tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
04.12.2009
Lương Văn Hồng
Nobel văn học (9)

 NOBEL Văn học 1926: GRAZIA  DELEDDA (1871-1936)


Grazia Deledda là nữ tiểu thuyết gia Italia. Bà sinh trưởng trong một gia đình giàu có ở Nuoro vùng Sardegna, cha là luật sư, ba lần được bầu làm thị trưởng. Cô bé Grazia thích sách văn học. Tám tuổi cô bé đã làm thơ, viết truyện ngắn.  Mười lăm tuổi, cô đã có truyện  Giọt máu Sardegna đăng trên một tạp chí thời trang. Những tác phẩm đầu tay của Deledda  như tập truyện ngắn Tình yêu hoàng tộc (Amore regale, 1891), Bông hoa vùng Sardegna (Fior di Sardegna, 1892) miêu tả cuộc sống tinh thần khắc khổ ở Sardaigne,quê hương bà, xoay quanh chủ đề tội lỗi và ân hận, gợi lên,  theo “chủ nghĩa tự nhiên “cuộc đời tinh thần và vật chất của những nhân vật mang bản năng nguyên thủy. Cùng nguồn cảm hứng có: tiểu thuyết Tro tàn   (Cenere ,1904- dựng thành phim năm 1916) và  tiểu thuyết  Những cây sậy trước gió (Canne al vento ,1913). Năm  1920,  bà theo chồng đi Roma , và ở đó cho đến khi qua đời. Tiểu thuyết Bí mật của con người cô độc (ll segreto dell’uomo solitario ,1921) và tiểu thuyết  Annalena Bilsini (1927) thể hiện tài năng của nhà văn trong việc hòa nhập nội tâm và bi kịch bí ẩn của nhân vật muôn màu của thiên nhiên.


Bước đường thành công của Grazia Deledda bắt đầu với tiểu thuyết Elias Pprtolu (1903). Bà thực sự nổi tiếng với tiểu thuyết Người mẹ  (La mardre, 1920) kể về một linh mục quyết tâm dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa và cho người mẹ của mình. Toàn bộ cuộc đời và tư tưởng của Grazie Deledda thể hiện trong tiểu thuyết tự truyện Cosima (1937- in sau khi bà đã qua đời năm 1936). Grazia Deledda viết nhanh và viết nhiều. Bà chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học hiện thực ở nhiều nước châu Âu như Pháp, Đức v.v. cuối thế kỷ XIX..  Bà nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1926, vì những tiểu thuyết của bà thể hiện đời sống cơ cực, tinh thần đấu tranh anh dũng của người dân quê mình – người dân vùng Sardegna với phảng phất tinh thần cao cả cổ xưa trong kinh Cựu ước  (nhiều khi buồn nhưng không bi quan- lời phát biểu của đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển).


 


NOBEL Văn học 1927: HENRY  BERGSON (1859-1941)


Henri Bergson là con một nhạc sĩ Do Thái quốc tịch Anh, mẹ là người Anh. Henri Bergson sinh ngày 18.10.1859 ở Paris, Pháp. Ông  là nhà triết học Pháp gốc Do Thái, cha đẻ của thuyết Trực giác (intuitionism) - một học thuyết chỉ cho thấy:  ngày nay, thông thường chúng ta nhận biết sự vật qua tư duy lôgíc của  khoa học hiện đại, có những sự vật chúng ta chỉ có thể nhận biết nó qua khả năng trực cảm, hay qua chiêm nghiệm tôn giáo.  Sau khi tốt nghiệp trường Đại học sư phạm Paris, ông dạy học ở Clermont. Năm 1900, ông là giáo sư triết học ở trường Đại học quốc gia Pháp (Collège de France). Triết học của ông có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức, đến văn học, triết học Pháp và  phương Tây đầu thế kỷ XX. Bergson bác bỏ nhận thức duy lý, bác bỏ nhận thức khoa học, không quan tâm đến những vấn đề xã hội và kinh tế.  Bergson cho rằng, khoa học (hiện đại) bất lực không đi vào được những trạng thái của ý thức. Có những hiện tượng không thể nhận biết bằng giải thích, phân tích khoa học, nhưng có thể nhận biết bằng khả năng trực cảm, bằng chiêm nghiệm. Theo Bergson chỉ có trực giác (intuition: trực giác, sự hiểu biết qua trực cảm, khả năng trực cảm/ linh tính, linh cảm)  mới thâm nhập vào ý thức, mới nắm được những hiện tượng luôn luôn biến chuyển của sự sống và ý thức. Bergson cho rằng, chỉ có “thời gian trực cảm” của đời sống  mới đi  vào được bản chất của cuộc sống, bởi vì chỉ ở đó mới có sự sáng tạo, mới biểu hiện cái tôi sâu sắc, “cái tôi thật”, khác với “cái tôi xã hội”. Chính từ cái nhìn đó, Bergson cho rằng “*đà sống- ngọn lửa sự sống” là động lực sáng tạo ra hiện thực vật chất và tinh thần.


Những tác phẩm chính của Bergson “Vật chất và ghi nhớ” (Matière et Mémoire, 1896); “Cảo luận về những dữ kiện trực tiếp của lương tri” (Essai sur les données immediates de la Conscience, 1889);  “Sự biến hóa sáng tạo” (L’evolution créatrice, 1907); “Hai nguồn của đạo đức và tôn giáo” (Les deux sources de la morale et de la religion, 1932). “Thời gian trực cảm và tính đồng thời” (1922).


Năm 1914, Bergson là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp.  Ông nhận giải Nobel văn chương năm 1927 vìsự nghiệp nghiên cứu văn học và triết học. Thuyết trực giác do ông đề xướngảnh hưởng lớn đến văn học và triết học Pháp và phương Tây.


* Tham khảo sách “Khí”,chủ biên Trương Lập Văn, NXB KHXH, Hà Nội, 2000, 699 trang.


                      Không nên “đeo kính”


Muốn bắt gặp chân lý tuyệt đối- theo Bergson thì:


Phải gạt bỏ ngay hệ thống tư tưởng đã được nhồi nhét trong óc chúng ta


Phải căn cứ trên “trực giác”


-  Trực giác này do lương tri của chúng ta cho chúng ta mỗi khi chúng ta đứng trước một sự vật, không cần phải lý luận nhiều.


Bergson biện luận, chúng ta đứng trước bức tường trắng (chân lý). Người này thấy bức tường màu đỏ, người khác thấy bức tường màu vàng. Nghĩa là người này đeo kính đỏ, người khác đeo kính vàng. Muốn thấy đúng màu trắng của bức tường thì phải vứt bỏ kính đi (hệ thống tư tưởng đã bị nhồi nhét trong óc), nhìn bức tường trực tiếp bằng cặp mắt trời cho.   Khi ấy, ta thấy bức tường mầu trắng.                     


                            Đi vòng quanh hay đi vào trong


Bergson cho rằng: Có hai cách khác nhau để hiểu biết một vật. Cách thứ nhất là chúng ta đi quanh sự vật. Tri thức nhận được chỉ mang tính tương đối vì tri thứ này tùy thuộc chỗ chúng ta đứng để quan sát.   Cách thứ hai  là chúng ta đi vào trong sự vật, tri thức nhận được mang tính tuyệt đối, vì ta khắc phục được  những giới hạn của một phối cảnh cụ thể nào đó, chúng ta lĩnh hội được sự vật đúng theo thực chất của nó.


                     Lợi và hại của sự tăng trưởng phúc lợi vật chất


Văn phong  sáng sủa, chính xác và uyển chuyển, đầy chất thơ ta thấy rõ trong những tác phẩm Henri Bergson.  Ông thường sử dụng hình tượng để diễn đạt tư tưởng của mình, để thông qua đó kêu gọi sự cộng tác của người đọc.  Khảo luận “Tiến hóa  sáng tạo”   (L’Evolution créatrice, 1907)  của Bergson là cuộc cách mạng mang tính thời đại, trong tác phẩm thể hiện rõ sự quan tâm đến giá trị và tính duy nhất không thể thay thế của cá nhân con người.   Cái gì cũng có hai mặt, sướng sẽ lười, nghèo phải chịu khó. Kẻ lười sẽ thua kẻ chịu khó. Bergson đã nhận thấy:


-  Kinh nghiệm lịch sử cho thấy sự phát triển công nghệ của xã hội không bảo đảm sự hoàn thiện đạo đức của con người sống trong xã hội đó.  Sự tăng trưởng phúc lợi vật chất  thậm chí là nguy hiểm nếu nó không được kèm theo những nỗ lực tinh thần thích hợp.


Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »