở bên Hoạn Thư, Thúc Sinh là người bị động, vợ bảo về Lâm Tri thì hăm hở lên đường, còn nếu chưa có ý của vợ thì cũng đâu dám “đề đạt nguyện vọng”, mặc dù trong năm đó, chàng đã nhớ Thúy Kiều như thế nào thì chúng ta đã biết rồi.


   Vì đường bộ phải đi cả tháng trời, mà đường thủy thì nhanh, nên khi chàng về Lâm Tri thì bọn Khuyển Ưng đã bắt Thúy Kiều mang đi, đốt nhà, lập “hiện trường giả” cho chàng nghĩ là người tình đã chết cháy làm chàng đau thương, “gieo mình vật vã khóc than”, “tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan”…Không một ai có thể nghi ngờ tình cảm thật của chàng. Rồi chàng còn tìm thầy bói để thăm dò tin tức nàng, với một người chồng hết lòng thương vợ, trong hoàn cảnh này cũng khó có thể làm được gì hơn thế. Tưởng là Thúy Kiều đã chết mà Thúc Sinh còn ở lại Lâm Tri một năm, lần tìm kỷ niệm với nàng Kiều, thấy “phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”…rồi chàng mới trở về Vô Tích thăm Hoạn Thư, chỉ riêng điều này thôi cũng nói lên tình cảm của chàng đối với Thúy Kiều, dường như tình sâu nghĩa nặng. Nhưng đó là ở Lâm Tri, còn khi trở về Vô Tích gần vợ, Thúc Sinh là một người khác hẳn, có lẽ người ngạc nhiên đến đau đớn phải là nàng Kiều. Trước mặt Hoạn Thư, Thúc Sinh không dám nhận Thúy Kiều, cứ làm ra vẻ đó cũng chỉ là một đứa hoa nô hầu hạ vợ, nhưng “khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa”, bị vợ truy vì sao lại buồn thì nói dối là vừa chịu tang…Và kể từ đó, Thúc Sinh giống như con rối, mọi động tác là theo sự điều khiển của Hoạn Thư, từ việc “chén tạc, chén thù” cùng vợ và bắt Kiều hầu hạ rót rượu đến đánh đàn, dù có khi “như dại như ngây” thì cũng phải “chợt nói chợt cười”, phải theo lệnh vợ mà “hỏi tra” Thúy Kiều.


  Chân tướng của Thúc Sinh hiện rõ nhất là hôm tưởng Hoạn Thư về thăm mẹ nên lẻn ra Quan Âm Các than thở với Thúy Kiều “sụt sùi giở nỗi đoạn trường / Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh”, cứ tưởng như chàng thực hiện lời hứa “trăm điều hãy cứ trông vào một ta”, sẽ tìm cách không chỉ cứu nàng mà còn bảo toàn được tình yêu của mình. Nhưng không, chàng đã hoàn toàn đầu hàng vợ cả, đã chịu thừa nhận “thấp cơ thua trí đàn bà”, nên dù có khóc lóc, kể lể … dù “mặt trông tay chẳng nỡ rời”với Thúy Kiều thì cuối cùng cũng phải khuyên nàng và nói rõ quyết định của mình: “Liệu mà cao chạy xa bay / Ái ân ta có ngần này mà thôi”! Ngần này là ngần nào? Là từ khi ta gặp nàng ở thanh lâu, ta hoàn lương nàng làm vợ và đã sống với nhau ngần ấy thời gian ở Lâm Tri, nơi xa Vô Tích và chuyện ấy Hoạn Thư chưa biết. Còn đến khi cả nàng và ta đã gặp nhau ởn đây, tình cảnh xẩy ra như nàng đã biết, thì coi như chấm dứt chuyện ái ân giữa hai ta.Là một chữ HÈN viết hoa, chắc Thúy Kiều cũng nghĩ thế!


  Trong số những người đàn ông đi qua cuộc đời Thúy Kiều, kể chi bọn khách làng chơi, “đưa cửa trước, rước cửa sau”, “chơi hoa nào đã mấy người biết hoa”, so với Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Từ Hải thì Thúc Sinh là người được “hưởng” Thúy Kiều nhiều hơn cả. Chàng Kim chỉ được thấy vẻ đẹp bề ngoài, được biết nàng tài đàn, tài thơ và tâm hồn đa cảm, còn chuyện chăn gối thì mãi mãi chỉ nằm trong ước vọng ngay khi đã đoàn viên. Mã Giám Sinh phá đời con gái của nàng trong đêm ở nhà trọ, nhưng suy tính, sợ sệt, “khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng” thì còn đâu có cảm giác hạnh phúc? Sở Khanh có họa thơ với Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhưng không được Thúy Kiều họa lại, còn chuyện thể xác Truyện Kiều không nói đến, còn trong Kim Vân Kiều Truyện thì nàng Kiều đã hiến thân cho gã này để mong gã đưa mình trốn thoát, và Sở Khanh phải “thực thi” chuyện này một cách vụng trộm trong đêm leo thang dây lên phòng nàng Kiều. Từ Hải có thể sống với Thúy Kiều lâu hơn Thúc Sinh đã sống, nhưng vị quan võ này hình như chỉ lo chuyện “chọc trời khuấy nước” mà ít khi tâm sự với vợ, nói chi chuyện nghe đàn với họa thơ. Thúc Sinh là người hưởng trọn cả thể xác với tinh thần của Thúy Kiều. Kể từ buổi gặp gỡ ban đầu, hai người tâm đầu ý hợp, cùng nhau “hương sớm, trà trưa”, “bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn”, nghĩa là trong bốn thứ cầm, kỳ, thi, họa thì Thúc Sinh chỉ còn không được thưởng thức tài vẽ của Thúy Kiều (vì nàng chưa từng vẽ bao giờ!), còn thì được hưởng đủ cả, lại thêm trà và rượu!Thân thể tuyệt mỹ của nàng Kiều “ trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đuc một tòa thiên nhiên” thì cũng chỉ một mình chàng Thúc được chiêm ngưỡng ngoài khi chăn gối mà thôi!Đến khi đã hoàn lương được nàng Kiều, hai người thành vợ chồng rồi, sống với nhau “cả một năm ròng”, “huệ lan sực nức một nhà”, khi nào cũng tưởng như tuần trăng mật…và còn biết bao kỷ niệm khác. Thế mà trước áp lực của Hoạn Thư, Thúc Sinh đã khuyên Kiều trốn chạy, và đối với Kiều, đau nhất là câu “Ái ân ta có ngần này mà thôi”, nói ra từ miệng Thúc Sinh, chẳng khác gì Sở Khanh đêm khuya bỏ nàng lại giữa rừng khi thực thi kế hoạch của Tú bà.


  Nhân vật Thúc Sinh, ngoài việc phản ảnh một loại đàn ông trong xã hội, còn có chức năng làm rõ thêm phẩm chất và tính cách của hai nhân vật nữ là Thúy Kiều và Hoạn Thư, một người nhen nhúm tình yêu mê muội và khơi dậy sự LIỀU trong người chàng, còn người kia “đàn bà dễ có mấy tay” đã kéo chàng về tính HÈN tội nghiệp. Trong xã hội ngày nay cũng không hiếm những chàng Thúc Sinh như thế!


Tháng 1 năm 2015


  


 


TỪ DỊ BẢN TRUYỆN KIỀU NGHĨ ĐẾN BẢN KIỀU GỐC


           Tính đến nay, chúng ta đã có khoảng 100 bản Kiều Nôm và Quốc ngữ khác nhau, bao gồm bản in và bản chép tay. Trong số những bản Kiều đó, không có hai bản nào hoàn toàn giống nhau, có khi sự khác nhau lên tới hàng trăm chỗ, mỗi chỗ khác ít nhất là một chữ, có khi khác cả một đoạn gồm chục câu lục bát.


   Bây giờ chúng ta điểm qua những nguyên nhân đưa đến các dị bản, tức là sự khác nhau của các câu, chữ trong các bản đó.


      1- Dị bản do phiên âm chữ Nôm.


       Với chữ quốc ngữ, mỗi chữ viết chỉ có một cách đọc duy nhất, nhưng chữ Nôm không như thế, nghĩa là mỗi chữ có thể có nhiều cách đọc, phụ thuộc vào từng văn cảnh. Bởi vậy, nếu người phiên âm dù sành chữ Nôm nhưng không sành thơ thì cũng rất dễ phiên âm sai, ví như câu 250 có dị bản: Mây Tần khoá kín song the/ Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao. Câu tám có bản phiên âm: Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, hai chữ thứ ba và thứ tư của câu bát có hai cách phiên âm khác nhau, có thể là liệu nẻo, có thể là lẽo đẽo. Nếu người phiên âm có tâm hồn thơ và từng làm thơ, thì nhiều khả năng chọn hai từ lẽo đẽo, tức là bám dai dẳng, không rời...chứ không chọn hai chữ liệu nẻo ít chất thơ, quá trung tính, mà người làm thơ nào cũng muốn tránh.


       Như vậy, với Truyện Kiều, muốn hiệu đính những dị bản do phiên âm chữ Nôm, ngoài vấn đề hiểu biết chữ Nôm ra, người phiên âm cần có tâm hồn thơ và hiểu được phong cách sáng tác của Nguyễn Du và đặc trưng ngôn ngữ của Cụ. Thế là cần nhưng chưa đủ, người phiên âm phải luôn luôn bám chắc vào văn cảnh, cốt truyện...và có khi còn phải chú ý một số tiếng địa phương mà tác giả sử dụng.


      2 - Dị bản do kỵ huý.


      Trải qua gần hai trăm năm, Truyện Kiều được xuất bản nhiều lần trong thời phong kiến, dưới những triều vua khác nhau, nên phải kỵ huý khác nhau.


Dưới thời vua Tự Đức, chỉ vì Nguyễn Phúc Thì là tên  khai sinh của nhà vua mà 24 chữ thì trong Truyện Kiều đã bị đổi ra các chữ khác, như thà, là, nguyện, vì, những, liền, ắt, phải, rằng, thôi, lại... Và có khi không chỉ đổi một chữ thì, mà vì vần, vì nghĩa, một số chữ khác trong câu cũng "liên luỵ" mà  thay đổi theo. Có khi sự kỵ huý còn ngược về quá khứ, nên tất cả các chữ lan trong Truyện Kiều đều phải đổi ra hương để tránh trùng tên với chúa Nguyễn Phúc Lan... Ngoài hai chữ trên còn bao chữ khác bị đổi đi để tránh huý.


       Dị bản này dễ khắc phục, chỉ cần bỏ sự kỵ huý của các triều vua là trả lại từ ngữ vốn có của tác phẩm.


       3 - Dị bản do người biên soạn, hiệu đính


        Với những câu thơ có nghĩa thông suốt, đúng cốt truyện, hợp với văn cảnh, nói chung các nhà biên soạn không động tới. Khi gặp câu chữ khó hiểu, các nhà biên soạn thường tham khảo những sách đã xuất bản, nếu không thấy có chữ nào hợp ý thì có khi họ đề xuất một chữ, một từ mới  mà họ cho là hợp lý nhất. Đó là một lý do làm cho Truyện Kiều sau mỗi lần xuất bản lại có thêm dị bản. Với tôi, những từ, những câu do người biên soạn thêm vào mà không dựa vào một văn bản nào có từ trước thì dù thật hay cũng không đáng tin cậy vì công việc khảo dị của chúng ta là để cố gắng tìm ra chữ của Nguyễn Du chứ không với mục đích khác. Và với những nhà biên soạn có trình độ hạn chế, thì cách hiệu đính như vậy nhiều khi hạ cấp Truyện Kiều, như có nhà biên soạn đã đổi câu "Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân" thành "Đêm dài, ngày ngắn đồng đà sang xuân" sau một hồi lý luận rằng Nguyễn Du phải viết như thế! Những dị bản do người biên soạn sinh ra nhiều khi gây phiền hà đáng kể cho hậu thế trong công việc đi tìm nguyên bản Truyện Kiều.


      4 - Dị bản do công việc in ấn.


      Khi đề cập vấn đề này, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có trích lời nhà Đông phương học Xô Viết, trong cuốn "Cơ cấu tiếng An Nam" xuất bản năm 1936 :" Ở An Nam nghề in rất kém phát triển, hầu như các bản in đều nhờ thợ Trung Quốc khắc in ở Quảng Châu...". Như vậy nhiều bản Kiều cũng như các truyện thơ Nôm khác đã in ở Quảng Châu. Và cụ thể, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn còn cho biết, Duy Minh Thị và hai người bạn nữa của ông ta đã thuê mười cơ sở in ở Quảng Đông. Mà ta biết rằng, hầu hết thợ in người Trung Quốc đều không biết chữ Nôm, nên việc in nhầm, in sai...là điều dễ hiểu. May mắn là những dị bản do lỗi in ấn gây ra, phần lớn cũng dễ phát hiện ra và chỉnh lại.


      Với một số nhà nghiên cứu, trên đây là những nguyên nhân chính sinh ra dị bản của Truyện Kiều. Tôi suy nghĩ hơi khác: những nguyên nhân trên kia chỉ góp phần sinh thêm dị bản của truyện Kiều, chứ chưa phải là nguyên nhân chính. Nguyên nhân chính sinh ra dị bản Truyện Kiều là bởi tác giả của nó: Đại thi hào Nguyễn Du!


     Chúng ta từng chứng kiến rằng, phần lớn các bài thơ quen biết của các nhà thơ đương đại đều có dị bản. Đó là Ta đi tới, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên... của Tố Hữu; Đất Nước của Nguyễn Đình Thi; Màu tím hoa sim của Hữu Loan...Các dị bản này xuất hiện trong khi tác giả còn sống mà tác giả không hề có ý kiến để bênh vực hay loại bỏ một văn bản nào, điều đó chứng tỏ các dị bản kia vốn là sản phẩm của chính tác giả trong những khoảng thời gian khác nhau. Thơ của bản thân tôi cũng nhiều bài có dị bản, ví như Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc, một bài thơ được khắc đá dựng ở nghĩa trang Đồng Lộc, ngay cả đầu đề và một số chữ cũng khác bài thơ đó được in trong tuyển tập thơ Ngoảnh Lại. Nguyên nhân là do người khắc đá bài thơ này đã lấy văn bản đầu tiên của tôi in ở hội văn nghệ Hà Tĩnh, còn bản sau này do tôi sửa chữa thêm. Một bài thơ ngắn còn thế, huống chi Truyện Kiều?  Theo nhận định đáng tin cậy của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Du viết Truyện Kiều dưới chân núi Hồng Lĩnh trong khoảng thời gian sáu năm từ năm 1796 đến năm 1802. Một bài thơ ngắn mà sau khi viết xong chính tác giả còn chỉnh sửa bao lần, thì một tác phẩm dài hơi như Truyện Kiều công chỉnh sửa càng gấp bội, và điều này mới thật đáng lưu ý ở đây: khi tưởng như tác phẩm đã hoàn chỉnh rồi, đã trao tay bạn bè gần xa rồi, thì sau một thời gian hồi sức, chính tác giả lại thấy có thể sửa chữa được nữa để cho hay thêm. Sửa rồi, rồi lại sửa thêm. Thế là từ chính Nguyễn Du đã đưa ra công chúng (có thể chỉ chép tay thôi) các dị bản của Truyện Kiều. Ta hãy dừng lại ở một vài dị bản.


Đưa tin thúc phụ từ đường


Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề


Liêu Dương cách trở sơn khê


Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang


So sánh với:


Mở xem thủ bút nghiêm đường


Nhắn rằng thúc phụ xa đường mệnh chung


Hãy còn ký táng Liêu Đông


Cố hương khơi diễn nghìn trùng sơn khê


Rày đưa linh thấn về quê


Thế nào con cũng phải về hộ tang.


 


Và:


Sớm khuya hầu hạ đài doanh


Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra


Lựa lời nàng mới thưa qua:


"Phải chi mình lại xót xa nỗi mình"


Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh


"Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao"


Sinh đà ruột rát như bào


Nói ra chẳng tiện, trông vào chẳng đang


Những e lại luỵ đến nàng


Đánh liều mới sẽ lựa đàng hỏi tra


Cúi đầu quỳ trước sân hoa


Thân cung nàng mới thảo qua một tờ


Điện tiền trình với tiểu thư


Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.



So sánh với:


Sớm khuya hầu hạ đài doanh


Nét sầu khôn gượng, giọt tình còn hoen


Tiểu thư trông mặt quở liền:


"Sa mày nặng mặt bởi duyên cớ gì"


Bì tiên trao lại tức thì;


"Cậy chàng hỏi nó rằng vì làm sao?"


Sinh đà ruột xót như bào


Nói ra chẳng tiện, trông vào sao đang


Loanh quanh cua lột bò sàng


Sợ đây thương đấy hai đàng không xong


Dưới thềm trên kỷ cùng trông


Một lời chưa mở hai dòng đã sa


Lấy lòng giả cách hỏi tra


Thân cung nàng đã thảo qua một tờ


Đọc rồi đưa lại tiểu thư


Thoắt trông dường cũng ngẩn ngơ chút tình.


         Hai cặp dị bản trên không những khác nhau trong từng câu chữ mà số lượng câu cũng khác. Đây là hai trong những chỗ khác nhau lớn nhất trong các dị bản Truyện Kiều. Rõ ràng bốn nguyên nhân sinh ra dị bản ta đã điểm trên kia thì không thể sinh ra loại dị bản như hai cặp này. Từ việc khảo sát các dị bản trong tác phẩm của các nhà thơ đương đại, chúng ta suy ra rằng, ngoài Nguyễn Du ra, không ai ngồi viết lại từng đoạn thơ dài như trên. Cũng có người nói rằng, các truyện thơ Nôm trước đây ngoài tác giả còn có người nhuận sắc. Với tài năng xuất chúng như Nguyễn Du, tôi không tin Truyện Kiều cần đến người nhuận sắc, mà nếu có người nhuận sắc đi nữa thì cũng không thể ngồi viết lại từng đoạn như thế.Trước đây vì không ai coi chính tác giả sinh ra dị bản, nên đứng trước các dị bản, người ta cố tìm cái nào là của Nguyễn Du, rồi chứng minh một văn bản là không phải của Đại thi hào. Tôi nghĩ rằng, đứng trước phần lớn các dị bản không nên làm như thế, mà nên cân nhắc xem văn bản nào có trước và tác giả đã sửa chữa như thế nào. Chúng ta biết rằng, khi sửa một đoạn thơ này thành một đoạn thơ khác, thì không phải câu nào cũng được hay thêm, thậm chí có câu còn dở đi, nhưng nói chung cả đoạn thì hay thêm, hoặc là đã bớt đi một khiếm khuyết nào đó mà bản thân tác giả cho là cần thiết. Quan sát, so sánh các dị bản này có khi chúng ta rút ra những bài học từ lao động sáng tạo của Đại thi hào với mục đích nâng chất lượng thơ trong Truyện Kiều.


      Hơn một trăm năm qua, nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm bỏ nhiều công sức để tìm nguyên bản Truyện Kiều, công việc không thành và đi đến kết luận: bản gốc không còn! Dường như các nhà sưu tầm, nghiên cứu đều nghĩ rằng,Truyện Kiều chỉ có một bản gốc duy nhất, nay bị thất lạc mất rồi, và những văn bản hiện đang lưu hành là bản gốc bị biến dạng bởi "tam sao thất bản" cũng như sự sửa chữa tuỳ tiện của người đời sau. Tôi suy nghĩ hơi khác. Nếu như coi Truyện Kiều từ tay Nguyễn Du viết ra là Truyện Kiều gốc, thì nó không chỉ có một, mà nhiều bản Kiều gốc, qua mỗi lần tác giả sửa chữa lại có một bản gốc, và nói chung, những bản xuất hiện sau có giá trị hơn bản xuất hiện trước, và bản cuối cùng từ tay Nguyễn Du đến bạn đọc là có giá trị nhất, ít ra trong sự đánh giá của tác giả. Bởi vậy chúng ta cũng đừng quá mất công để cố tìm bản Kiều mà Nguyễn Du cho ra đời sớm nhất, và khi chưa tìm được nó thì đừng coi chỉ nó mới là của Nguyễn Du. Tôi nghĩ rằng, nếu tìm được bản đó thì có công lớn về mặt sưu tầm, chứ về chất lượng văn học, chắc gì đã hay bằng tác phẩm sau khi được tác giả sửa chữa nhiều lần mà chúng ta đã quen biết.


    Đó là điều tôi suy nghĩ  về bản Kiều gốc từ các dị bản Truyện Kiều.


                                                                                               


THỜI ĐIỂM  NGUYỄN DU VIẾT TRUYỆN KIỀU


            Giá như khi viết xong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du cũng có thói quen như các nhà văn, nhà thơ ngày nay, hào hứng ghi vào cuối sách địa điểm và thời gian sáng tác theo kiểu Tiên Điền (hay Quỳnh Hải hoặc Phú Xuân…), ngày… thì hậu thế chúng ta đỡ bao nhiêu công sức; dù bản gốc Tuyện Kiều không còn, hy vọng rằng dù qua "tam sao thất bản" thì cũng không mất câu ghi chú kia, vì không một ai muốn sửa nó để làm gì! Đàng này cụ không để lại một câu hoặc một chữ nào có liên quan đến thời gian và nơi chốn viết Truyện Kiều nên ngót hai trăm năm qua, bao nhà nghiên cứu đã lý luận, phỏng đoán và có những ý kiến khác nhau về vấn đề này. Chỉ riêng từ giữa thế kỷ Hai mươi đến nay đã tốn kém bao nhiêu giấy mực.Tôi xin trích câu đúc kết của Nguyễn Hoàng Sơn trong cuốn Văn đàn, thời sự và bình luận để tóm tắt tình hình: " Tóm lại từ năm 1943 đến nay, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn và Trương Chính đã gặp gỡ nhau trong việc cho rằng Truyện Kiều được sáng tác trước khi Nguyễn Du đi sứ, thậm chí trước khi ra làm quan dưới thời Gia Long…, ông Nguyễn Quảng Tuân vẫn cho rằng Truyện Kiều được viết sau năm 1813."


            Trước kia Hoàng Xuân Hãn đã từng nghĩ rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ, từ năm 1815 đến năm 1820, nhưng sau đó với những bằng chứng và suy xét mới, ông đã thay đổi ý kiến. Hiện tại chỉ có một số ít người cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ. Luận cứ của họ  đại ý nói rằng, chân Nguyễn Du có đặt tới đất Trung Quốc, mắt có chứng kiến phong cảnh nơi ấy mới tả cảnh được như thế! Luận điểm thô thiển này đã được Nguyễn Hoàng Sơn bác lại một cách thuyết phục, tôi không nhắc lại ở đây. Nguyễn Hoàng Sơn đồng tình với một số nhà nghiên cứu như Trương Chớnh,Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn...cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước thời Gia Long, cụ thể là vào những năm 1796 - 1802, cứ liệu chủ yếu là trong Truyện Kiều không tránh kỵ huý, một điều mà có thể dẫn đến tội chết dưới thời Gia Long.Với tôi, những nhận định này khá tin cậy, và tôi muốn góp thêm một chi tiết nhỏ để khẳng định thêm kết luận này.


          Chúng ta biết rằng cụ Nguyễn Du mất ở Phú Xuân ( Huế ) năm 1820. Lúc này Nguyễn Hành, cháu ruột của Nguyễn Du ( Nguyễn Hành là con của Nguyễn Điều) đang lưu lạc ở Thăng Long đã viết một bài thơ khóc chú rất cảm động, phiên âm như sau:


 


Thập cửu niên tiền  Tố Như tử


Nhất thế tài hoa kim dĩ hĩ


Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn


Dịch lệ hà năng tốc công tử


Tam thu luân lạc thử thành trung


Nam vọng phù vân mỗi ức công


Quy khứ gia sơn văn dạ lạp


Tinh linh hoảng dữ năng thời đồng.


(Mười chín năm trước đây, chú Tố Như nổi tiếng tài hoa nhất đời. Phúc dày nhà ta chú đã khéo giữ được trọng vẹn. Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế! Ba năm lưu lạc ở thành này, nhìn về phương nam thấy mây là nhớ chú. Từ nay núi nhà ban đêm nghe tiếng người đi săn thì tâm hồn lại hoảng hốt giống y như ngày xưa còn chú - Theo bản dịch của Nguyễn Thạch Giang).


   Trong bài viết này, tôi chú ý tới hai câu mở đầu của bài thơ. Nếu như Nguyễn Hành viết rằng hai mươi năm trước đây, chú tôi nổi tiếng tài hoa nhất đời thì chúng ta khó dựa vào con số hai mươi đó, vì có thể đó chỉ là từ ước chừng, không phải chính xác. Nhưng ở bài thơ này, Nguyễn Hành viết mười chín năm trước đây, đó là một con số cụ thể. Bài thơ này Nguyễn Hành viết năm 1820,  mười chín năm trước, tức là năm 1801. Thế thì năm 1801 có sự kiện gì để cho Nguyễn Du trở nên người tài hoa nhất đời?  Theo niên phổ Nguyễn Du, năm 1801 không hề có cuộc thi thơ nào để cho Nguyễn Du đạt giải cao nhất! Thế thì việc làm nên vinh quang đó là xuất hiện tác phẩm văn học của Nguyễn Du. Ta thử xét xem, có phải những bài thơ chữ Hán đã đem lại vinh quang đó?


     Chúng ta biết rằng, Nguyễn Du là một nhà thơ chữ Hán rất nổi tiếng với ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập (còn gọi Thanh Hiên tiền hậu tập), Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Bắc hành tạp lục có 132 bài, viết trong thời gian đi sứ Trung Quốc, khoảng mười bốn tháng trong hai năm 1813 và 1814. Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài thơ viết ở Phú Xuân và Quảng Bình từ năm 1804 đến năm 1820.  Thanh Hiên tiền hậu tập gồm 78 bài, trong đó có 60 bài viết trước khi ra làm quan dưới thời Gia Long, còn những bài khác viết trong giai đoạn đầu ra làm quan từ năm 1802 đến 1804. Nói như vậy cũng có nghĩa là, trước khi ra làm quan cho triều Nguyễn, Nguyễn Du chỉ có 60 bài thơ chữ Hán nhưng chưa hề có một tập thơ nào! Thế thì đến năm 1801, chỉ có chưa đầy 60 bài thơ chưa thành tập, mấy ai biết được những bài thơ đó như thế nào mà để tác giả của nó trở thành người nổi tiếng tài hoa nhất đời ?


            Khả năng các bài thơ chữ Hán đã bị loại trừ, thế thì tác phẩm chữ Nôm nào năm 1801 đã đem lại cho Nguyễn Du vinh quang đó? Thác lời trai phường nón chăng?  Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh chăng? Thác lời trai phường nón thì chắc chắn được sáng tác trước năm 1801; Văn chiêu hồn…cũng có thể sáng tác trước năm đó, hai bài thơ này cũng khá hay đấy nhưng chưa đủ sức đưa Nguyễn Du lên đài vinh quang "nhất thế tài hoa". Văn tế sống hai o gái Trường Lưu chăng? Về nghệ thuật, bài văn tế này quá kém so với Nguyễn Du và chưa thể gọi là hay so với những nhà thơ khác nên làm sao nhận nổi trách nhiệm đưa Nguyên Du lên đài vinh quang? Một điều nữa là mặc dù theo Nguyễn Thạch Giang, bài văn tế này, trong một số tài liệu khẳng định là của Nguyễn Du, nhưng tôi vẫn nghi vấn bởi hai lý do. Một là, trong thơ của Nguyễn Du, dù một bài, một câu, chữ THƯƠNG bao giờ cũng bao trùm lên tất cả vì lúc nào Nguyễn Du cũng quan niệm " tương liên bất tại đồng" (người khác hoàn cảnh vẫn thương nhau); còn trong Văn tế sống…tình thương hầu như vắng bóng trong suốt 100 cặp câu biền ngẫu, thay vào đó là lối nói nhiều lúc khinh khi, coi thường người khác, điều mà ta không bao giờ thấy trong những bài thơ Nôm khác cùng 250 bài thơ chữ Hán của đại thi hào. Điều thứ hai, lối dùng tiếng địa phương trong bài văn tế này không phải là lối dùng của người sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, có thời gian sống ở quê và biết ít nhiều tiếng Nghệ Tĩnh như Nguyễn Du mà là lối nói của người sinh ra và lớn lên ở vùng quê ấy… Tôi không tin bài văn tế này là của Nguyễn Du và mong các nhà Nguyễn Du học lưu tâm vấn đề này, nghiên cứu để đi đến một kết luận xác đáng.Tôi sẽ có một bài riêng đề cập vấn đề này.


            Thế thì chỉ còn Truyện Kiều đã đem lại cho Nguyễn Du vinh quang đó, tức là năm 1801, năm Nguyễn Du 36 tuổi, Truyện Kiều đã đến tay bạn đọc và được dư luận nhiệt liệt hoan nghênh.


            Chúng ta đều biết rằng, Nguyễn Du gặp "gia biến" vào năm 1786, trong một năm mà hai người anh là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều, những nơi nương tựa cuối cùng của Nguyễn Du, cùng mất. Nguyễn Du phải về sống nhờ quê vợ ở Quỳnh Hải, Thái Bình mười năm trời. Đến năm 1796, do người vợ mất sớm, Nguyễn Du đã đưa cậu con trai tên là Nguyễn Tứ về quê dưới chân núi Hồng Lĩnh sinh sống trong 6 năm tiếp theo cho đến năm 1802, trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long. Nếu Truyện Kiều được hoàn thành và ra mắt bạn đọc vào năm 1801 như đã nói ở trên thì chúng ta tin chắc rằng,  Truyện Kiều được đại thi hào sáng tác chủ yếu ở quê nhà trong 5 năm từ 1796 đến 1801, cũng không loại trừ khả năng kiệt tác này đã được tác giả manh nha sáng tác từ những năm sống ở quê vợ trước đó.


     Có thể có bạn đọc thắc mắc rằng, Nguyễn Hành chỉ nói rằng năm 1801 Nguyễn Du là người tài hoa nhất đời chứ không nói tài thơ nhất đời, thế thì chắc gì tài thơ làm nên cái tài hoa ấy? Xin hãy đọc tiếp câu thứ ba: " Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn", nghĩa là Phúc dày nhà ta chú đã khéo giữ được trọn vẹn". Phúc dày đó là Nguyễn Hành muốn nhắc tới tài thơ "gia truyền" của con cháu Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Nghiễm hay thơ và có hai tập thơ riêng, Nguyễn Khản hào hoa phong nhã, có thơ trong Nguyễn gia phong văn tập và người từng tham gia dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trân Côn; Nguyễn Nễ (anh ruột Nguyễn Du) là một tay văn chương lỗi lạc, từng có hai tập thơ. Hai người cháu có tuổi xấp xỉ Nguyễn Du cũng rất nổi tiếng :Nguyễn Hành là một trong năm nhà thơ hàng đầu lúc bấy giờ. Nguyễn Thiện (anh ruột Nguyễn Hành) từng nhuận sắc Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự.( Theo Nguyễn Du tác phẩm và lịch sử văn bản của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính). Bởi thế cái đem lại cho Nguyên Du trở nên tài hoa nhất đời mà Nguyễn Hành muốn nói không có gì khác ngoài tài thơ ra.


            Nhân đây tôi xin nhắc lại một giai thoại mà người Nghệ Tĩnh bao đời còn truyền nhau. Giai thoại kể rằng, Nguyễn Du vừa đưa võng (loại võng tre phổ biến ở Nghệ Tĩnh, giống hệt một chiếc chõng tre biết đung đưa) vừa suy nghĩ sáng tác Truyện Kiều, nghĩ xong câu nào liền dừng võng lại viết, viết được trang nào thì dán lên vách nhà, hết tờ này đến tờ khác, theo từng hàng, để tiện đọc lại và sửa chữa. Năm ông viết xong Truyện Kiều, người ta đọc thấy hay quá rồi thi nhau chép tay. Lúc đầu người trong làng chép, sau đó lan ra cả xã, huyện, tỉnh. Số người chép đông đến nỗi, chỉ sau một thời gian, trên đất Nghệ Tĩnh, đến chợ không thể tìm đâu ra một tờ giấy bản, muốn có giấy phải đi mua ở các tỉnh xa vì các tỉnh gần giấy cũng khan hiếm theo! Phải chăng giai thoại này một phần củng cố thêm lập luận Nguyễn Du viết Truyện Kiều ở trên đất quê hương?


 29-5-2005


                                                                          


 NGỒI  ĐỂ  RA  OAI


          Với con người, ngồi là một trong bốn trạng thái tĩnh: nằm, ngồi, quỳ, đứng. Tiểu tiết ra, mỗi trạng thái ấy được chia ra những tư thế khác nhau. Nằm thì có nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp; ngồi bao gồm ngồi bệt, ngồi xếp bằng, ngồi ghế, ngồi ngựa; quỳ thì có quỳ gập, quỳ đứng…Ta biết rằng, khi muốn hạ thấp mình trước người khác để van xin, người ta thường quỳ. Thế thì, muốn thể hiện oai phong của mình, nói gọn lại là ra oai thì người ta thường giữ mình ở trạng thái nào? Trong đời thì có thể phức tạp hơn, chỉ trừ trạng thái quỳ, còn đứng, ngồi, nằm đều có thể giương oai. Nhưng trong Truyện Kiều, các nhân vật của cụ Nguyễn Du thường dùng trạng thái ngồi để ra oai với người khác.


   Trước hết phải kể đến gã Mã Giám Sinh, đã ngoại tứ tuần, tay buôn người chuyên nghiệp, đóng vai một lão nhà giàu đi tìm vợ thiếp. Hình thức “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” gã thấy chưa đủ để giương oai khi vào nhà Thuý Kiều, thế thì phải làm thế nào đây để ra oai? Gã nghĩ ngay đến cái ghế, nghĩ đến chỗ ngồi. Thế là gã leo ngay lên ngồi ở chiếc ghế cao nhất, mặc dù cụ nguyễn Du chỉ dùng hai chữ “ghế trên”, nhưng với cái thái độ “ngồi tót sỗ sàng” của gã, ta tin rằng, cái ghế gã chọn là cái ghế cao nhất, mà gã cho là oai nhất. Chỗ gã ngồi là ghê trên, cách gã ngồi là “ngồi tót”, đó là chỗ ngồi và tư thế ngồi mà gã tin là oai lắm khi nàng Kiều theo bà mối từ buồng trong bước ra trình diện.


   Kế đến là mụ Tú Bà. Khi Thuý Kiều theo Mã Giám Sinh suốt một tháng ròng từ Bắc Kinh đến Lâm Tri, mụ Tú Bà “lơi lả han chào” ra điều thân thiện lắm, rồi đưa nàng vào lạy “hương hoả gia đường”. Xong việc ấy, Tú Bà cần ra oai với Thuý Kiều để cho nàng hiểu phận sự của mình và thứ bậc trong nhà, thế là “Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay”và bắt Thuý Kiều lạy mình. Phải chăng chính Nguyễn Du đã sáng tạo ra hai chữ “vắt nóc” chưa từng có trong từ điển xưa nay để chỉ một kiểu ngồi trịch thượng, tỏ vẻ oai phong, bắt Thúy Kiều lạy mình: Bảo rằng con lạy mẹ đây…


  Gã Sở Khanh chuyên làm nghề lừa các cô gái mới bước vào thanh lâu, tạo điều kiện cho mụ Tú ép tiếp khách, có khi cũng tỏ ra vẻ anh hào, ra oai trước Thuý Kiều cũng “Lặng ngồi lẩm nhẩm gật đầu / Ta đây nào phải ai đâu mà rằng” rồi hứa hẹn lấp bằng bể trâm luân.


   Sau khi bọn Khuyển Ưng đánh thuốc mê bắt Thuý Kiều dưa về Vô Tích, và bị dẫn giải đến trình bà mẹ của Hoạn Thư. Thuý Kiều bàng hoàng vì dinh cơ của gia đình Thượng thư bộ Lại, có toà rộng dãy dài, và hãi hùng nhất là cảnh này:


 Ban ngày sáp thắp hai bên


Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà!


  Tất nhiên là sinh hoạt của gia đình quyền quý khác người thường, có nến thắp giữa ban ngày, nhưng cái chuyện bà vợ quan Thượng thư ngồi trên giường thất bảo, đâu phải là chuyện thường trực, mà ở đây bà dùng cái cảnh giàu sang và thế ngồi của mình để ra oai với Thuý Kiều, khi vừa tỉnh thuốc mê theo gia nhân lên trình diện bà. Nếu như Kiều gặp bà ở hành lang hay trong vườn thì làm sao có ấn tượng hãi hùng như thấy bà ngồi trên giường thất bảo, hai bên thắp nến. Thế là bà dùng thế ngồi để ra oai đã đạt hiệu quả.


  Từ Hải cũng thể hiện oai phong bằng dáng ngồi sau khi thắng trận trở về. Nhưng tướng quân không ngồi trên ghế như Mã Giám Sinh, không ngồi trên giường như Tú Bà hoặc bà mẹ Hoạn Thư, mà ngồi…trên mình ngựa:


Kéo cờ luỹ, phát súng thành


Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài


“Ra ngựa” là ngồi trên mình ngựa, Từ Hải oai phong đi đón Thuý Kiều.


    Thuý Kiều có biết bao lần ngồi buồn, ngồi nhớ…duy có một lần ngồi đầy oai phong. Đó là lần báo ân, báo oán:


Trướng hùm mở giữa trung quân


Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.


Rõ ràng đây là lần duy nhất Thuý Kiều có quyền sinh, quyền sát là khi nàng ngồi bên cạnh Từ Hải như vị quan toà giữa thanh thiên bạch nhật.


     Phải chăng, đối với các nhân vật trong Truyện Kiều, “muốn oai thì chọn thế ngồi ra oai”?


                                                                                               


AI KHEN THUÝ KIỀU NHIỀU NHẤT?


     Thuý Kiều tài sắc vẹn tròn nên được nhiều người khen là điều dễ hiểu. Nhưng với câu hỏi “Ai khen Thuý Kiều nhiều nhất?” thì ngay cả những nhà Kiều học cũng không dễ trả lời ngay, vì nàng từng được nhiều người khen trong những hoàn cảnh khác nhau, và những lời khen đó rải rác từ đầu đến cuối truyện, nếu không có việc thống kê cẩn thận thì khó biết được kết quả.


   Ta dễ thấy người khen Thuý Kiều đầu tiên là Đại thi hào Nguyễn Du. Cụ khen nàng đẹp, thông minh, tài hoa thể hiện qua các câu thơ tả nàng: “ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hớn kém xanh”. Đó là sắc, còn tài thì : “Cung thương làu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”, nói nôm na ra thì Cụ khen kiều nhiều tài: thi, hoạ đều biết, nhạc rất sành, riêng khoản hồ cầm thì không ai sánh kịp. Nhưng Cụ là tác giả Truyện Kiều, Cụ thương nàng Kiều rồi khen nàng là chuyện thường tình, thế còn các nhân vật trong Truyện Kiều đã khen nàng Kiều như thế nào?


  Với các nhân vật, Đạm Tiên là người khen nàng Kiều đầu tiên. Đạm khen Kiều tài thơ, thơ đề bên mộ thì như “ném châu gieo vàng”; còn thơ viết trong chiêm bao thì: “ Ví đem vào tập đoạn trường. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai”. Còn khi gặp lại trên sông Tiền Đường, Đạm Tiên khen Thuý Kiều là “phúc dày” và “Tâm thành đã thấu đến trời”.


  Nhân vật thứ hai khen Thuý Kiều là Kim Trọng. Kim khen Kiều tài thơ khi đọc bốn câu thơ nàng đề ở bức tranh tùng: “ Khen tài nhả ngọc, phun châu. Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này”. Khen tiếng đàn: “Rằng hay thì thật là hay…”. Chàng Kim còn khen phẩm giá và tiếng đàn của Thuý Kiều khi tái hồi.


 Mụ mối khen Kiều “giá đáng nghìn vàng”. Mã Giám Sinh khen: “Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa”. Sở Khanh khen Kiều “sắc nước hương trời”; Thúc Sinh khen nhan sắc: “Sinh càng tỏ nét càng khen”. Quan phủ khen tài thơ và sắc đẹp : “ Khen rằng giá đáng Thịnh Đường. Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân”. Thúc Ông: “Thương vì hạnh, trọng vì tài” cuối buổi xử kiện và khen nàng “nết na” khi tưởng nàng chết cháy: “Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na”. Mụ quản gia nhà họ Hoạn khen người, khen nết: “Thấy người thấy nết ra vào mà thương”. Từ Hải khen Kiều có con mắt tinh đời, biết đoán anh hùng giữa trần ai. Họ Đô khen Kiều: “ tài sắc ai bì, có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ, kiên trinh chẳng phải gan vừa…”. Giác Duyên khen : “ Người sao hiếu nghĩa đủ đường”. Sư Tam Hợp khen: “Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan”. Và sau khi đoàn viên, trước sự cư xử của Thuý Kiều, “ Một nhà ai cũng lạ lùng, khen khao”…


   Còn Hoạn Thư thì sao? Nhân vật này đã thành biểu tượng cho máu ghen của người phụ nữ bởi cách đánh ghen làm nhục tình địch có một không hai. Nhưng đó chẳng qua vì “ chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Thực ra, Hoạn Thư là người “biết người biết của”, với Thuý kiều thì “Lòng riêng riêng những kính yêu”.Ngay sau khi đưa Thuý Kiều từ nhà mẹ về nhà mình, nghe tiếng đàn của Thuý Kiều, Hoạn Thư đã biết Kiều là người tài và thay đổi cách cư xử: “ Hoạn Thư nghe cũng thương tài. Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân”. Đó là là lần thứ nhất Hoạn khen Kiều tài. Lần thứ hai, Hoạn Thư khen Kiều tài ngay trước mặt Thúc Sinh: “ Rằng Hoa Nô đủ mọi tài. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe”. Sau khi đọc tờ trình của Thuý Kiều ý muốn ra Quan Âm Các, Hoạn thư đã thốt lên: “ Rằng tài nên trọng mà tình nên thương. Ví chăng có số giàu sang. Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên”. Đây là lần thứ ba Hoạn Thư khen Kiều, và qua câu này, ta thấy trong Truỵên Kiều không ai đánh giá Thuý Kiều cao như Hoạn Thư đánh giá. Và khi xem bản kinh Kiều chép, thì Hoạn Thư : “ Khen rằng bút pháp đã tinh . So vào với thiếp Lan Đình nào thua” và “ Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài”!


     Như vậy trong Truyện Kiều, người khen Thuý Kiều nhiều nhất, không phải ai khác, mà chính là là Hoạn Thư. Hoạn Thư khen Kiều đàn hay, viết tờ trình tài và chép kinh chữ đẹp như thiếp Lan Đình…Nhưng bạn đọc chú ý cho rằng, Hoạn thư có thể khen Kiều nhiều thứ khác nữa, nhưng tuyệt nhiên không khen nhan sắc của nàng Kiều, cũng giống như các bà vợ cả xưa nay, không mấy ai khen vợ thứ của chồng là…đẹp!                                                                                           


BÂNG KHUÂNG NHỚ CỤ  THƯƠNG THÂN NÀNG KIỀU



Lời giới thiệu Tuyển tập thơ “Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều” do Hội Kiều học ấn hành năm 2015



      Mượn một câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để đặt tên cho ấn phẩm này bởi  “Bâng khuâng nhớ Cụ thương thân nàng Kiều” ôm chứa khá đầy đủ hai nội dung của tập sách: viết về Đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều.


   Với chủ đề thứ nhất, bài thơ sớm nhất mà chúng ta có được là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Bài này ra đời sau năm 1813, năm Nguyễn Du được thăng chức “Cần chánh học sĩ”.Bài thơ đượm buồn, thể hiện sự luyến tiếc của nữ sĩ về mối tình không thành giữa hai người:


Chữ tình chốc đã ba năm vẹn


Giấc mộng rồi ra nửa khắc không


(Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu – Hồ Xuân Hương)


Rất lạ là trong tất cả các tác phẩm của Nguyễn Du để lại, chúng ta không thấy có bài nào thể hiện mối tình này. Đó là bài thơ duy nhất chúng ta có được ra đời khi Nguyễn Du còn sống. Sau đó dăm bảy năm, năm 1820, Nguyễn Hành, cháu của Nguyễn Du ở Thăng Long, nghe tin chú qua đời ở Phú Xuân, có làm bài thơ khóc chú thật cảm động. Nguyễn Hành là cháu, nhưng chỉ kém Nguyễn Du sáu tuổi, và cũng là một trong năm nhà thơ nổi tiếng nhất nước ta thời ấy (An Nam ngũ tuyệt). Hình như Nguyễn Hành xa chú đã lâu, và ngày chú mất cũng không có điều kiện vào Phú Xuân chịu tang được, nên dùng thơ nói nỗi lòng mình:


Ba năm luân lạc Long Thành


Nhớ chú, cháu vọng mây bềnh trời Nam


Về quê nghê tiếng phường săn


Tưởng như gặp chú những năm non Hồng.


(Văn thúc phụ  Lễ bộ tham tri phó âm cảm tác – Nguyễn Hành)


   Nguyễn Du qua đời đã ngót hai trăm năm qua. Thế hệ sau tiếp thế hệ trước tưởng nhớ , nhiều tổ chức làm lễ truy điệu. Năm 1927, trong một lễ truy điệu như thế, học giả Bùi Kỷ, người có nhiều công trong việc hiệu đính Truyện Kiều đã viết một bài thơ song thất lục bát khá dài, kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Đại thi hào với những vần thơ rưng rưng nước mắt. Cái hay của bài thơ truy điệu này còn ở chỗ tác giả sử dụng nhiều từ, nhiều ý trong Truyện Kiều một cách tự nhiên để nói nghĩ suy của Nguyễn Du những năm “gió bụi”:


Song chẳng lẽ cũng liều nhắm mắt


Cũng dày mày dạn mặt cho xong


Cầm bằng như kiếp má hồng


Hơn nhau chỉ một tấm lòng chính chuyên…


(Truy điệu cụ Nguyễn Du – Bùi Kỷ)


  Năm 1944, nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Du, Hội Tri tân tỉnh Thanh Hóa có mở một cuộc thi viết thơ truy điệu Đại thi hào và đã được các nhà Nho, học giả hưởng ứng nồng nhiệt. Điển hình là bài “Văn truy điệu Nguyễn Du” của tác giả Đào Tử Minh. Bài này viết theo hình thức văn tế, gồm những cặp câu biền ngẫu. Thể văn tế có thế mạnh là ôm chứa được rất nhiều chi tiết, sự việc…mà những thể thơ khác có khi bất lực:


“Đất Bắc Hà Lê triều thần tử, đã chấp kinh nào chịu tòng quyền


Nguyễn Tố Như sắc triệu tính danh, sợ uy thế phải ra nhận chức


Khi thủ hiến Tiên châu, khi thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân


Lúc Bắc hành Chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh, tài thao lược vang lừng trong hai nước


Đất người đòi phen xướng họa, mắng Tần Cối, khóc Khuất Nguyên


Quê nhà những lúc thảnh thơi, viết Truyện Kiều, thích cổ lục”.


        (Văn truy điệu Nguyễn Du – Đào Tử Minh)


  Sau Cách mạng Tháng Tám, chính thể xã hội hoàn toàn thay đổi, nhưng lòng yêu Truyện Kiều, kính trọng cụ Nguyễn Du vẫn liền mạch xưa. Năm 1965, khi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ lan ra toàn miền Bắc nước ta, cầu đường bị phá hoại triệt để, nửa đêm nhà thơ Tố Hữu qua phà Bến Thủy để vào Nam, cảm xúc khi chạm vùng đất Nghi Xuân, nhà thơ đã sáng tác bài “Kính gửi cụ Nguyễn Du” với những dòng lục bát chứa chan tình cảm:


“Tiếng thơ ai động đất trời 
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu. 
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du 
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.


(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu) 


  Đọc Truyện Kiều chúng ta không chỉ hiểu được tài thơ tuyệt đỉnh mà còn thấm đẫm lòng nhân ái của đại thi hào, người có trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Nhưng muốn hiểu nhiều hơn về Cụ, ta cần đọc ba tập thơ chữ Hán là “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”. Bởi vậy, nhiều nhà thơ viết về “con người” Nguyễn Du thường dựa vào các bài thơ chữ Hán, điển hình là nhà thơ Ý Nhi, với bài “Nguyễn Du, 1913” với dồn dập những đoạn phóng túng, bộn bề cảm xúc:


“Tháng năm trôi qua như giấc mộng
mà nào như giấc mộng chàng Lư
ta lênh đênh góc bể chân trời
ta là người bệnh không có thuốc
kẻ đói không có cơm
ta dùng sách làm gối tựa khi đau yếu
uống rượu cho bớt vẻ xanh xao
Một mình khêu ngọn đèn trong đêm đã bắt đầu dài”.


                                 ( Nguyễn Du, 1813 – Ý Nhi)


Chúng ta dễ nhận ra, tác giả đã dùng ý trong các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du để khắc họa chân dung Cụ bằng sự trăn trở, suy tư.


   Viết về quê hương Tiên Điền cũng chiếm một phần quan trọng trong những bài thơ viết về Nguyễn Du. Gần hai trăm năm qua, có biết bao người đã về Tiên Điền viếng mộ Cụ, trong đó có bao thế hệ nhà thơ. Chúng ta đều biết rằng năm 1820, Nguyễn Du từ trần và mai táng ở Phú Xuân. Bốn năm sau, năm 1824, con cháu đã đưa hài cốt của cụ  về mai táng trong vườn nhà. Mãi đến năm 1928, tức 104 năm sau, mới chuyển mộ ra vị trí hiện nay, thời ấy là nghĩa địa chung của cả vùng quê. Nấm mộ ngày đó thật đơn sơ, như trong thơ của Hoàng Trung Thông:


Thật kỳ lạ nơi Nguyễn Du nằm đó


Cũng cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia


Cũng nấm mộ sè sè ngọn cỏ


Trong trang Kiều tôi đọc dưới đèn khuya


      (Thăm mộ Nguyễn Du – Hoàng Trung Thông)


Với chủ đề này, bạn đọc thường nhắc tới bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du” của Vương Trọng vì bài thơ này là “cái hích đầu tiên” thúc đẩy việc tôn tạo ngôi mộ và khu tưởng niệm đại thi hào. Nhiều khổ thơ trong bài khắc họa sự hoang lạnh của ngôi mộ ngày ấy:


Không cành để gọi tiếng chim


Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời


Không vầng cỏ ấm tay người


Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu…


         (Bên mộ cụ Nguyễn Du – Vương Trọng)


   Nhiều người về viếng mộ đại thi hào ngoài việc dânghương, còn mang theo rượu để rưới xuống mồ vì họ hiểu rằng, sinh thời nhiều năm sống trong cảnh nghèo khó, lắm khi Cụ thiếu rượu uống, trong khi cụ có triết lý: “ Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi” (Sống mà uống chẳng bao nhiêu/ Chết rồi ai xách rượu theo rưới mồ). Khi kính cẩn rưới rượu xuống mồ Cụ, làm cái việc mà Cụ gọi “kiêu mộ thượng bôi” ấy, mỗi người có một cảm giác khác nhau, có người “Bỗng rùng mình như chạm mạch điện / Như chạm câu thơ thần” ( Vân Long – “Người còn quanh quất đâu đây”), nhưng cái chung là ai cũng thấy như được gần Cụ, gặp Cụ trong một khoảnh khắc nào đấy với nỗi buồn thương và thông cảm.


     Bến Giang Đình cũng là địa danh được nhiều nhà thơ khai thác khi viết về Nguyễn Du. Một lẽ dễ hiểu, bởi bao đời, Giang Đình là cửa ngõ phía Bắc của quê hương Tiên Điền, bởi thuở ấy sông Long Vĩ (tức đoạn sông Lam từ Bến Thủy đến Cửa Hội) chưa có cầu, bến Giang Đình là nơi duy nhất đưa và đón mọi cuộc hành trình từ Tiên Điền ra phía Bắc và ngược lại. Hơn nữa đối với Nguyễn Du, bến Giang Đình chứng kiến sự đổi thay thời thế. Năm 1771, vọng lọng, ngựa xe đưa thân phụ là Nguyễn Nghiễm cùng gia đình về quê qua đây, nhưng cũng ngay tại bến này, Nguyễn Du đã sống những ngày khốn khó giữa quê hương sau “mười năm gió bụi” ở Thái Bình. Những nhà thơ quan tâm đến thơ chữ Hán của Cụ, không mấy ai không biết đến bài thơ “Giang Đình hữu cảm” đầy buồn thương, tiếc nuối một thời:


Về hưu ngày ấy cha ta


Xe bồ, ngựa tứ đã qua bến này


Thuyền kích sóng tựa rồng quây


Lọng như hạc báo điềm hay giữa trời


Từ khi xiêm áo qua thời


Khói trên ngọn cỏ ngậm ngùi bờ sông


Trăm năm bao chuyện đau lòng


Tràng An ngày trước nay không còn gì!


 (Giang Đình Hữu cảm –Nguyễn Du)


     Đó là lý do tai sao trong tập thơ tuyển này lại có nhiều thơ về bến Giang Đình đến vậy!


   Nội dung thứ hai của tuyển tập là cảm nhận của các nhà thơ hai trăm năm nay về Truyện Kiều. Từ khi Truyện Kiều ra đời, dân ta không chỉ thưởng thức tuyệt tác này bằng cách ngâm nga, mà còn nghĩ ra nhiều “trò chơi văn hóa” khác như Đố Kiều, Bói Kiều. Lẩy Kiều, Tập Kiều, đặc biệt là Vịnh Kiều và sáng tác thơ lấy Truyện Kiều làm chủ đề. Phạm Quý Thích ( 1760 -1825), bạn của Nguyễn Du, với bài “Đề từ Đoạn trường tân thanh”, được coi là bài Vịnh Truyện Kiều vào loại sớm nhất. Một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, khá quen thuộc với bạn đọc vì thường được in vào phần đầu của nhiều bản Kiều Nôm cũng như Quốc ngữ. Gọi là Tổng vịnh Truyện Kiều, nhưng bài thơ cũng chỉ tập trung vào nàng Kiều với hai câu kết trở về thuyết “Tài mệnh tương đố”:


Cho hay những kẻ tài tình lắm


Trời bắt làm gương để thế gian.


      (Đề từ  Đoạn trường tân thanh- Phạm Quý Thích)


Các tác phẩm Vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh để lại ấn tượng mạnh cho bạn đọc qua nhiều thế hệ. Hai mươi bài thơ Nôm vịnh các chương hồi và các nhân vật của nhà thơ tài tử này được trao giải nhất trong cuộc thi Vịnh Kiều tổ chức năm 1905, do Lê Hoan, Tổng đốc tỉnh Hưng Yên chủ xướng, nhà thơ Nguyễn Khuyến chủ khảo…nhưng bạn đọc lại say mê nhất bài “Tựa Truyện Kiều” bằng chữ Hán của ông qua bản dịch Quốc ngữ của Đoàn Tư Thuật. Tấm lòng nhân ái, văn chương tài hoa được thể hiện trong từng câu, từng đoạn, như:


“Than ôi, một bước phong trần, mấy phen chìm nổi;trời tình mờ mịt, bể hận mênh mang. Sợi tơ mành theo gió bay đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch. Ai dư nước mắt khóc người đời xưa, thế mà giống đa tình luống những sầu chung, hạt lệ Tầm Dương chan chứa; lòng cảm cựu ai xui thương mướn, nghe câu ngọc thụ não nùng…”


    Các nhà thơ đời sau nói lòng cảm thông của mình khi nàng Kiều “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, mấy ai tìm được hình tượng  nào hay bằng “Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch”. Với thi ca, những đỉnh cao trong quá khứ vẫn sừng sững ở phía tương lai là vậy!


  Đề tài Vịnh Truyện Kiều mà Vịnh nàng Kiều là trung tâm thu hút sự quan tâm của của biết bao thế hệ nhà thơ, nhà nghiên cứu như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Tản Đà, Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh…cho đến các nhà thơ đương đại nổi tiếng của từng thời. Hầu hết các nhà thơ đều thông cảm và bênh vực nàng Kiều, chỉ có rất ít người phê phán nàng, Nguyễn Công Trứ là một ví dụ, nhưng lập luận của nhà thơ phóng túng này xem chừng thiếu logics và thuyết phục, nhất là hai câu “Lúc bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu / Mà bướm chán ong chường cho đến thế”! Các nhà Nho thường thâm nho, có khi trách Kiều chỉ là cái cớ để bộc lộ thái độ của mình trước một thực tại nào đó mà chúng ta không biết được.


Cùng với Thúy Kiều, các nhân vật khác từ chính diện đến phản diện đều được vịnh như Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh, Sở Khanh…trong đó nhân vật Thúy Vân được tiếp nhận nhiều cách đánh giá khác nhau: nhiều người thương,thương hết lời,ít người chê mà chê cũng nặng…Phạm vi các nhân vật được vịnh, được luận bàn theo thời gian mở rộng thêm ra, có tác giả trẻ tìm đến những nhân vật phụ bị người đời lãng quên như người khách viễn phương đa tình, vị thổ quan “chưng hửng” và hai người đày tớ nhà họ Hoạn bị đòn oan vì tội nói thật…với  “lập luận” của riêng mình:


“Thúy Kiều ngàn vạn lòng thương


Có thêm thương nữa cũng dường thế thôi


Lạy nàng, xin hãy cho tôi


Chạnh thương góc khuất nhiều người bỏ qua”


        ( Tôi thương – Trần Thu Ba)


   Khoảng cách thời gian từ bài thơ đầu tập đến bài cuối tập là hai trăm năm. Thứ tự các tác phẩm được xếp tương đối theo thế hệ nhà thơ, chứ không xếp theo vần a,b,c quen thuộc, mục đích để bạn đọc biết được “hành trình” tình cảm của các thế hệ nhà thơ đối với Truyện Kiều. Những bài trong tập thơ này phần lớn được lựa chọn từ các tuyển tập, sách, báo…đã được thời gian thử thách, chỉ trừ một ít bài mới sáng tác gần đây. Thể thơ cũng khá đa dạng, từ Đường luật, văn tế, văn điếu, song thất lục bát… của thế kỷ trước và thơ tự do, thơ lục bát, ngũ ngôn… của năm mươi năm gần đây, trong đó thể lục bát được các nhà thơ  đặc biệt lưu tâm.


   Cùng với việc hiệu đính và xuất bản Truyện Kiều, “Bâng khuâng nhớ Cụ thương thân nàng Kiều” là tuyển tập thơ do Hội Kiều học Việt nam tổ chức thực hiện để trình bạn đọc nhân díp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại thi hào dân tộc, Danh nhân Văn hóa Thế giới Nguyễn Du.  


9 - 2015                                          


  (còn tiếp)


Nguồn:  Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »