tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
29.05.2018
Vương Trọng
Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay (4)


THƯƠNG GIA VÀ CON BUÔN


    Cùng kinh doanh bằng cách mua bán hàng hóa, cụ thể là mua rẻ bán đắt để ăn giá chênh lệch, nhưng người Việt mình nói chung cũng như cụ Nguyễn Du nói riêng đã phân biệt hai loại người làm nghề đó. Một loại làm ăn đàng hoàng, thường là có vốn lớn, được gọi là thương gia, còn loại kia gian dối trong mua bán, có khi lừa đảo, thường làm ăn manh mún, chụp giật…được gọi là con buôn. Thương gia và con buôn cái chính không phải khác nhau về quy mô kinh doanh, mà là đạo đức kinh doanh. Nhân dân ta dành những từ tốt đẹp cho giới thương gia, và coi khinh phẩm giá của con buôn.


 Thương gia trong Truyện Kiều chỉ có hai nhân vật phụ, lướt qua rất nhanh, Nguyễn Du vẫn đủ thời gian thể hiện lòng trân trọng và có khi là nỗi cảm thông. Nhân vật thương gia thứ nhất không rõ tên gọi là gì, chỉ biết ngôi nhà của người ấy nằm sát ngôi nhà của Thúy Kiều, được Nguyễn Du giới thiệu:


Là nhà Ngô Việt thương gia


Buồng không để đó, người xa chưa về


   Cặp lục bát này ngoài việc thể hiện cơ hội cho Kim Trọng có thể thuê ở, làm nơi đọc sách, thì hình như bộc bạch cảm thông của Nguyễn Du với người thương gia mải buôn bán xa xôi, chưa trở lại nhà mình. Câu thơ đượm vẻ buồn thương. Bằng cách nào đó thương lượng đã xong, Kim Trọng “túi đàn cặp sách đề huề dọn sang” ngôi nhà vừa thuê đươc! “Túi đàn cặp sách” là “tài sản văn hóa” của chàng Kim, thì cảnh nhà thương gia này cũng rất tương xứng:


Có cây, có đá sẵn sàng


Có hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai


Tức là vị thương gia này đã tạo phong cảnh cho nhà mình bằng cây cảnh và hòn non bộ, lại có cả cái hiên ngồi để thưởng ngoạn cảnh đẹp, có biển đề “Lãm Thúy” màu vàng rõ nét. Chàng Kim tỏ ra thật hài lòng với nơi ở này đâu chỉ vì hai chữ Lãm Thúy nét vàng kia một phần trùng với tên Thúy Kiều là người đẹp chàng đang đeo đuổi, mà quan trọng là quang cảnh được tạo dựng ở đây.Miêu tả cảnh nhà vị “Ngô Việt thương gia” này khác xa cơ ngơi những kẻ nhiều tiền nhưng thiếu văn hóa, là một cách Nguyễn Du thể hiện cảm tình và lòng trân trọng của mình.


  Vị thương gia thứ hai trong Truyện Kiều đề cập tới là Thúc Ông, bố của Thúc Sinh. Ta biết được nghề nghiệp, gia cảnh của ông này qua lời giới thiệu về Thúc Sinh:


Khách du bỗng có một người


Kỳ Tâm, họ Thúc cũng nòi thư hương


Vốn người huyện Tích, châu Thường


Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Truy.


    Như thế, Thúc Ông, bố của Thúc Sinh là người làm nghề buôn bán, quê ở châu Thường, huyện Vô Tích, hiện mở ngôi hàng ở Lâm Tri. Bản thân Thúc Ông hoặc thế hệ trước ông được học hành tử tế, thì Thúc Sinh mới mang danh “nòi thư hương” được. Chắc chắn gia đình Thúc Ông giàu có, được mọi người nể trọng…thì Thúc Sinh mới được kết duyên cùng Hoạn Thư, con gái Thượng thư bộ Lại. Thời phong kiến, nhất là phong kiến Trung Quốc, “môn đăng hộ đối” được tuân thủ nghiêm ngặt, qua gia thế của Thượng thư bộ Lại “ngứơc trông tòa rộng, dãy dài/ Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên”, ta hiểu được gia cảnh của Thúc ông: giàu có, sang trọng.


   Thúc ông xuất hiện trong Truyện Kiều không nhiều, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Du, ta thấy ông có vẻ đàng hoàng của một vị quan hơn là người buôn bán:


Giậu thu vừa nẩy giò sương


Gối yên đã thấy xuân đường tới nơi


Đây là hình ảnh Thúc Ông sau thời gian về thăm quê trở lại Lâm Tri. Cảnh thì đẹp mà người thì ung dung, khoan thai. Đặc biệt là thái độ của Thúc Ông khi nghe Thúc Sinh cưới Thúy Kiều. Đó cũng là phản ứng của các nhà nho Truyền thống, không thể cho con trai lấy gái lầu xanh làm vợ, nên “phong lôi nổi trận tơi bời” với ý định “dạy cho má phấn trở về lầu xanh” là chuyện đúng đạo lý. Nhưng Thúc sinh cương quyết không chịu bỏ Thúy Kiều, Thúc Ông cư xử cũng hết sức đàng hoàng, không hề mắng chửi, mà “cáo quỳ cửa công” tức là đem kiện con trai ra tòa. Đây cũng là hành động của một người có văn hóa, hiểu pháp lý, không đem cái thế của bậc cha mẹ áp đặt cho con. Nhờ tài thơ đã cứu Thúy Kiều, vị quan “mặt sắt đen sì” đã bị khuất phục, đem tình thay lý khi tuyên bố “ Dâu con trong đạo gia đình/ Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong” thì “Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba” mà tuân thủ kết quả xử kiện không có lợi cho mình. Kết quả này một phần do tài năng của Thúy Kiều, nhưng một phần quan trọng là thái độ cầu thị của Thúc Ông, biết đổi thay thái độ theo tình thế mới.


Lòng tốt của Thúc Ông còn thể hiện trong một năm ông sống gần Thúy Kiều ở Lâm Tri khi Thúc Sinh về với Hoạn Thư ở Vô Tích. Rồi khi bọn Khuyển Ưng đốt nhà, bắt Thúy Kiều, lập hiện trường giả, tưởng Thúy Kiều bị chết cháy, Thúc Ông vô cùng thương xót, đã thu gom di hài về nhà cúng tế. Tóm lại, dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Thúc Ông là một thương gia đáng kính.


 Người buôn bán đàng hoàng, được gọi là thương gia chỉ có hai nhân vật rất phụ ấy. Hầu hết kẻ làm nghề buôn bán trong Truyện Kiều là bọn làm ăn bất chính, phi pháp, gian dối, lừa đảo, vô văn hóa được xếp vào loại con buôn. Nguyễn Du đã định nghĩa về con buôn như sau:


Khác màu kẻ quý người thanh


Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn


Như vậy, con buôn là loại người có phẩm chất thấp kém, khác hẳn những người có văn hóa.


    Ta hãy lần lượt điểm mặt, chỉ tên bon chúng.


    Đầu tiên là Mã Giám Sinh. Tay này bất hảo từ lý lịch. Y là một kẻ phong tình , trác táng. Địa bàn quen thuộc là chốn lầu xanh. Khi có tiền thì chơi cho nhẵn túi, rồi lại hành nghề ngay mảnh đất đó, giống như thời nay một số tay anh chị thường tuyên bố “ngã xuống nơi nào thì đứng lên từ nơi đó”! Nghề của y là buôn người, “đem về tiếp khách kiếm lời mà ăn” như Tú Bà đã đúc kết. Y có đầy đủ thuộc tính bất hảo của con buôn, từ vô văn hóa trong ứng xử, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” khi y đến để mua Kiều. Mặc cả là chuyện thường thình của việc mua bán, nhưng “cò kè bớt một thêm hai” thì chỉ việc làm của con buôn. Một trong những đặc trưng của bọn buôn là gian dối. Gian dối trong hành động và lới nói. Trước hết y che giấu chuyện đi mua Thúy Kiều bằng việc đóng vai một phú ông “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” đi tìm vợ thiếp. Sự thật mua Kiều về để tiếp khách ở Lâm Tri, nhưng y nói đưa về quê y ở Lâm Thanh, với mục đích gây khó khăn nếu sau này gia đình tìm kiếm nàng.Gian dối trong lời nói, gian dối trong tính toán. Ta hãy xét xem cách suy nghĩ, tính toán của y trong nhà trọ với Thúy Kiều, trước khi khởi hành về Lâm Tri. Máu con buôn trước hết xem lời lãi ra sao của món hàng mình vừa mua được:


Về đây nước trước bẻ hoa


Vương tôn quý khách ắt là đua nhau


Hẳn ba trăm lạng kém đâu


Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời.


    Sao lại ba trăm lạng đã vừa vốn, khi giá mua Thúy Kiều là “giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm”? Chắc Mã Giám Sinh không nhầm mà tác giả Truyện Kiều đã nhầm lẫn giữa giá bán nàng Kiều với cái giá mà gia đình Vương ông phải nạp cho bọn sai nha “ Tính bài lót đó, luồn đây/ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Cảm hứng đầu tiên đến với Mã là tiền lãi do món hàng hời là Thúy Kiều đem về. Cảm hứng thứ hai trỗi dậy xuất phát từ hắn là “một đứa phong tình”, muốn chiếm đoạt nàng Kiều. Nàng Kiều trước khi bán mình thì cân nhắc “ bên tình bên hiếu”, còn gã Mã trước khi hành động thì phân vân giữa “vốn nhà” và “của trời”: “Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng ham”!. Nếu gã hành động, chiếm được “của trời” này thì ảnh hưởng đến “vốn nhà”, tức món hàng bị mất giá. Nhưng sau đó mọi lập luận của gã đều khuyến khích gã hành động. Thứ nhất, cái đáng lo nhất là nàng Kiều mất trinh, thì giải quyết được để lừa khách làng chơi theo thủ pháp “nước vỏ lựu, máu mào gà” để hoàn trinh, lúc đó giá giá món hàng vẫn như cũ “Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi”. Thứ hai, Mã Giám Sinh biết biện pháp đó có thể không lừa được Tú Bà, khi đó nếu mụ trị tội thì cùng lắm chịu hèn “Liều công mất một buổi quỳ mà thôi”! Lập luận thứ ba của Mã mới thật lưu manh và đê tiện:


“Vả đây đường sá xa xôi


Mà ta bất động nữa người sinh nghi”.


    Có người giải thích như sau: Chữ người trong câu này chỉ Thúy Kiều, Mã nghĩ nếu mình không làm tình thì Thúy Kiều sẽ nghi (chắc là nghi không phải mua về làm vợ thiếp). Tôi không nghĩ như thế, vì cái nghi đó nếu có của Thúy Kiều thì lúc này, khi đã bắt đầu lên đường về Lâm Tri thì Mã không có gì đáng ngại nữa. Theo tôi, chữ “người” trong câu này chỉ Tú Bà. Ý của Mã là: Vì đường sá xa xôi, một tháng ròng chung xe với Thúy Kiều, điều kiện hết sức thuận lợi để chung chạ, nếu như mình không làm gì thì Tú Bà vẫn nghi mình làm, thế thì chẳng dại gì mà mình không làm! Lập luận tiểu nhân, con buốn đã đưa Mã đến hành động, một kiểu làm tình đầy thú tính: “ Một cơn mưa gió nặng nề/ Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương”!


  Con buôn thứ hai là mụ Tú Bà, chung lưng mở ngôi nhà chứa cùng Mã Giám Sinh ở Lâm Tri. Mụ này cũng mang lý lịch bất hảo : “ Làng chơi đã trở về già hết duyên”, nghĩa là thời trẻ thì mụ làm gái lầu xanh, về già thì làm chủ chứa. Nguyễn Du khắc họa mụ con buôn này từ hình thức đến đến hành động thật đáng ghét:


Thoắt trông nhờn nhợt màu da


Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao


Trước xe lơi lả han chào…


   Da cớm nắng, béo phệ, to lớn khác thường thế không biết mụ “ăn gì”.? Và chính hai chữ “ăn gì” ấy đã nói được thái độ của tác giả Truyện Kiều đối với mụ chủ chứa này. Mụ thao tác các công việc điều hành lầu xanh này khá thành thạo, từ bài học nhập môn cho “món hàng” mới đưa về, đến việc xử lý bị ế khách. Gian dối là thuộc tính của con buôn, Tú Bà không thiếu. Khi Tú Bà sắp hành hung vì tội đã chung chạ với Mã Giám Sinh, Thúy Kiều toan tự tử bằng cách dùng dao cắt cổ, thì điều sợ nhất của Tú Bà là mất vốn. Với thái độ dỗ dành, mụ đã thuyết phục được Thúy Kiều từ lời nói dối:


Lỡ chân trót đã vào đây


Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non


Người còn thì của hãy còn


Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà…


Mụ sẵn sàng thề thốt gian dối, dù trong thâm tâm mụ không mảy may nghĩ tới nội dung của lời thề đó:


Mai sau dẫu chẳng như lời


Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.


  Mụ chủ chứa nói với cô gái được mua về để tiếp khách rằng cứ ở đây chờ đợi xem có chỗ nào xứng đáng thì sẽ chọn gả chồng! Lời nói dối trơ trẽn này chắc đã lừa được nhiều cô gái nhà lành rồi, nay mụ lại thành công với Thúy Kiều. Một đặc tính con buôn của mụ Tú Bà là lắm âm mưu và nhiều tráo trở. Hình như tình huống nào mụ cũng có phương án dự phòng để giải quyết và thái độ của mụ nhanh chóng biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác trái ngược ngay trong nháy mắt. Bản thân Thúy Kiều cũng nhận ra đặc tính con buôn của Tú Bà là luôn lo sợ mất vốn, chứ không phải có lòng nhân ái biết yêu thương người khác. Bởi vậy, sau khi bỏ trốn theo Sở Khanh bị Tú Bà bắt được đánh cho một trận tơi bời, Thúy Kiều chỉ cần nói một câu là Tú Bà không dám đánh nữa. Câu đó là:


Nhưng tôi có sá chi tôi


Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?


  Nói nôm na ra rằng tôi chả là gì đâu, tôi chả mong chờ gì tình thương của bà đâu, nhưng bà cẩn thận đấy, nếu đánh tôi chết là bà mất vốn! Chữ “vốn” đã thức tỉnh mụ dừng tay hành hạ, dẹp cơn thịnh nộ mà nhớ lại ý định chỉ “cho một bài học” để Kiều biết phận sự của cô gái lầu xanh mà thôi!


   Con buôn thứ ba được Truyện Kiều đề cập là Bạc Bà, Bạc Hạnh. Đây là loại con buôn không có cửa hàng, mà chỉ là một loại “cộng tác viên” cung cấp gái điếm cho nhà chứa. Bề ngoài Bạc Hạnh là một Phật tử, từng đến Chiêu Ẩn Am của Giác Duyên và Quan Âm Các của gia đình Hoạn Thư nhiều lần. Thế nhưng việc làm của Bạc Hà hoàn toàn ngược lại điều răn dạy của Phật, không hề có ý giúp người trong cảnh hoạn nạn, mà lợi dụng tình thế khó khăn của Thúy Kiều để kiếm tiền. Mụ làm bài bản từng bước, từ vu oan cho Kiều nhiều tội, để bảo rằng không ai còn dám chứa chấp, chỉ có cách tìm người để gả chồng cho nàng. Dù Thúy Kiều đã cảnh giác, nhưng do hoàn cảnh đưa đẩy, theo sự sắp đặt, nàng phải lấy Bạc Hạnh, cháu Bạc Hà, và được mụ giới thiệu như sau:


Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà


Cùng trong thân thích ruột rà chẳng ai


Cửa nhà buôn bán Châu Thai


Thật thà có một đơn sai chẳng hề.


Người đàn bà đội lốt Phật tử Bạc Bà, đích thị con buôn, đã nói dối hết sức trơ tráo, làm cho người nghe tưởng Bạc Hạnh cháu mụ là “người chồng lý tưởng”, nhưng thực chất nó là thằng dắt gái chuyện nghiệp cho nhà chứa Châu Thai! Thằng này vô liêm sỉ không kém khi trong lễ thành hôn giả vờ với Thúy Kiều, nó ra vẻ chân thành “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”, thực ra là chuẩn bị đưa Kiều đi bán. Không phải chỉ đối với Thúy Kiều, mà trước đây chính hắn đã dẫn bán nhiều cô gái cho nhà chứa:


Thuyền vừa đỗ bến thành thơi


Bạc Sinh lên trước tìm nơi mọi ngày


Ba chữ “nơi mọi ngày” nói đầy đủ rằng công việc này, địa bàn này quá quen thuộc đối với hắn, nên chỉ cần thỏa thuận giá cả là xong:


Xem người định giá vừa rồi


Mối hàng một đã ra mười thì buông.


   Phải chăng trong phi vụ “một vốn mười lời” này, tiền vốn mua Kiều, Bạc Hạnh bỏ ra thì đưa cho Bạc Hà, vì Giác Duyên không hề dính dáng? Một điều chắc chắn rằng, chỉ vì những đồng tiền bẩn thỉu mà bọn con buôn Bạc Bà, Bạc Hạnh đã đưa nàng Kiều trở lại vũng lầy lầu xanh!


    Con buôn thứ năm trong Truyện Kiều là mụ chủ chứa ở lầu xanh Châu Thai. Nguyễn Du không cần nhắc tên mụ, mà chỉ gợi bằng bốn câu:


Kiệu hoa đặt trước thềm hoa


Bên trong thấy một mụ ra vội vàng


Đưa nàng vào lạy gia đường


Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh…


Bạn đọc sẽ tự hình dung ra hình dáng cũng như đức tính con buôn của mụ chủ chứa này từ Tú Bà ở Lâm Tri. Và có điều đáng nói, có lẽ mụ ta đã “trúng quả đậm”,  khi được Từ Hải mua lại nàng Kiều:


Ngỏ lời nói với băng nhân


Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn


   Lợi nhuận mụ chủ chứa này thu được chắc hơn hẳn món Tú Bà đã hưởng lợi, vì “tiền trăm nguyên ngân” của Từ Hải chắc vượt xa số tiền chàng Thúc mê gái  “quen thói bốc rời”!


    Những con buôn ta vừa điểm tới là những kẻ buôn người. Trong Truyện Kiều có một con buôn (trong Kim Vân Kiều Truyện thì hai) không buôn người mà buôn…tơ. Con buôn này được Nguyễn Du gọi là “thằng bán tơ”. Ở thằng này, Truyện Kiều khai thác tính cách gian dối của con buôn là có thể bịa đặt đổ tội cho người khác, để hòng làm nhẹ tội cho mình. Và tác hại của điều đó thì tất cả chúng ta đã tỏ: gây nên cảnh gia biến của Vương Ông, khiến Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha!


    Buôn bán là một khâu hết sức quan trọng trong dịch vụ phân phối sản phẩm, có có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống cộng đồng.  Dân ta từ xưa đên nay luôn coi trọng việc kinh doanh này, thể hiện trong câu thành ngữ “Phi thương bất phú”. Theo tôi, câu này có hai ý. Thứ nhất người không kinh doanh, buôn bán thì khó giàu. Thứ hai, một đất nước, một nền kinh tế mà kinh doanh, buon bán không phát triển thì khó mà giàu có được. Buôn bán quan trọng là vậy, nhưng nhân dân, đất nước cần những người buôn bán đàng hoàng, và không chấp nhận bọn lừa đảo, buôn gian bán lậu, thiếu hẳn văn hóa kinh doanh. Đọc lại Truyện Kiều thấy rằng cụ Nguyễn Du còn muốn nhắn lời với những người làm nghề này không chỉ trong thời đại của Cụ: Muốn được xã hội nể trọng thì buôn bán phải đàng hoàng xứng với hai chữ THƯƠNG GIA, còn nếu vì đồng tiền bẩn thỉu che mất tầm nhìn, lừa đảo, buôn gian bán lận…thì muôn đời mang theo lời chê trách, phỉ nhổ cùng hai chữ CON BUÔN!


 


                                                                                                           8-2017                                                                                                  


                         TIỂU ĐỐI TRONG TRUYỆN KIỀU


    Đối xứng, cân đối là hiện tượng khá phổ biến trong tiếng Việt có tự ngàn xưa. Phần lớn những câu thành ngữ, tục ngữ để đúc kết kinh nghiệm sống thường rất ngắn gọn và đối xứng nhau gồm các cặp đôi, cặp ba, cặp bốn…Đó là Ăn vóc/ học hay; Ăn xem nồi, ngồi xem hướng; Đi một ngày đàng / Học một sàng khôn…Trong các thể loại văn học, nghệ thuật thì Câu đối thể hiện cao nhất sự cân xứng này, đó là một cặp hai câu không chỉ có số chữ bằng nhau, mà các chữ đối nhau phải cùng từ loại, thường là ngược thanh. Trong thể thơ Đường luật, hai cặp câu Thực và Luận cũng đối nhau như hai vế của của một cặp câu đối. Tính biền ngẫu trong các thể loại phú, văn tế, hịch…cũng thể hiện sự đối xứng của ngôn ngữ, dù mức độ không khắt khe như câu đối. Nghĩa là tâm lý người Việt, trong đời sống hàng ngày cũng như trong văn học, sự cân xứng của ngôn ngữ là một yêu cầu không nhỏ.


  Đối với các nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán, sự đối xứng này tất yếu phải thực thi trong các thể loại văn học kể trên. Khi chuyển sang sáng tác thơ Nôm, nhu cầu sự cân đối về ngôn ngữ vẫn thường trực trong lòng họ và tiếp tục thực thi khi sáng tác Câu đối,thơ Đường luật, Văn tế, Phú…Khi sáng tác thơ lục bát, họ cũng muốn có sự cân xứng đó, nhưng gặp một trở ngại lớn là số chữ trong các câu thơ lục bát không bằng nhau, điều tối thiểu để làm nên sự cân xứng không có được. Nghĩa là không thể thiết lập sự cân xứng giữa câu với câu, thế thì họ tìm sự cân xứng trong nội bộ từng câu và được gọi là Tiểu đối.


  Trong các tác phẩm thơ lục bát từ xưa đến nay, tin chắc rằng Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du là tác phẩm sử dung tiểu đối nhiều nhất, đó là một trong những lý do làm cho ngôn ngữ Truyện Kiều gẫn gũi với mọi người.Trong thơ lục bát chỉ có ba loại tiểu đối: Tiểu đối nhóm hai, Tiểu đối nhóm ba và Tiêu đối nhóm bốn.


 


THỐNG KÊ TIỂU ĐỐI NHÓM ĐÔI


 











-  Chữ tài / chữ mệnh


-  Bỉ sắc/ tư phong


-  Hoa cười / ngọc thốt


-  Nghiêng nước / nghiêng thành


-  Trướng rủ/ màn che


-  Tài tử/ giai nhân


-  Trâm gãy / bình rơi 


-  Nếp tử/ xe châu


-  Thỏ lặn/ ác tà


-  Tiếc lục/ tham hồng


-  Kẻ đoái / người hoài 


-  Cỏ áy/ bóng tà


-  Đổ lộc/ rung cây


-  Nửa ở/ nửa về 


-  Cơn tỉnh / cơn mê


-  Hoa trôi / bèo dạt 


-  Nhớ cảnh / nhớ người 


-  Nhớ ít / tưởng nhiều 


-  Kín cổng/ cao tường 


-  Cửa đóng / then cài 


-  Túi đàn/ cặp sách 


-  Động khóa / nguồn phong


-  Buông cầm/ xốc áo 


-  Người ấy / báu này 


-  Thầm trông/ trộm nhớ


-  Lá thắm/ chỉ hồng 


-  Xót liễu / vì hoa


-  Rày gió/ mai mưa


-  Lá rụng/ hoa rơi 


-  Tuyết trở/ sương che


-  Ngày gió/ đêm trăng


-  Thưa hồng/ rậm lục 


-   Đắp nhớ / đổi sầu 


-  Gió bắt / mưa cầm


-  Gió táp/ mưa sa


-  Nhả ngọc / phun châu 


-  Đỉnh giáp / non thần


-  Hồng diệp/ xích thằng 


-  Nguyệt nọ/ hoa kia


-  Dây vũ/ dây văn


-  Ngậm đắng/ nuốt cay


-  Trên bộc/ trong dâu


- Chắp cánh / liền cành


-  Liễu ép / hoa nài 


-  Gìn vàng / giữ ngọc 


-  Tháng đợi / năm chờ


-  Ăn gió/ nằm mưa


-  Một bước / một xa


-  Buộc yên/ quẩy gánh 


-  Cữ gió/ tuần mưa


-  Khói ngất / song thưa


-  Hoảng hốt / ngẩn ngơ


-  Thệ hải/ sơn minh


-  Hiếu trọng/ tình thâm


-  Lót đó/ luồn đây 


-  Vạ gió/ tai bay


-  Tử biệt / sinh ly


-  Trước thầy / sau tớ


-  Rợn gió/ e sương 


-  Vén tóc / bắt tay


-  Cân sắc/ cân tài 


-  Một vẻ/ một ưa


-  Bớt một / thêm hai


-  Máu sa/ ruột dàu


-  Kẻ giữ/ người coi


-  Giọt ngắn/ giọt dài 


-  Đổi trắng / thay đen


-  Thịt nát / xương mòn


-  Nên vợ/ nên chồng


-  Cách mặt / khuất lời 


-  Trâm gãy/ gương tan


-  Hồn dứt / máu say


-  Kẻ thang/ người thuốc 


-  Rụng cải/ rời kim


-  Bèo nổi / mây chìm


-  Kẻ ở/ người đi


-  Thẹn lục / e hồng


-  Nắng giữ/ mưa gìn


-  Quốc sắc / thiên hương


-  Giận duyên / tủi phận 


-  Nước đục/ bụi trong


-  Kẻ quý/ người thanh


-  Góc bể/ bên trời 


-  Gió giục / mây vần


-  Gạt lệ/ phân tay


-  Ngất tạnh / mù khơi 


-  Từng biếc/ xen hồng


-  Lạ nước / lạ non


-  Cởi xiêm/ lột áo


-  Thay bậc / đổi ngôi 


-  Nát ngọc / lìa hoa


-  Lỡ một / lầm hai


-  Mây sớm/ đèn khuya


-  Quạt nồng/ đắp lạnh


-  Chân mây / mặt đất 


-  Sắc nước / hương trời 


-  Trên nguyệt / trong mây 


-  Tháo cũi/ sổ lồng


-  Kết cỏ/ ngậm vành


-  Gió kép/ mưa đơn


-  Nhắm mắt / đưa châm


-  Khắc lậu/ canh tàn


-  Giày tía/ vò hồng


-  Chẳng hỏi / chẳng tra


-  Vùi liễu / dập hoa 


-   Hồng rụng/ thắm rời 


-  Lìa cửa/ lìa nhà 


-  Một cốt/ một đồng


-  Trò này / chuyện kia


-  Quyến gió / rủ mây 


-  Quyến anh/ rủ yến


-  Trong giá/ trắng ngần


-  Nguyệt sáng / gương trong


-  Liễu chán / hoa chê


-  Cửa các / buồng khuê


-  Mặt dạn/ mày dày


-  Gió lá/ cành chim


-  Phong gấm/ rủ là


-  Dày gió / dạn sương 


-  Bướm chán/ ong chường


-  Mưa sở/ mây tần


-  Gió tựa/ hoa kề


-  Nét vẽ/ câu thơ 


-  Gió trúc / mưa mai


-  Sớm đào / tối mận


-  Một tỉnh / mười mê


-  Đổ quán/ xiêu đình


-  Tô lục / chuốc hồng


-  Trong ngọc / trắng ngà


-  Liễu ngõ/ hoa tường 


-  Chỉ non/ thề biển


-  Đêm ngắn/ tình dài


-  Của dẫn/ tay trao


-  Hoa thải/ hương thừa


-  Trăng tủi/ hoa sầu 


-  Tài này / sắc ấy 


-  Rước dữ/ cưu hờn


-  Rượu sớm/ cờ trưa


-  Dài thở/ ngắn than


-  Giấu ngược / giấu xuôi


-  Chiếc bóng/ năm canh


-  Muôn dặm/ một mình 


-  Kết tóc/ se tơ


-  Cách mặt / khuất lời 


-  Xuống lệnh / ra uy


-  Cười phấn/ cợt son


-  Ngứa ghẻ/ hờn ghen


-  Dọn thuyền/ lựa mặt 


-  Buồm gió/ lèo mây 


-  Phách lạc/ hồn bay


-  Chốn cũ/ lầu thơ 


-  Nước trôi/ hoa rụng


-  Buồm cao/ lèo thẳng


-  Tòa rộng/ dãy dài


-  Ngọn hỏi / ngành tra


-  Mèo mả/ gà đồng


-  Tóc rối / da chì


-  Tai vách/ mạch rừng


-  Con ong/ cái kiến


-  Túc trái / tiền oan


-  Khăn mặt / lược đầu 


-  Nỉ non/ thánh thót 


-  Tháng lụn/ ngày qua


-  Phấn thừa/ hương cũ


-  Nắng quáng/ đèn lòa


-  Con ở/ chúa nhà


-  Đất thấp / trời cao


-  Phách lạc/ hồn xiêu


-  Chén tạc/ chén thù


-  Bắt khoang/ bắt nhặt 


-  Như dại/ như ngây


-  Chợt nói / chợt cười 


-  Nát ruột/ tan hồn


-  Tán hoán/ tê mê 


-  Như khóc/ như than


-  Thảm thiết / bồi hồi 


-  Gượng nói / gượng cười 


-  Rẽ thúy/ chia uyên


-  Một vực/ một trời 


-  Bể sâu/ sóng cả


-  Tam quy/ ngũ giới 


-  Thảm lấp/ sầu vùi


-  Then nhặt/ lướt mau


-  Gác kinh/ viện sách


-  Ngậm thở/ ngùi than


-  Trên các/ dưới xuềnh


-  Đá nát / vàng phai


-  Chiếc bách/ sóng đào


-  Cao chạy  / xa bay


-  Kẻ ngược / người xuôi


-  Sông cạn/ đá mòn


-  Nhịn ngừng/ nuốt tủi 


-  Kẽ tóc/ chân tơ


-  Chau mày/ nghiến răng


-  Miệng hùm / nọc rắn


-  Dặm cát/ đồi cây 


-  Chuông vàng/ khánh bạc


-  Lá bối/ phướng mây 


-  Gió quang/ mây tạnh


-  Tính gần/ tính xa


-  Mặn phấn/ tươi son


-  Dữ gần/ lành xa


-  Bể rộng/ sông dài


-  Mặt ủ/ mày chau


-  Túng đất / sẩy chân


-  Bán hùm/ buôn quỷ


-  Vượt bể/ ra khơi


- Quét sân / đặt trác


- Rửa bình / thắp nhang


-  Gió mát / trăng thanh


-  Hàm én/ mày ngài


-  Đội trời / đạp đất 


-  Chọn đá/ thử vàng


-  Vào trước / ra sau


-  Cỏ nội / hoa hèn


-  Thanh gươm/ yên ngựa


-  Bốn bể / không nhà


-  Huyên cỗi/ xuân già


-  Đường kia/ nỗi nọ


-  Dùng dắng/ ngẩn ngơ 


-  Cung nga/ thể nữ


-  Phượng liên/ loan nghi


-  Dựng cờ/ nổi trống


-  Thưởng tướng/ khao binh


-  Nghiêm quân/ chọn tướng


-  Gươm lớn/ giáo dài 


-  Kẻ cắp/ bà già 


-  Dắt tay/ mở mặt 


-  Lỡ bước / sẩy vời 


-  Hồn lạc/ phách siêu 


-  Máu rơi / thịt nát 


-  Thiên tải / nhất thì 


-  Bèo hợp/ mây tan


-  Hạc nội / mây ngàn


-  Khắc xương/ chép dạ


-  Kẻ Việt/ người Tần


-  Muôn dặm/ một nhà 


-  Muôn binh/ nghìn tướng


-  Trúc chẻ/ ngói tan


-  Gió quét/ mưa sa


-  Giá áo / túi cơm


-  Đẩy xe/ vâng chỉ 


-  Ngọc vàng/ gấm vóc 


-  Bể Sở/ sông Ngô


-  Vào luồn/ ra cúi 


-  Chọc trời / khuấy nước 


-  Lễ nhiều / nói ngọt 


-  Mặt nước / cánh bèo


-  Bàn ra/ nói vào 


-  Chức trọng / quyền cao


-  Chỉnh nghi/ tiếp sứ


-  Truy sát / đuổi dài 


-  Kẻ lại / người qua


-  Phu quý/ phụ vinh


-  Công ít/ tội nhiều 


-  Gió tủi / mưa sầu


-  Ve ngâm/ vượn hót


-  Ủ liễu / phai đào


-  Chân trời / mặt bể


-  Trời cao/ bể rộng


-  Âm cực/ dương hồi 


-  Treo bầu / Quẩy níp


-  Giáo dựng/ gươm trần


-  Sống đọa/ thác đày


-  Cân lại/ nhắc đi


-  Đánh tranh/chụm nóc


- Đóng thuyền / chực bến


-  Kết chài / giăng sông


-  Phách quê/ hồn mai


-  Phận mỏng/ đức dày 


-  Cỏ mọc/ lau thưa


-  Én liệng/ lầu không


-  May thuê/ viết mướn


-  Nhà tranh/ vách đất 


-  Vẫy gió/ tuôn mưa


-  Trai tài / gái sắc


-  Ngọn bèo/ chân sóng


-  Mây trôi / bèo nổi 


-  Hoa trôi/ nước chảy 


-  Trời thẳm/ vực sâu 


-  Bóng chim/ tăm cá


-  Gieo ngọc / trầm châu


-  Ngơ ngác/ rụng rời 


-  Phật tiền/ ngày bạc


-  Nở mặt / nở mày 


-  Hoa rụng/ hương bay


-  Bẻ lau/ vạch cỏ


-  Trông mặt/ cầm tay


-  Dãi nguyệt / dầu hoa


-  Hỏi trước / han sau


-  Cầu phật / cầu tiên


-  Giã sư/giã cảnh


-  Bình địa/ ba đào


-  Phận cải / duyên kim


-  Máu chảy / ruột mềm 


-  Rày ước / mai ao


-  Vật đổi / sao dời 


-  Ong qua/ bướm lại 


-  Gió táp/ mưa sa


-  Kết tóc / se tơ


-  Sen ngó/ đào tơ


-  Đêm chầy/ trăng cao


-  Hoa xưa/ ong cũ


-  Mặt dạn/ mày dày


-  Sửa áo /cài trâm


-  Gạn đục/ khơi trong


-  Đóng cửa/ cài then


-  Mây bay / hạc lánh


Tổng 308 tiểu đối nhóm hai.

















Trần Thu Ba's profile photo



Trần Thu Ba



tranthuba.tntb@gmail.com







Show details



TIỂU ĐỐI NHÓM  BA


-  Mai cốt cách / tuyết tinh thần 


-  Làn thu thủy / nét xuân sơn


-  Người quốc sắc / kẻ thiên tài 


-  Sương in mặt / tuyết pha chân


-  Tuần trăng khuyết/ đĩa dầu hao


-   Khi tựa gối / khi cúi đầu 


-   Người nách thước / kẻ tay đao


-  Đồ tế nhuyễn / của riêng tây


-  Duyên hội ngộ / đức cù lao


-  Ôi Kim Lang/ hỡi Kim Lang


-  Nước vỏ lựu / máu mào gà 


-  Tin nhận vẩn/ lá thư bài 


-  Khi khóe hạnh/ khi nét ngài


-  Khi tỉnh rượu / lúc tàn canh


-  Khi gió gác/ khi trăng sân


-  Khi hương sớm/ khi trà trưa


-  Hương càng đượm / lửa càng nồng 


-  Thương vì hạnh / trọng vì tài 


-  Người lên ngựa / kẻ chia bào


-  Lời tan hợp / nỗi hàn huyên 


-  Thương càng nghĩ / nghĩ càng đau


-  Trên tam đảo / dưới cửu tuyền


-  Khi chè chén/ khi thuốc thang 


-  Ăn làm sao/ nói làm sao      (Đặc biệt)


-  Nhẹ như bấc/ nặng như chì


-  Có cổ thụ/ có sơn hồ


-  Ấy mới gan/ ấy mới tài 


-  Trai anh hùng / gái thuyền quyên


-  Người quen thuộc / kẻ chung quanh 


-  Kéo cờ lũy/ phát súng thành 


-  Khi Vô Tích / khi Lâm Tri


-  Mụ quản gia/ vãi Giác Duyên 


-  Gấm trăm cuốn / bạc nghìn cân


-  Trên vì nước / dưới vì nhà 


-  Trơ như đá/ vững như đồng 


-  Ma đưa lối / quỷ đưa đường 


-  Hết nạn nọ/ đến nạn kia


-  Lấy tình thâm/ trả nghĩa thâm


-  Hại một người / cứu muôn người 


-  Đau đòi đoạn / ngất đòi thôi 


-  Chưa chăn gối / cũng vợ chồng 


-  Bao nhiêu của / mấy ngày đàng


-  Người yểu điệu / kẻ văn chương 


-  Khi ăn ở/ lúc ra vào 


-  Đốt lò hương/ giở phím đồng (Đặc biệt)


-  Thoắt buôn về / thoắt bán đi


-  Tình duyên ấy / hợp tan này 


-  Thêm nến giá/ nối hương bình


-  Khi chén rượu / khi cuộc cờ


-  Bắt phong trần/ phải phong trần


 






















Tổng có 50 tiểu đối nhóm ba.


















TIỂU ĐỐI NHÓM BỐN


- Trời xanh quen thói / má hồng đánh ghen


-  Bốn phương phẳng lặng / hai kinh vững vàng 


-  Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười 


-   Khuôn trăng đầy đặn / nét ngài nở nang


-  Mây thua nước tóc / tuyết nhường màu da


-  Hoa ghen thua thắm/ liễu hờn kém xanh


-  Sắc thì đòi một / tài đành họa hai


-  Pha nghề thi họa/ đủ mùi ca ngâm


-  Lễ là tảo mộ / hội là đạp thanh


-  Ngựa xe như nước / Áo quần như nêm


-  Thoi vàng vó rắc/ Tro tiền giấy bay


-  Ngày xanh mòn mỏi / má hồng phôi pha


-  Sầu tuôn đứt nối / châu sa vắn dài 


-  Thác là thể phách / còn là tinh anh


-  Lỏng buông tay khấu/ bước lần dặm băng


-  Văn chương nết đất / thông minh tính trời 


-  Vào trong phong nhã/ ra ngoài hào hoa 


-  Tình trong như đã/ mặt ngoài còn e


-  Rốn ngồi chẳng tiện/ dứt về chỉnh khôn


-  Khách đà lên ngựa/ người còn ghé theo


-  Vàng gieo ngấn nước / cây lần bóng sân


-  Có chiều phong vận/ có chiều thanh tân


-  Bài ra thế ấy / vịnh vào thế kia


-  Chưa xong điều nghĩ/ đã dào mạch tương


-  Mặt mơ tưởng mặt / lòng ngao ngán lòng


-  Trúc se ngọn cỏ / tơ chùng phím loan


-  Hương gây mùi nhớ / trà khan giọng tình


-  Cạn dòng lá thẳm/ dứt đường chim xanh


-  Buồng không để đó/ người xa chưa về 


-  Hương còn thơm nức/ người đà vắng tanh


-  Xuyến vàng đôi chiếc/ khăn là một vuông


-  Kẻ nhìn rõ mặt / người e cúi đầu 


-  Thói nhà băng tuyết / chất hằng phỉ phong


-  Chàng về viện sách/ nàng rời lầu trang


-  Tình càng thấm thía / lòng càng ngẩn ngơ 


-  Bên trông đầu nọ/ bên chờ cuối kia


-  Bên lời vạn phúc/ bên lời hàn huyên 


-  Chẳng sân bội ngọc / cũng phường kim môn


-  Lòng xuân phơi phới / chén xuân tàng tàng 


-  Dở chiều như tỉnh / dở chiều như mê


-  Đài sen nối sáp/ song đào thêm hương 


-  Dải hà hương lộn/ bình gương bóng lồng


-  Một rằng lưu thủy / hai rằng hành vân 


-  Nửa phần luyến chúa/ nửa phần tư gia


-  Khi vò chín khúc/ khi chau đôi mày 


-  Cho duyên đằm thắm / ra duyên bẽ bàng 


-  Nỗi nhà tang tóc/ nỗi mình xa xôi 


-  Dám xa xôi mặt / mà thưa thớt lòng 


-  Chưa vui sum họp / đã sầu chia phôi 


-  Dẫu thay mái tóc / dám dời lòng tơ


-  Mối sầu sẻ nửa/ bước đường chia hai


-  Đầu cành quyên nhặt / cuối trời nhạn thưa


-  Hoa trôi dạt thắm/ liễu xơ xác vàng


-  Rụng rời giọt liễu / tan tành cội mai


-  Tiếng oan dậy đất / án ngờ lòa mây 


-  Điếc tai lân tuất/ phũ tay tồi tàn 


-  Cùng trong nha dịch / lại là từ tâm 


-  Liệu đem tấc cỏ/ quyết đền ba xuân 


-  Mày râu nhẵn nhụi / áo quần bảnh bao 


-  Thềm hoa một bước / lệ hoa mấy hàng 


-  Ngừng hoa bóng thẹn/ trông gương mắt dày 


-  Nét buồn như cúc/ điệu gầy như mai


-  Ép cung cầm nguyệt / thử bài quạt thơ


-  Trao tơ phải lứa/ gieo cầm đáng nơi 


-  Nay ai vu thác/ cho người hợp tan


-  Nỡ đày đọa trẻ/ càng oan khốc già


-  Thôi thì mặt khuất / chẳng thà lòng đau


-  Hoa dù rã cánh/ lá còn xanh cây


-  Tan nhà là một / thiệt mình là hai


-  Tờ hoa đã ký / cân vàng mới trao


-  Lễ tâm đã đặt / tụng kỳ cũng xong


-  Áo dầm giọt lệ / tóc se mái đầu 


-  Vì ta khăng khít / cho người dở dang 


-  Làm thân trâu ngựa / đền nghì trúc mai


-  Dầu chong trắng đĩa/ lệ tràn thấm khăn


-  Khi ngày quạt ước / khi đêm chén thề


-  Xót tình máu mủ / thay lời nước non


-  Đốt lò hương ấy / so tơ phím này 


-  Nát thân bồ liễu / đền nghì trúc mai


-  Một hơi lạnh ngắt / đôi tay lạnh đồng


-  Mới dàu cơn vựng/ chưa phai giọt hồng


-  Dẫu mòn bia đá/ dám sai tấc vàng


-  Lệ rơi thấm đá/ tơ chia rũ tằm


-  Dàu dàu ngọn cỏ / đầm đầm cành sương 


-  Thiệt lòng khi ở/ đau lòng khi đi


-  Giả danh hầu hạ / dạy nghề ăn chơi 


-  Sính nghinh rẻ giá/ nghinh hôn sẵn ngày 


-  Càng nhìn vẻ ngọc / càng say khúc vàng


-  Vốn nhà cũng tiếc / của trời cũng tham


-  Mà ta bất động/ nữa người sinh nghi


-  Thương gì đến ngọc / tiếc gì đến hương 


-  Phần căm nỗi khách/ phần dơ nỗi mình 


-  Một mình thì chớ/ hai tình thì sao


-  Vó câu khấp khểnh / bánh xe gập ghềnh 


-  Khi vào dùng dắng/ khi ra vội vàng 


-  Sống nhờ đất khách / thác chôn quê người 


-  Kìa gương nhật nguyệt / nọ dao quỷ thần 


-  Góc trời thăm thẳm / ngày ngày đăm đăm 


-  Bạc phau cầu giá/ đen rầm ngàn mây 


-  Đêm đêm Hàn thực/ Ngày ngày Nguyên tiêu


-  Xôn xao oanh yến/ dập dìu trúc mai 


-  Đưa người cửa trước / rước người cửa sau


-  Đã khi chung chạ/ lại khi đứng ngồi 


-  Mụ còn trông mặt / nàng đà quá tay


-  Cắt người chăm sóc / rước thầy thuốc men


-  Người dù muốn quyết / trời nào đã cho


-  Hoa xuân đang nhụy / ngày xuân còn dài 


-  Đến điều sống nhục/ sao bằng thác trong


-  Cát vàng cồn nọ/ bụi hồng dặm kia


-  Hình dung chải chuốt / áo khăn dịu dàng 


-  Cảm lòng chua xót / lạt tình bơ vơ 


-  Nỗi nhà báo đáp/ nỗi thân lạc loài 


-  Gió cây trút lá / trăng ngàn ngậm gương 


-  Vuốt đâu xuống đất / cánh đâu lên trời 


-  Uốn lưng thịt đổ/ cất đầu máu sa


-  Kẻ chê bất nghĩa / người cười vô lương 


-  Nỗi đêm khép mở/ nỗi ngày riêng chung


-  Vành ngoài bảy chữ/ vành trong tám nghề 


-  Cho lăn lóc đá/ cho mê mẩn đời 


-  Khi ngâm ngợi nguyệt / khi cười cợt hoa


-  Dường chau nét nguyệt / dường phai vẻ hồng 


-  Càng treo giá ngọc / càng cao phẩm người 


-  Cuộc say đầy tháng/ trận cười suốt đêm 


-  Sớm đưa Tống Ngọc / tối tìm Tràng Khanh


-  Nửa rèm tuyết ngậm / bốn bề trăng thâu


-  Cung cầm trong nguyệt / nước cờ dưới hoa


-  Chẳng vò mà rối / chẳng dần mà đau


-  Trước còn trăng gió / sau ra đá vàng 


-  Bầu tiên chuốc rượu / câu thần nối thơ


-  Bàn vây điểm nước / đường tơ họa đàn


-  Càng quen thuộc nết/ càng dang díu tình 


-  Lời lời châu ngọc / hàng hàng gấm thêu


-  Trước hàm sư tử / gửi người đàng la


-  Đành thân phận thiếp / ngại danh giá chàng 


-  Càng sâu nghĩa bể/ càng dài tình sông 


-  Càng xuê vẻ ngọc/ càng lồng màu sen


-  Nặng lòng e ấp / tính bài phân chia


-  Dạy cho má phấn/ lại về lầu xanh


-  Đào hoen quẹn má/ liễu tan tác mày 


-  Gương lờ nước thủy / mai gầy vóc sương 


-  Có nghe lời trước / chẳng là lụy sau


-  Kiệu hoa cất gió / đuốc hồng điểm sao


-  Đào đà phai thắm/ sen vừa nẩy xanh


-  Mặn tình cát lũy/ nhạt tình tào khang


-  Ở vào khuôn phép / nói ra mối rường


-  Dễ dò rốn bể/ không lường đáy sông 


-  Trước người đẹp ý/ sau ta biết tình 


-  Chia phôi ngừng chén/ hợp tan nghẹn lời 


-  Nửa in gối chiếc / nửa soidặm trường 


-  Miệng người đã lắm / tin nhà thì không 


-  Trách người đen bạc / ra lòng trăng hoa


-  Cũng dung kẻ dưới / mới là lượng trên 


-  Đứa thì vả miệng / đứa thì bẻ răng


-  Ra vào một mực/ nói cười như không 


-  Chữ tình càng mặn/ chữ duyên càng nồng


-  Nào ai có khảo / mà mình lại xưng


-  Đã dơ bụng nghĩ / lại bia miệng cười 


-  Đèn khuya chung bóng / trăng tròn sánh vai


-  Một màu quan tái/ mấy mùa gió trăng 


-  Thành xây khói biếc / non phơi bóng vàng


-  Nỗi chàng ở bạc/ nỗi mình chịu đen


- Nào lời non nước / nào lời sắt son 


-  Nghĩ con vắng vẻ / thương người nết na 


-  Nào là khâm liệm / nao là tang trai


-  Tro than một đống / nắng mưa bốn tường 


-  Tơ tình đứt ruột / lửa phiền cháy gan


-  Dẫu rằng trăm miệng / khôn phân lẽ nào 


-  Thịt nào chẳng nát / gan nào chẳng kinh


-  Đem lời phương tiện / mở đường hiếu sinh


-  Sớm năn nỉ bóng/ đêm ân hận lòng 


-  Nỗi gần nào biết / đường xa thế này 


-  Suy lòng trắc dĩ/ đau lòng chung thiên 


-  Bắt quỳ tận mặt / bắt mời tận tay


-  Giọt dài, giọt ngắn/ chén đầy, chén vơi  (đặc biệt)


-  Chưa xong cuộc rượu / lai bày trò chơi 


-  Hết điều khinh trọng / hết lời thị phi


-  Gỡ cho ra nợ/ còn gì là duyên 


-  Nói ra chẳng tiện/ trông vào chẳng đang


-  Rằng tài nên trọng / mà tình nên thương


-  Rắp đem mệnh bạc/ xin nhờ cửa không


-  Có cây trăm thước/ có hoa bốn mùa 


-  Dường gần rừng tía/ dường xa bụi hồng 


-  Ngày pho thủ tự/ đêm nồi tâm hương 


-  Nói lời trước mặt / rơi châu vắng người 


-  Trông vào đau ruột / nói ra ngại lời 


-  Ấy là tình nặng/ ấy là ân sâu  


-  Nỗi ông vật vã / nỗi nàng thở than


-  Chào mời vui vẻ / nói năng dịu dàng 


-  Tiếng gà điếm nguyệt / dấu giày cầu sương 


-  Phần e đường sá/ phần thương dãi dầu 


-  Muối dưa đắp đổi / tháng ngày thong dong 


-  Ngọn đèn khêu nguyệt / tiếng chày nện sương 


-  Sư càng nể mặt / nàng càng vững chân


-  Bóng hoa đầy đất / vẻ ngân ngang trời 


-  Trái lời nẻo trước / lụy mình đến sau


- Quét sân đặt trác / rửa bình thắp nhang


-  Cũng thần mày trắng/ cũng phường lầu xanh


-  Cũng liều mặt phấn/ cho rồi ngày xanh


-  Vai năm tấc rộng/ thân mười thước cao


-  Gươm đàn nửa gánh/ non sông một chèo 


-  Hai bên cùng liếc/ hai lòng cùng ưa


-  Đặt giường thất bảo / vây màn bát tiên 


-  Phỉ nguyền sánh phượng / đẹp duyên cưỡi rồng


-  Tiếng chiên dậy đất / bóng tinh rợp đường 


-  Cỏ cao hơn thước/ Liễu gầy vài phân


-  Đầy sông kình ngạc/ chật đường giáp binh


-  Hoa quan chấp chới / hà y rỡ ràng 


-  Trúc tơ nối trước / đào vàng kéo sau


-  Om thòm trống trận/ rập rình nhạc quân


-  Nơi thì lừa đảo / nơi thì xót thương 


-  Đạo ra Vô Tích / đạo vào Lâm Tri


-  Lòng lòng cùng giận/ người người chấp uy


-  Vệ trong thị lập / cơ ngoài song phi


-  Mặt như chàm đổ/ mình dường dẽ run


-  Nửa phần khiếp sợ / nửa phần mừng vui


-  Đời xưa mấy mặt / đời này mấy gan


-  Càng cay nghiệt lắm / càng oan trái nhiều 


-  Thiếu gì cô quả / thiếu gì bá vương 


-  Đã nhiều lưu lạc / lại nhiều gian truân 


-  Nở nang mày mặt / rỡ ràng mẹ cha


-  Một là đắc hiếu / hai là đắc trung


-  E dè sóng gió / hãi hùng cỏ hoa


-  Tưới ra đã khắp/ thấm vào đã sâu 


-  Ngọn cờ ngơ ngác / trống canh trễ tràng


-  Lễ nghi dàn trước / bác đòng phục sau


-  Bốn bề phát súng / ba bên kéo cờ


-  Ai lay chẳng chuyển / ai rung chẳng rời 


-  Nàng vừa phục xuống / Từ liền ngã ra


-  Dọc ngang trời rộng / vẫy vùng bể khơi 


-  Quan trên ngó xuống / người ta trông vào 


-  Lá màn rủ thấp / ngọn đèn khêu cao


-  Ở không yên ổn / ngồi không vững vàng 


-  Thanh lâu hai lượt / thanh y hai lần 


-  Mắc điều tình ái / khỏi điều tà dâm


-  Biết đường khinh trọng / biết lời phải chăng


-  Nhẹ nhà nợ trước / đền bồi duyên sau


- Đóng thuyền chực bến / kết chài giăng sông


-  Tuy dầm hơi nước / chưa lòa bóng gương 


-  Kiếp này đã vậy / lòng này dễ ai


-  Bán mình là hiếu / cứu người là nhân


-  Duyên xưa đầy đặn/ phúc sau dồi dào


-  Gió trăng mát mặt / muối dưa chay lòng 


-  Triều dâng hôm sớm/ mây lồng trước sau


-  Song trăng quạnh quẽ / vách mưa rã rời 


-  Cỏ lan mặt đất / rêu phong dấu giày 


-  Lau tre rèm nát / trúc cài phên thưa


-  Càng ngao ngán nỗi / càng ngớ ngẩn dường 


-  Dầm dề giọt ngọc / thẫn thờ hồn mai


-  Tỉnh ra lại khóc / khóc rồi lại mê


-  Đã đành phận bạc / khôn đền tình chung


-  Cắt người tìm tới / đưa tờ nhắn nhe


-  Như nung gan sắt / như bào lòng son


-  Máu theo nước mắt / hồn lìa chiêm bao


-  Càng âu duyên mới / càng dào tình xưa 


-  Tuôn châu đòi đoạn / vò tơ trăm vòng


-  Trầm bay nhạt khói/ gió đưa lay rèm


-  Tiếng kiều đồng vọng/ bóng xiêm mơ màng 


-  Hoa chào ngõ hạnh/ hương bay dặm phần


-  Nghĩ mình vinh hiển/ thương người lưu ly


-  Quan sơn nghìn dặm / thê nhi một đoàn 


-  Oán thì trả oán/ ân thì trả ân


-  Trước sau trọn vẹn/ xa gần ngợi khen 


-  Chồng con đâu tá/ tính danh là gì 


-  Đánh quen trăm trận / sức dư muôn người 


-  Xót thân chìm nổi / đau lòng hợp tan


-  Mảnh gương còn đó/ phím đàn còn đây 


-  Mấy sông cũng lội / mấy ngàn cũng qua


-  Sóng êm Phúc Kiến/ lửa tàn Chiết Giang


-  Lâm Tri buổi trước / Tiền Đường buổi sau


-  Hai bên gặp gỡ / một lời tấc giao


-  Còn vầng trăng bạc/ còn lời nguyền xưa


-  Dưới dày có đất / trên cao có trời 


-  Hoa thơm phong nhụy/ trăng vòng tròn gương 


-  Mấy trăng cũng khuyết / mấy hoa cũng tàn


-  Tan sương đầu ngõ/ vén mây giữa trời 


-  Hoa soi ngọn đuốc/ hồng chen bức là


-  Lễ đà đủ lễ/ đôi đà đủ đôi 


-  Bâng khuâng duyên mới / ngậm ngùi tình xưa


-  Vớt hương dưới đất / bẻ hoa cuối mùa 


-  Tưởng thề thốt nặng/ cũng đau đớn nhiều 


-  Lọ là chăn gối / mới ra sắt cầm


-  Càng yêu vì nết / càng say vì tình 


-  Khói trầm cao thấp / tiếng huyền gần xa


-  Gà đà gáy sáng / trời vừa rạng đông


-  Chẳng trong chăn gối / cũng ngoài cầm thơ


-  Khi xem hoa nở/ khi chờ trăng lên 


-  Rêu trùm kẽ ngạch/ cỏ lên mái nhà 


-  Thiên niên dằng dặc / quan giai lần lần 


-  Một cây cù mộc/ một sân quê hòe


 


Tổng có 289 tiểu đối nhóm bốn


 


Theo thống kê trên, ta biết được Truyện Kiều có 308 tiểu đối nhóm hai, 50 tiểu đối nhóm ba và 289 tiểu đối nhóm bốn, tổng cộng có 647 tiểu đối các loại. Truyện Kiều dài 3254 câu, như vậy trung bình cứ đọc 5 câu Kiều thì gặp một tiểu đối. Cũng qua bảng thồng kê này ta thấy rằng, trong khi tiểu đối nhóm đôi và nhóm bốn có số lượng rất nhiều, thì tiểu đối nhóm ba rất ít, nói chung chỉ bằng một phần sáu của mỗi loại kia. Vì sao có hiện tượng đó?


   Ta biết rằng nhịp điệu tự nhiên của thơ lục bát là 2/2/2 ở câu lục và 2/2/2/2 ở câu bát, nghĩa là nhịp chẵn. Trong khi đó tiểu đối 3/3 bắt buộc câu thơ phải nhịp lẻ, điều này rất ít xẩy ra.  Trong Truyện Kiều, tiểu đối 3/3 hầu hết xẩy ra ở câu lục, chỉ có vài trường hợp xẩy ra ở câu bát. Trong 50 tiểu đối 3/3 thì quá một nửa, cụ thể là 26 trường hợp, Nguyễn Du sử dụng để xử lý câu lục lệch chuẩn, tức là khi chữ thứ hai không phải thanh bằng hoặc chữ thứ tư không phải thanh trắc.( Xem bài Câu lục lệch chuẩn trong Truyện Kiều).


   Tiểu đối nhóm đôi 2/2 phân bố đều trong câu lục cũng như câu bát. Đó là lý do để tiểu đối này có số lượng vượt trội.


  Tiểu đối 4/4 chỉ xẩy ra ở câu bát, cắt câu bát thành hai phần đối xứng nhau. Truyện Kiều có 1627 câu bát, thì có đến 289 câu tiểu đối 4/4, như vậy chiếm tỷ lệ hơn 1/6. Nghĩa là trung bình đọc chưa đến 6 câu bát trong Truyện Kiều thì ta gặp một câu tiểu đối 4/4. Tôi tin rằng, dù chưa thống kê, không có tác phẩm lục bát nào khác có tần suất tiểu đối 4/4 cao đến như vậy.


Đặc biệt có những đoạn thơ, mật độ tiểu đối 4/4 dày đặc:


Vân xem trang trọng khác vời


Khuôn trăng đầy đặn / nét ngài nở nang


Hoa cười, ngọc thốt đoan trang


Mây thua nước tóc / tuyết nhường mùa da…


  Trong Truyện Kiều có hai câu bát rất đặc biệt, đó là câu 2130 :


Quét sân đặt trác rửa bình thắp nhang


 và  2700:


Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.


Đặc biệt ở chỗ, mỗi câu bát này chứa đến bốn mệnh đề tương ứng với bốn việc làm Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang và Đóng thuyền, chực bến, kết chài, giăng sông.  Xét về mặt tiểu đối, mỗi câu bát này chứa hai tiểu đối 2/2 và một tiểu đối 4/4, điều thật hiếm hoi trong kho tàng thơ lục bát của chúng ta.


 


CÂU LỤC PHÁ CÁCH TRONG TRUYỆN KIỀU


    Cùng là thơ lục bát, nhưng có bài nghe êm dịu, có bài lại trúc trắc, khó đọc. Nguyên nhân ngoài vần ra, còn do điệu, tức là thanh trắc và thanh bằng của các chữ trong câu quyết định điều đó. Chúng ta biết rằng, với một câu thơ lục bát chuẩn thì chữ thứ 2 của câu lục cũng như của câu bát phải là thanh bằng, chữ thứ tư của mỗi câu phải là thanh trắc(*). Trong 1627 câu bát của Truyện Kiều, câu nào cũng chuẩn, nghĩa là mọi câu đều có chữ thứ hai thanh bằng, chữ thứ tư thanh trắc. Nhưng trong 1627 câu lục thì không như thế, nghĩa là có một số câu có chữ thứ hai thanh trắc, hoặc chữ thứ tư thanh bằng. Ta tạm gọi những câu lục như vậy là câu lục phá cách hoặc lệch chuẩn. Trước hết ta hãy thống kê những câu lục ấy:


-       Mai cốt cách, tuyết tinh thần


-       Đau đớn thay phận đàn bà


-       Nền phú hậu, bậc tài danh


-       Người quốc sắc, kẻ thiên tài


-       Khi tựa gối, khi cúi đầu


-       Người nách thước, kẻ tay đao


-       Đồ tế nhuyễn, của riêng tây


-       Duyên hội ngộ, đức cù lao


-       Nước vỏ lựu, máu mào gà


-       Tin nhạn vẩn, lá thư bài


-       Khi khoé hạnh, khi nét ngài


-       Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh


-       Khi gió gác, khi trăng sân


-       Khi hương sớm, khi trà trưa


-       Khi chè chén, khi thuốc thang


-       Sao chẳng biết ý tứ gì


-       Có cổ thụ, có sơn hồ


-       Khi Vô Tích, khi Lâm Tri


-       Mụ quản gia, vãi Giác Duyên


-       Hết nạn nọ, đến nạn kia


-       Hại một người, cứu muôn người


-       Người một nơi, hỏi một nơi


-       Người yểu điệu, kẻ văn chương


-       Tưởng bây gìơ là bao giờ


-       Thêm nến giá, nối hương bình


-       Khi chén rượu, khi cuộc cờ


   Như vậy, ta tính được 26 câu lục lệch chuẩn, chiếm tỷ lệ chưa đến 1,6% tổng số câu lục. Trong 26 câu này thì có đến 21 câu có chữ thứ hai mang thanh trắc, và chỉ 7 câu có chữ thứ tư mang thanh bằng. Với những câu lục bát chuẩn, khi không thất vận, bao giờ nghe cũng êm tai; ngược lại với trắc bằng lệch chuẩn, ngay cả khi chuẩn vần, thường trúc trắc, khó đọc. Thế nhưng khi đọc Truyện Kiều, không câu nào ta có cảm giác trúc trắc, ngang ngang, ngay cả những câu lục lệch chuẩn. Nguyên nhân vì sao?


   Ta biết rằng thơ lục bát thường ngắt nhịp từng cặp hai chữ một:


Trăm năm/ trong cõi/ người ta (2/2/2)


Chữ tài/ chữ mệnh/ khéo là/ ghét nhau (2/2/2/2)


Phần lớn những câu lục bát trong Truyện Kiều cũng được ngắt nhịp như vậy. Thế nhưng ở 26 câu lục lệch chuẩn trên kia, không câu nào Nguyễn Du ngắt theo nhịp 2/2/2 quen thuộc, mà ngắt theo nhịp 3/3. Như vậy , chính nhịp 3/3 trong câu lục có sức mạnh làm tiêu tan sự trúc trắc, cho phép một câu lục lệch chuẩn làm thành viên một cặp lục bát êm dịu, mượt mà. Phải chăng đây cũng là một “bí quyết” mà những người làm thơ lục bát chúng ta cần tham khảo?


   Đọc lại 26 câu lục trên kia, ta thấy rằng, chúng không chỉ được ngắt theo nhịp 3/3; mà chỉ trừ ba câu: Đau đớn thay phận đàn bà, Sao chẳng biết ý tứ gì,Người một nơi, hỏi một nơi, còn 23 câu lục còn lại, mỗi câu được chia ra hai phần,tạo thành một cặp tiểu đối 3-3 hoàn chỉnh, và khi đó đọc lên nghe thuận tai hơn ba câu trên kia dù ngắt nhịp 3/3 nhưng không tạo thành tiểu đối.


  Như trên đã nói, lục bát chuẩn thường có âm điệu du dương, lên bổng xuống trầm theo quy luật. Tuy nhiên nó cũng có “tác dụng phụ” là dẫn đến sự đơn điệu, nhất là đối với những bài thơ dài hay những truyện thơ hàng ngàn câu. Có đôi khi những câu lệch chuẩn giống như con ngựa bất kham dễ quật ngã những nài ngựa trình độ hạn chế, nhưng với những nài ngựa giỏi thì tìm được cái hay ở chúng. Với “đàn ngựa ngôn ngữ” thì Nguyễn Du là nài ngựa kỳ tài, có phép riêng để sử dụng những con ngựa lệch chuẩn, để cho lục bát trong Truyện Kiều giàu âm điệu, tiết tấu, tránh được sự đơn điệu thường tình.


   Cũng cần lưu ý rằng, khi không thể ngắt nhịp 3/3 thì đại thi hào tìm cách hoán vị các từ, chứ không chịu để cho câu lục lệch chuẩn xuất hiện. Ví dụ như khi nói về Hoạn Thư:


Ở ăn thì nết cũng hay


Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.


 Trong ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta thường nói nết ăn ở, chứ không mấy khi nói ở ăn. Nguyễn Du thừa biết điều ấy, nhưng nếu dùng ăn ở thì chữ thứ hai câu lục mang thanh trắc: Ăn ở thì nết cũng hay, không thể ngắt theo nhịp 3/3, thế là “con ngựa bất kham” này không có “chiêu ngắt nhịp” để trị, không thể dùng được, nên đành phải hoán vị hai chữ đầu câu để đưa nó về một câu lục chuẩn.


      Để giúp các bạn dễ nhớ 26 câu lục trên, tôi ghép chúng lại trong một bài lục bát như sau:


 


Mai cốt cách, tuyết tinh thần


Mỗi người một vẻ, phong trần khác xa


Đau đớn thay phận đàn bà


Sống làm vợ khắp người ta, tội tình


Nền phú hậu, bậc tài danh


Tình đầu ngắn ngủi sau dành phần ai


Người quốc sắc, kẻ thiên tài


Vô duyên, chỉ để vắn dài dòng châu


Khi tựa gối, khi cúi đầu


Bên nhau ai biết về sau thế nào


Người nách thước, kẻ tay đao


Đầu trâu mặt ngựa ào ào đến ngay


Đồ tế nhuyễn, của riêng tây


Chắt chiu bao thuở, một ngày sạch lau


Duyên hội ngộ, đức cù lao


Nhẹ tình, nặng hiếu lòng đau biệt nhà


Nước vỏ lựu, máu mào gà


Tính toan của Mã nghe mà sởn gai


Tin nhạn vẩn, lá thư bài


Khi khoé hạnh, khi nét ngài, mà kinh!


Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh


Giật mình mình lại thương mình, chiếc thân


Khi gió gác, khi trăng sân


Bầu tiên  chuốc rượu, câu thần nối thơ


Khi hương sớm, khi trà trưa


Bàn vây điểm nước, vần thơ họa đàn


Khi chè chén, khi thuốc thang


Không hay địa ngục, thiên đàng là chi


Sao chẳng biết ý tứ gì


Cho chàng buồn bã tội vì Hoa Nô


Có cổ thụ, có sơn hồ


Đêm Quan Âm Các lần mò trốn đi


Khi Vô Tích, khi Lâm Tri


Thương thay thân gái chuyển di bao miền


Mụ quản gia, vãi Giác Duyên


Mấy lần gặp gỡ, mấy phen chia lìa


Hết nạn nọ, đến nạn kia


Biết bao gìờ mới yên bề thảnh thơi?


Hại một người, cứu muôn người


Người một nơi, hỏi một nơi, lầm đường


Người yểu điệu, kẻ văn chương


Đoàn viên một cuộc tình thương vô bờ


Khi chén rượu, khi cuộc cờ


Tưởng bây giờ là bao giờ, nét xinh


Thêm nến giá, nối hương bình


Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan…


 


Dùng bao câu chữ làng nhàng


Chỉ mong chuyên chở hạt vàng văn chương!


                                                           


___________


(*): Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không sử dụng thể lục bát gieo vần ở chữ thứ tư câu bát, nên ở đây không bàn về thể  thơ đó.


 


 


 


 


 


 


 


            THỬ CHỌN NĂM MƯƠI CÂU KIỀU HAY NHẤT 


     Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có 3.254 câu. Là một tuyệt tác, nên nói chung, câu nào cũng hay, tuy mức độ khác nhau. Như vậy có nghĩa là, có câu hay nhiều, câu hay ít, thế mà từ xưa đến nay, ta chưa thấy các nhà nghiên cứu, phê bình chỉ cho bạn đọc biết những câu thơ điển hình trong Truyện Kiều, trong khi bài viết khen Truyện Kiều có số lượng hết sức đồ sộ. Phải chăng các nhà nghiên cứu, phê bình không muốn làm điều đó, nghĩa là không muốn thống kê những câu Kiều hay nhất vì sợ “ tủi thân” những câu không được nhắc tới, trong khi chúng vẫn là những câu thơ hay trong thi đàn nói chung. Hay là các nhà nghiên cứu, phê bình sợ những câu mình nêu ra không đúng với cách thẩm định của người khác? Tôi nghĩ rằng, mọi sự so sánh, lựa chọn là tương đối, tuy nhiên với những người thấu hiểu Truyện Kiều, những câu họ chọn lựa, dù không được bạn đọc đồng tình một trăm phần trăm, thì phần lớn cũng được đông đảo chấp nhận.


    Một trong rất nhiều lý do để Truyện kiều trở thành tuyệt tác có một không hai trong lịch sử văn học nước ta hơn hai thế kỷ qua là nhiều câu thơ trong tác phẩm này có sức thoát ly hoàn cảnh cụ thể của tác phẩm để tự lập sống cuộc đời riêng trong từng hoàn cảnh của độc giả. Không chỉ những “ năm Gia Tĩnh triều Minh”, không chỉ thời cụ Nguyễn Du, mà ngày nay, khi yêu nhau, một chàng trai tặng quà cho bạn gái của mình, thì có thể dùng ngay lời của Kim Trọng nói khi tặng quà cho Thuý  Kiều, hết sức văn hoá và tế nhị vì biết giảm nhẹ giá trị vật chất, nhấn mạnh giá trị kỷ niệm:


Rằng: trăm năm cũng từ đây


Của tin gọi một chút này làm ghi. 


  Rồi khi tình yêu đang nồng nàn, vì lẽ gì đó, đôi lứa phải xa nhau, chàng trai nào mà chẳng muốn dặn dò người tình chung thuỷ, giữ gìn mọi thứ vì tình yêu của họ. Dặn người yêu chung thuỷ, giữ gìn là một câu không dễ tìm ra lời, vì có thể làm người yêu phật ý…Trong khi bạn đang lúng túng chưa biết dùng lời lẽ thế nào để chuyển tải ý ấy, thì tốt nhất, hãy mượn ngay lời chàng Kim đã dặn Thuý Kiều trước lúc chia tay về nhà hộ tang chú:


Gìn vàng, giữ ngọc cho hay


Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.


  Hồi còn trai trẻ, tôi yêu một cô gái là giáo viên. Hôm cô bạn dẫn về nhà để tôi “thưa chuyện” với bố cô về chuyện tình yêu chúng tôi. Lúc đó tôi như “bỏ quên trí khôn ở nhà”, lúng túng mãi mới diễn đạt được điều mình muốn nói. Khi nói xong, tôi căng thẳng chờ ý kiến của ông, rất sợ ông khước từ vì lý do khoảng cách hai quê quá xa xôi, hơn nữa, tôi nghĩ rằng nếu ông đồng ý thì cũng sẽ “thuyết giáo” dài dòng chứ không đơn giản gật đầu. Không ngờ, nghe xong tôi trình bày, ông đọc:


Thương sao cho trọn thì thương


Tính sao cho vẹn mọi đường, thì vâng!


làm tôi tiêu tan hết căng thẳng, và chuyển sang nói chuyện với ông không phải với tư cách giữa con rể và bố vợ tương lai, mà của hai người cùng tâm đắc Truyện Kiều. Thế đấy, có những câu Kiều không những giúp người ta chuyển tải ý kiến của mình một cách trọn vẹn hết sức văn hoá, mà xích những người xa lạ gần lại với nhau!


  Hai câu Nguyễn Du tả mụ Tú Bà của mấy thế kỷ trước giúp ta ngày nay có thể thốt hết khi thấy một người đàn bà to béo mà mình ít cảm tình:


Thoắt trông nhờn nhợt màu da


Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao!


Rồi:


Đàn bà dễ có mấy tay


Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan


chúng ta có thể đọc lên rất “đắc địa” sau khi nghe chuyện kể về một người đàn bà cay nghiệt, dù bà ta chẳng có gì liên quan với Hoạn Thư cả.


  Chỉ đơn cử vài ba ví dụ để nói rằng, rất nhiều câu Kiều có thể thoát ly Truyện Kiều mà sống trong cuộc sống hàng ngày, làm giàu thêm ngôn ngữ chúng ta. Nói chung phần lớn những câu kiều hay đều có sức sống độc lập như thế.


   Khi ngồi chọn những câu thơ hay trong Truyện Kiều, tôi chợt nhớ ý thơ của Trần Mạnh Hảo: “Tháng Tư phây phây như một trái xoài / Mấy lần anh lên cây rồi tụt xuống / Quả bốn bề không hái được chỉ vì… sai ”. Truyện Kiều có quá nhiều câu hay, nên chọn câu hay, thật khó! Lúc đầu tôi “sơ tuyển” 100 câu thì chưa đến nỗi khó lắm, nhưng khi rút xuống 50, thật nan giải, gạt bỏ câu nào cũng thấy tiếc.


      Để giúp các bạn trẻ thời nay vì quá bận rộn với kinh tế thị trường, không có đủ thời gian đọc hết toàn bộ Truyện Kiều, tôi xin chọn 50 câu ( 50 cặp lục bát) mà tôi cho là hay nhất, để trong một quãng thời gian ngắn, bạn đọc có thể tiếp cận với những câu Kiều đặc sắc, đồng thời với các bạn đang yêu, may chăng từ những câu Kiều này, có thể “hoạt ngôn” hơn trong những trạng thái khó xử của cuộc sống.


 


                          NĂM MƯƠI CÂU KIỀU HAY NHẤT


               ( Số thứ tự đánh theo sự xuất hiện trong Truyện Kiều)


 


1-     Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.


2-     Sống làm vợ khắp người ta / Hại thay thác xuống làm ma không chồng.


3-     Người đâu gặp gỡ làm chi / Trăm năm biết có duyên gì hay không.


4-     Ngổn ngang trăm mối bên lòng / Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.


5-     Một mình lưỡng lự canh chầy/ Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.


6-     Sầu đong càng khắc càng đầy / Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.


7-     Mành tương phất phất giò đàn / Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.


8-     Gió chiều như giục cơn sầu / Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu.


9-     Rằng: trăm năm, cũng từ đây / Của tin gọi một chút này làm ghi


10-  Bây giờ rõ mặt đôi ta / Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao


11-  Gìn vàng giữ ngọc cho hay / Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.


12-  Trăng thề còn đó trơ trơ / Dám xa xôi mặt mà thơ thớt lòng.


13-  Ông tơ ghét bỏ chi nhau / Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.


14-  Đau lòng tử biệt sinh ly / Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.


15-  Phận sao đành vậy cũng vầy / Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.


16-  Trong tay đã sẵn đồng tiền / Dù lòng đổi trắng thay đen khó gì


17-  Đau lòng kẻ ở người đi / Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.


18-  Biết thân đến bước lạc loài / Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.


19-  Miếng ngon kề đến tận nơi / Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.


20-  Đoạn trường thay lúc phân kỳ / Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.


21-  Thôi con còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người .


22-  Từ đây góc bể bên trời / Nắng mưa thui thủi quê người một thân.


23-  Vi lô san sát hơi may / Một trời thu để riêng ai một người.


24-  Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi / Thấy trăng mà thẹn những lời non sông


25-  Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao.


26-  Thương ôi tài sắc bậc này / Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.


27-  Cũng liều nhắm mắt đưa chân / Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.


28-  Đêm thu khắc lậu, canh tàn / Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương


29-  Thân lươn bao quản lấm đầu / Chút long trinh bạch từ sau xin chừa


30-  Vui là vui gượng kẻo là / Ai tri âm đó mặn mà với ai.


31-  Đã đày vào kiếp phong trần / Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.


32-  Rõ màu trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.


33-  Thương sao cho trọn thì thương / Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.


34-  Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.


35-  Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.


36-  Bước vào phòng cũ lầu thơ / Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.


37-  Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.


38-  Bề ngoài thơn thớt nói cười /Mà trong nham hiểm giết người không dao.


39-  Nhẹ như bấc, nặng như chì / Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên.


40-  Phận bèo bao quản nước sa / Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.


41-  Biết thân tránh chẳng khỏi trời / Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.


42-  Đến bây giờ mới thấy đây / Mà lòng đã chắc những ngày một hai.


43-  Tiếc thay chút nghĩa cũ càng / Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.


44-  Đàn bà dễ có mấy tay / Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.


45-  Phong trần mài một lưỡi gươm / Những phường giá áo túi cơn sá gì.


46-  Chọc trời khuấy nước mặc dầu / Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.


47-  Một cung gió thảm mưa sầu / Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.


48-  Đánh tranh chụm nóc thảo đường / Một gian nước biếc mây vàng chia hai.


49-  Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê / Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.


50-  Tưởng bây giờ là bao giờ / Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.


 


Nếu chỉ được chọn 10 câu (top ten), tôi tiến cử danh sách sau:


 


1-     Sống làm vợ khắp người ta


Hại thay thác xuống làm ma không chồng.


 


2-     Một mình lưỡng lự canh chầy


Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.


 


3-     Dặm khuya ngất tạnh mù khơi


Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.


 


4 – Cũng liều nhắm mắt đưa chân


Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.


 


5 – Thân lươn bao quản lấm đầu


Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.


 


6 – Đã đày vào kiếp phong trần


Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.


 


7 – Long lanh đáy nước in trời


Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.


 


8 - Bốn phương mây trắng một mầu


Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.


 


9 - Biết thân tránh chẳng khỏi trời


Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.


 


10 - Phận bèo bao quản nước sa


Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.


 


   Có thể mười câu tôi cho là hay nhất, không đúng với cách chọn lựa của những người khác. Nhưng tôi tin, phần lớn số câu trong 50 câu trên kia sẽ có mặt trong danh sách 50 câu Kiều hay nhất tự chọn của mọi người yêu mến Truyện Kiều.                                                               


 THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU


                                          (Trao đổi với Nhà Kiều học Phạm Đan Quế)


      Hỏi về thời gian lưu lạc của Thuý Kiều thì một độc giả bình thường cũng dễ dàng trả lời được là mười lăm năm, vì phần cuối Truyện Kiều nhiều lần đề cập, khi thì tác giả, khi thì nhân vật nói lên điều ấy, như lời của Thúy Kiều:


Từ con lưu lạc quê người


Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm.


Lời của Thuý Vân:


Những là rày ước mai ao


Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.


Và lời của Nguyễn Du:


Những từ sen ngó đào tơ


Mười lăm năm ấy bây giờ là đây…


 Thế nhưng hỏi rằng, trong mười lăm năm lưu lạc ấy, nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác trong bao lâu, thì ngay một chuyên gia về Truyện Kiều cũng khó có được câu trả lời chính xác. Không phải vì các nhà nghiên cứu Truyện Kiều không quan tâm điều đó, mà vì một vấn đề phức tạp, khó phân định rõ ràng. Thời gian trong Truyện Kiều phân bố không đều, có khi chỉ một câu lục bát đã diễn tả một năm trôi qua như: Sen tàn cúc lại nở hoa / Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân. Nhưng có khi chỉ chuyện trong một ngày đêm thanh minh, tác giả đã dùng đến 204 câu, từ câu 39 đến câu 242. Một trong những người tâm huyết với Truyện Kiều là ông Phạm Đan Quế đã nghiên cứu vấn đề này và trong tác phẩm Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện (nhà xuất bản Văn học, năm 2000), trang 371, ông có cung cấp cho bạn đọc bảng tổng kết phân chia thời gian sau đây:


 

































































































Số TT



                Biến cố chính



  Địa điểm



  Thời gian



   Chứng cớ



1



Ở lầu xanh lần 1 (lúc đầu ra lầu Ngưng Bích)



Lâm Tri



Gần 3 năm



Hồi 20 KVKT



2.3



Sống với Thúc Sinh ( hai đợt)



nt



Gần 1 năm



Câu 1385



4



Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư



nt



Gần 1 năm



Câu 1487



5



Bị bắt về nhà Hoạn bà



Vô Tích



Hơn 1 năm



Câu 1599



6



Về nhà Hoạn Thư bị hành hạ



nt



 



 



7



Đi tu lần 1 và đi trốn



nt



Vài tháng



 



8



Đi tu lần 2, đến nhà Bạc bà



nt



Vài tháng



 



9



Ở lầu xanh lần 2



Châu Thai



Gần 1 năm



Cuối hồi 17



10



Sống với Từ Hải lúc đầu



Châu Thai



Gần nửa năm



Câu 2213



11



Chờ đợi Từ Hải



nt



Gần 3 năm



Đầu hồi 18



12



Đi theo từ Hải ( có về Lâm Tri)



Hàng Châu



Gần 5 năm



Câu 2404.2408.2450



13



Đi tu lần 3 sau khi được vớt



Hàng Châu



Vài tháng



 



 


     Nhìn vào bản tổng kết này, trong phần chứng cớ, ta thấy khi thì tác giả dựa vào các câu Kiều, khi thì dựa vào các chương trong Kim Vân Kiều truyện để tính toán và phân chia thời gian trong Truyện Kiều. Điều này có hợp lý hay không, chúng ta sẽ bàn sau. Trước hết ta đi vào một số chi tiết.


      1- Thời gian Kiều sống với Giác Duyên, tức là nàng đi tu lần thứ hai, cộng với thời gian nàng ở với Bạc bà, ông Phạm Đan Quế cho rằng chỉ vài tháng, tôi e không chính xác. Bởi rằng, Kiều trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư vào mùa thu ( Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu thì Thúc Sinh tìm tới trò chuyện, Hoạn Thư bắt gặp, rồi Kiều trốn đi). Nàng Ở am Chiêu Ẩn với Giác Duyên cho đến Cửa thiền vừa cữ cuối xuân mới có người đàn việt lên chơi cửa già, phát hiện chuông khánh của nhà Hoạn Thư, sau đó Giác Duyên biết chuyện, Kiều mới đi khỏi chùa về nhà Bạc bà. Như vậy Kiều đã ở với Giác Duyên ít ra là từ cuối thu đến cuối xuân, như vậy ít nhất phải sáu tháng chứ không phải vài tháng. Đó là chưa tính thời gian nàng ở với Bạc bà.


      2- Thúy Kiều đi tu lần thứ ba, tức là sau khi được vớt từ sông Tiền Đường, về ở trong thảo am với Giác Duyên, ông Phạm Đan Quế cũng cho là vài tháng, theo tôi thì thời gian ngắn hơn thế. Là vì: Khi Kim Trọng đi tìm Thuý Kiều, đến Hàng Châu thì được tin: Rằng ngày hôm họ giao binh/ Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền. Ta chú ý ba chữ ngày hôm nọ, tức là thời gian chỉ mới xẩy ra rất gần. Sau đó Kim Trọng liền lập đàn tràng bên sông Tiền Đường để cầu hồn cho Thuý Kiều, vô tình Giác Duyên đi tới, rồi dẫn về gặp Thuý Kiều ở thảo am. Như thế Từ Hải thất cơ chỉ là “ngày hôm nọ”, tất nhiên thời gian sống ở thảo am của Thuý Kiều phải ít hơn từ “ngày hôm nọ” đến khi găp Kim Trọng, nên cũng chỉ một vài tuần chứ không tính bằng tháng. Trong tiếng Việt, chuyện xẩy ra từ vài tháng trước, không ai dùng ba chữ ngày hôm nọ cả.


     3 – Nàng Kiều sống với Từ Hải lúc đầu, ông Phạm Đan Quế cho rằng gần nửa năm. Theo tôi, chữ gần là thừa ra, không chính xác, mà phải nói là nửa năm, chứng cớ ở câu: Nửa năm hương lửa đang nồng/ Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Có lẽ ông Quế thêm vào chữ gần là cốt để cân đối trong phép cộng để có số thành là 15 năm!


      4 -Thời gian Thuý Kiều chờ đợi Từ Hải, ông Phạm Đan Quế cho là gần ba năm, theo tôi là chưa chính xác, vì: Sau khi sống với nhau nửa năm, Từ Hải chuẩn bị xuất quân đi đánh trận, Thuý Kiều đòi đi theo, Từ nói: “Đành lòng chờ đó ít lâu / Chầy ra là một năm sau vội gì”. Nghĩa là Từ Hải bảo Thuý Kiều chờ lâu nhất cũng chỉ một năm thôi. Khi chiến thắng trở về, Thuý Kiều ra đón, Từ Hải: “ Cười rằng: cá nước duyên ưa / Nhớ lời nói những bao giờ nữa không?”. Tức là Từ nhắc lại lời mình đã nói với Thuý Kiều trước lúc ra đi và bây giờ đã làm đúng như vậy. Nếu hẹn Thuý Kiều lâu nhất một năm, mà gần ba năm mới trở về, thì Từ Hải trước hết phải thanh minh với nàng Kiều về sự chậm trễ, lỗi hẹn… chứ sao có thể đàng hoàng nhắc Kiều nhớ lại lời mình đã nói như thế? Hơn nữa, với Nguyễn Du, Từ Hải là một anh hùng, tôi không tin Đại thi hào lại để anh hùng Từ Hải lỗi hẹn với Thuý Kiều đến những hai năm trời!Vậy nên, theo tôi, thời gian Thuý Kiều chờ đợi Từ Hải không quá một năm, đúng như Từ Hải đã khẳng định trước khi chia tay.


        5 - Ông Phạm Đan Quế đã dựa vào lời nhà tiên tri Tam Hợp nói rằng chi kỳ hội ngộ của Giác Duyên và Thuý Kiều là 5 năm để tính ra: sau khi Từ Hải thắng trận trở về, Kiều còn sống với Từ Hải gần 5 năm. Nhưng ta biết rằng, khi Từ Hải đi đánh trận, Thuý Kiều chờ đợi, nhớ cha mẹ, Nguyễn Du viết:


Chốc đà mười mấy năm trời


Còn ra khi đã da mồi, tóc sương.


Nghĩa là tính đến khi Từ Hải chưa trở về, nàng đã xa cha mẹ mười mấy năm rồi.Nếu sau khi Từ Hải  trở về, Kiều còn sống với Từ gần 5 năm nữa, thì tổng thời gian lưu lạc sẽ là: Mười mấy năm cộng với gần 5 năm cộng thêm thời gian ở thảo am (dù ngắn), thì tin chắc kết quả sẽ vượt con số 15 năm! Vì rằng, đã nói mười mấy năm thì ít nhất cũng phải từ 11 năm trở lên, nếu dưới 11 năm mà trên 10 năm thì người ta sẽ nói trên chục năm, chứ không thể mười mấy năm được. Mặt khác, ta nhớ rằng sau khi Từ Hải chết, nàng Kiều đã khóc trước mặt Hồ Tôn Hiến:


Năm năm trời bể ngang tàng


Dấn mình đi bỏ chiến trường như không…


 Hay như câu: Năm năm hùng cứ một phương hải tần cho chúng ta nghĩ rằng cuộc nổi dậy của Từ Hải là 5 năm thì sao Từ có thể sống với Thuý Kiều gần 5 năm kể từ ngày chiến thắng trở về đươc? Dẫn đến mâu thuẫn này không phải lỗi của người lập bảng phân chia thời gian ở trên!


   Để có bảng phân chia thời gian trên, ông Phạm Đan Quế vừa sử dụng những câu Kiều của Nguyễn Du, vừa căn cứ vào sự phân chia thời gian trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, như ở hồi thứ 20, Kim Vân Kiều truyện chỉ ra lần đầu Kiều ở lầu xanh ( lầu Ngưng Bích) gần 3 năm và cuối hồi 17, nói rằng Kiều ở lầu xanh Châu Thai gần 1 năm; đầu hồi 18  nói nàng chờ Từ Hải 3 năm. Căn cứ vào các chương của Thanh tâm Tài Nhân là đúng đắn nếu dùng để xem xét thời gian trong Kim Vân Kiều truyện, chứ không thể dùng để xét thời gian trong Truyện Kiều, bởi rằng, Nguyễn Du chỉ dựa vào Kim Vân Kiều truyện để sáng tác ra Truyện Kiều, chứ không hề dịch Kim Vân Kiều truyện, nên ông hoàn toàn có quyền biến đổi thời gian lâu thành chóng, ngắn thành dài. Bởi vậy thời gian trong hai tác phẩm này không đồng nhất nhau. Vả lại, Truyện Kiều, là một tác phẩm thơ, Nguyễn Du cũng không có ý định chỉ ra thật cụ thể, số ngày, tháng, thậm chí cả số năm mà nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác, nên chúng ta không thể biết chính xác Thuý Kiều phải ở lầu Ngưng Bích bao nhiêu năm, mà chỉ biết nàng đến đó vào mùa thu, rồi Thúc Sinh quen nàng, hoàn lương nàng vào mùa xuân (mùa xuân của năm tiếp theo hay của năm sau nữa cũng không thể biết!).Cũng như vậy, chúng ta không thể xác định được đích xác thời gian Kiều ở lầu xanh Châu Thai là bao lâu, mà chỉ nghe lời than cuối đoạn: “Biết thân chạy chẳng khỏi trời/ Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh” mà thôi! Lấy thời gian trong Kim Vân Kiều truyện làm chỗ dựa để chi phối thời gian trong Truyện Kiều (dùng nó làm số hạng của phép cộng để tạo nên tổng số 15 năm) là thiếu khoa học. Bởi vậy, trong bảng tổng kết trên, chỉ các mục 2.3, 4,5,6,7 là tương đối chính xác, các mục còn lại, hoặc chưa thật chính xác, hoặc không đủ tin cậy.


  Ông Phạm Đan Quế đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu Truyện Kiều, đặc biệt là các công trình so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện. Tuy nhiên việc ông muốn cung cấp cho bạn đọc một bản phân chia thời gian chi tiết trong 15 năm lưu lạc của Thuý Kiều, thật không dễ. Là người từng bỏ nhiều thời gian nghiên cứu vấn đề này, có lần tôi tưởng mình có thể làm được việc phân chia đó, nhưng qua nhiều lần thất bại, cuối cùng tôi tự rút ra kết luận: không thể có bản phân chia thời gian tách bạch, chính xác để chỉ ra nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác trong bao nhiêu lâu (có lẽ cụ Nguyễn Du cũng không muốn và không thể làm được điều này!). Bởi thế bảng phân chia thời gian của ông Phạm Đan Quế còn nhiều bất cập cũng là điều dễ hiểu.                                                                                                        Xuân 2009


  (còn tiếp)


Nguồn:  Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »