Phần này bàn về cách dùng thì (tiếng Anh tense ~ temps tiếng Pháp) vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Các chữ viết tắt khác là HV (Hán Việt), CNNAGN (Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa), NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), CQN (Chữ Quốc Ngữ), TQ (Trung Quốc), BK (Bắc Kinh), TK (thế kỉ), các bản chữ Nôm của LM Maiorica như CTTr (Các Thánh Truyện - tháng 12), KNLMPS (Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh), TCTM (Thiên Chúa Thánh Mẫu). Tương quan ngữ âm HV và Việt ghi trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc Việt hay Hán Cổ của chúng, cần nhiều dữ kiện hơn để thêm chính xác. Trang/cột/tờ của VBL được ghi xuống để người đọc dễ tra cứu thêm. Các cách đọc phiên thiết trình bày theo thời gian (lịch đại): từ thời Hán đến thế kỉ XVII (Tự Vị, Chính Tự Thông) cho đến giọng BK hiện nay so sánh với các phương ngữ khác cũng như âm HV (đồng đại). Dấu hoa thị * đứng trước một âm cổ phục nguyên (reconstructed sound), không nên lầm thanh điệu hay chỉ số đứng sau một âm tiết và số phụ chú. Người viết cũng xin được cảm ơn anh Nguyễn Trọng Thành (đang làm việc cho đài RFI, Pháp) đã có những buổi điện đàm thật chí tình về chủ đề thời gian trong tiếng Việt (đặc biệt qua cách dùng sẽ), và là một tác động lớn trong quá trình soạn bài viết phần 16 này. Hi vọng các cách nhìn tiếng Việt (đồng đại) từ Úc châu và Âu châu sẽ cho ra nhiều kết quả thú vị khi xem lại ngữ pháp tiếng Việt từ trục thời gian (lịch đại).
1. LM de Rhodes ghi lại các thì khá rõ trong BBC và VBL (1651)
Trong BBC phần "Về các động từ", LM de Rhodes đã phân biệt năm cách dùng thì (thì ~ tempus tiếng La Tinh ~ tense/A) bằng phương pháp thêm phụ từ (particula tiếng La Tinh ~ tiếng đệm vào) vào các động từ như đã, sẽ, mắc - VBL thì ghi thêm phụ từ (particula tiếng La Tinh ~ tiếng đệm vào ~ particle/A) đang (đang ăn, còn đang cày) để diễn tả hành động đang xẩy ra (nhưng lại không được BBC ghi lại). Sự phân biệt trên dựa hoàn toàn vào ngữ pháp La Tinh, thuộc ngữ hệ La Mã (Romance language/A), mà LM de Rhodes đã từng được huấn luyện rất kỹ trước khi khởi hành qua Viễn Đông để giảng đạo. Có nhiều phương pháp thể hiện các thì trong ngữ pháp: từ cách chia động từ (conjugation of verb, hay thay đổi hình thái của động từ - như trong ngữ hệ Ấn-Âu) đến thêm vào một số phụ từ để chỉ trạng thái thời gian (quá khứ/tương lai như tiếng Trung Hoa, Nhật, Việt ...). Ta hãy xem qua các cách thể hiện các thì này vào thời LM dòng Tên Alexandre de Rhodes qua An Nam truyền đạo.
1.1 Cách chia thì trong tiếng La Tinh
Bảng tóm tắt sau cho thấy cách chia thì trong tiếng La Tinh: trục ngang cho thấy thời gian (time/A - quá khứ/past, hiện tại/present và tương lai/future), còn trục đứng cho thấy thể (aspect/A - tình trạng của hành động như hoàn thành hay chưa hoàn thành, lặp lại ...v.v…).
|
PAST TIME
|
PRESENT TIME
|
FUTURE TIME
|
IMPERFECTIVE ASPECT
|
(Past) Imperfect
|
(Imperfect) Present
|
(Imperfect) Future
|
SIMPLE ASPECT
|
Simple Past
|
Present
|
Future
|
PERFECTIVE ASPECT
|
Pluperfect (past perfect)
|
(Present) Perfect
|
Future Perfect
|
Thí dụ như tiếng La Tinh có động từ canere hay cano là ca (hát, gốc của động từ tiếng Pháp chanter), có những dạng tuỳ theo chín (9) thì gồm thời gian và thể như bảng tóm tắt sau - để ý sing là động từ tiếng Anh (nghĩa là ca/hát) không theo quy tắc chung trong các dạng thuộc quá khứ (thêm hậu tố/suffix -ed vào sau động từ) mà trở thành sang và sung.
|
quá khứ
|
HIỆN TẠI
|
TƯƠNG LAI
|
CHƯA HOÀN THÀNH
|
(Past) Imperfect cantabam "I was singing"
|
(Imperfect) Present canto (tôi đang ca) "I am singing"
|
(Imperfect) Future cantabo "I will be singing"
|
THỂ ĐƠN
|
Simple Past cantavi (tôi đã ca) "I sang"
|
Present canto (tôi ca) "I sing"
|
Future cantabo (tôi sẽ ca) "I will sing"
|
HOÀN THÀNH
|
Pluperfect cantaveram "I had sung"
|
(Present) Perfect cantavi "I have sung"
|
Future Perfect cantavero "I will have sung"
|
1.2 Năm thì của tiếng Việt theo LM de Rhodes
Khi học tiếng Việt, các giáo sĩ nhận ra ngay các từ đã, đang và sẽ dùng cho quá khứ, hiện tại và tương lai - hay là ba thì cơ bản. Sau đó là thì quá khứ hoàn thành (preterite perfectum/L) và thì quá khứ chưa hoàn thành (preterite imperfectum), những khác biệt dễ nhận ra khi so sánh ngữ pháp La Tinh và Việt là động từ tiếng Việt không thay đổi trong các thì này. BBC ghi năm thì của tiếng Việt:
a) thì hiện tại (præsens/L), không cần phải thêm phụ từ nào và đôi khi cũng có như "Tôi mạc việc bây giờ". Nhận xét của BBC đáng chú ý: không cần phải thêm từ nào cho thì hiện tại. Thật ra, nhận xét này cũng có thể ứng dụng cho thì tương lai và quá khứ: tác giả Gabriel Aubaret đưa ra một thí dụ "Ngày mai tôi đi" trong Grammaire Annamite, trang 42 (1867):
b) thì quá khứ chưa hoàn thành (præt. imperfectum/L) "Hôm qua tôi mạc chép thư, nói chẳng được" (mạc/BBC là mắc/VBL, VBL trang 444 cũng cho thí dụ "mắc việc")
c) thì quá khứ hoàn thành (pært. perfectum/L) như "đã về", "đã nói". VBL còn thêm cách dùng "đã làm", và còn ghi nghĩa khác hơn khi đã đứng sau như "làm đã" (hàm ý chưa làm, để làm xong rồi mới làm việc mới ...).
d) thì tiền quá khứ (plus quam perfectum/L) "Hôm kia khi oũ đến đã chép thư đoạn" (hôm kia khi ông đến thì tôi đã viết thư xong rồi)
e) thì tương lai (futurum/L) như "sẽ đi".
Tóm tắt lại các nhận xét cách đây gần 4 thế kỉ của LM de Rhodes: nghĩa một câu thay đổi khi "đã" đứng ở những vị trí khác trong một câu, động từ tiếng Việt không thay đổi và các phụ từ thêm vào trong câu (đã/đang/sẽ ...) để tạo thành các thì. Sau này LM Taberd giải thích rõ hơn về năm thì của tiếng Việt - trích từ cuốn "Dictionarium Latino-Anamiticum" (1838, để ý chữ Anam/Anamiticum chỉ có một phụ âm n) - xem hình chụp bên dưới. Cả hai vị đều không nhắc đến thì hiện tại tiếp diễn, hậu quả của sự đồng nhất của hai thì hiện tại đơn và hiện tại tiếp diễn trong ngữ pháp La Tinh - xem bảng chia thì tiếng La Tinh ở trang trước.

|