tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
11.12.2009
Lương Văn Hồng
Noben văn học (13)

NOBEL Văn học 1933: IVAN  ALEXJEWITH BUMIN  (1870-1953)


Alex Ivan Bunin là nhà văn, nhà thơ Nga .Ông sinh trong  một gia đình quý tộc sa sút thuộc dòng họ có nhiều người nổi tiếng trên lĩnh vực chính trị và nghệ thuật. Bunin làm thơ viết văn khá sớm.


Bài thơ đầu tiên của ông là bài thơ Bên mộ (nhà thơ Nga) Nadson. Năm 1891 ông xuất bản tập thơ đầu với tên Những bài thơ. Truyện ngắn đầu tay Tanka in năm 1894. Tập truyện ngắn về sự suy tàn của tầng lớp quý tộc và cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác  in năm 1897 là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Tác phẩm của Bunin không đề cập  đến các vấn đề chính trị, ông quan tâm nhiều đến các vấn đề tâm lý, tôn giáo, đạo đức, lịch sử. Ông đi du lịch nhiều nơi trong nước Nga, các nước khác như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Palestin, Tunisia, Ai Cập v.v. Năm 1909 ông được bầu làm viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Nga .  Bunin nổi tiếng với thiên truyện xuất bản năm 1910: Làng quê – một bức tranh chân thực về cuộc sống nông thôn nước Nga . Bunin di cư sang Pháp năm 1920. Thời kỳ sống ở Pháp cho đến khi trút hơi thở cuối cùng ở Paris, Bunin có những sáng tác đáng lưu ý như tập truyện Hoa hồng của Yerikhon (1924); truyện vừa Tình yêu của Mitia (1926);truyện Say nắng (1927); chùm truyện  Những con đường rợp bóng cây (1943). Ivan  Bunin  là đại biểu lớn cuối cùng của chủ nghĩa hiện  thực  phê phán Nga đầu thế kỷ XX. Ông nhận giải Nobel văn học năm 1933 vì những tác phẩm của ông phản ánh chân thực sự tan rã của chế độ gia trưởng, cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga trong khỏang giao thời cuối thế kỷ XIX  tới trước cách mạng tháng mười đầu thế kỷ XX.


                            Cái cao quý của giải Nobel văn học


Hình như Paris được xây dựng để làm kinh đô của văn học nghệ thuật thế giới. Từ khắp bốn phương trời, văn nghệ sĩ tới đây trú ngụ, ganh tài với nhau  với những trường phái khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Tất cả tồn tại an vui bên nhau trên đất Paris.


Bunin cũng vậy.  Một người mẫn cảm an vui ở Paris, nhưng  hòai niệm cố hương vẫn ở bên anh ta:  nỗi buồn nhiều hơn niềm vui. Trong lễ nhận giải, Bunin nói:


-   Sự thực tôi là ai?  Một kẻ lưu vong được hưởng lòng hiếu khách của nước Pháp, tôi mang món nợ vĩnh viễn của lòng biết ơn...


Sự lựa chọn của quý vị (ban giám khảo) tự thân đã là một cử chỉ của cái đẹp lớn lao...


Nhữnng người ngồi đây đều đại diện cho những khác biệt về quan điểm, về những tín điều triết học và tôn giáo. Nhưng chúng ta được thống nhất bởi một chân lý: tự do của tư duy và tự do tín ngưỡng...


Lựa chọn của quý vị thêm một lần nữa chứng tỏ ở Thụy Điển tình yêu tự do thực sự là một sự tôn thờ mang tính quốc gia.


 


NOBEL Văn học 1934: LUIGI  PIRANDELLO (1867-1936)


Luigi Pirandello là nhà văn, nhà viết kịch Italia. Ông xuất thân từ một gia đình tư sản chủ mỏ lưu huỳnh. Khi còn học ở phổ thông, Pirandello đã làm thơ, viết kịch. Ông học ngữ văn ở Palermo và Roma, sau đó là ở Bonn, Đức. Tập thơ đầu tiên  Nỗi đau sung sướng (Mal giocondo) xuất bản năm 1889.Trở về Roma năm 1892, Pirandello xuất bản tập thơ  Những bi ca trên sông Rein (Elegie Renane).  Sau đó ông in tập truyện  Tình yêu không có tình yêu  (Amori senza amore, 1894).  Từ năm 1897 tới 1922, ông giảng dạy mỹ học và văn học ở Viện Magistere Femminile ở Roma.  Thơ giai đoạn đầu của Pirandello phần nhiều mang màu sắc bi quan .  Truyện và tiểu thuyết của  Pirandello  theo khuynh hướng duy thực,  đi sâu vào các vấn đề tâm lý và miêu tả nỗi đau khổ và số phận của những nhận vật đáng mến ở trong nhân dân , thích tìm những trường  hợp bệnh hoạn  như tiểu thuyết  Mattia  Pascal quá cố (Il fu Mattia Pascal, 1904);  tiểu thuyết Một, không có một và  mười vạn  (Uno,  nessuno e centomila, 1926 ).  Pirandello nổi tiếng thế giới về kịch.  Trong vòng  6  năm (1915-1921)  ông viết 16 vở kịch. Trong số đó có Nếu điều đó không như thế (Se non cosi, 1915); Thế đấy (Cosi è, 1918);  Liolà (1917);  Hãy suy nghĩ, Giacomio (Pensaci, Giacomio, 1920).  Vở kịch mang lại danh tiếng cho Pirandello không những ở Italia, mà khắp châu Âu là vở kịch Sáu nhân vật tìm tác giả  ( Sei Personaggi in cerca  d’autore , 1921 ). Vở kịch này tạo nên cú hích thúc đẩy sự phát triển sân khấu kịch hiện đại.  Từ năm 1928, Pirandello đi du lịch và sống nhiều ở nước ngoài.  Ông được trao giải thưởng Nobel văn học năm 1932, vì  những tìm tòi táo bạo và thành công trên sân khấu kịch, người biết làm một phân tích tâm lý thành một vở kịch hay –theo như nhận xét của nhiều nhà phê bình.


                   Học từ vấp ngã để vẫn giữ được là mình


Luigi Pirandello đã từng có vấp ngã do háo danh (gia nhập đảng phát xít Italia, rồi  Mussolini cho làm Giám đốc nhà hát quốc gia). Đây là một bài học trong cuộc đời của ông. Trong diễn từ ông nhắc tới sự nỗ lực của mình:


-   Để có thành công trong nỗ lực văn chương, tôi đã phải trải qua trường học cuộc đời.   Trường học đó, mặc dù đối với những bộ óc xuất chúng là vô ích, lại là thứ duy nhất giúp mở mang trí tuệ cho những người như tôi:  chăm chỉ, tập trung, kiên nhẫn.


Rồi ông nói tới kết quả có được nhờ  học được ở trường học cuộc đời:


-   Chính sự chăm chỉ không ngừng và sự chân thành sâu sắc của tôi khi học và suy xét bài học này đã làm bộc lộ đức tính khiêm nhường, một tình yêu và sự tôn trọng cuộc sống không thể thiếu  để giúp ta vượt qua nỗi cay đắng vì vỡ mộng, những kinh nghiệm đau đớn, những vết thương khủng khiếp và tất cả những lỗi lầm của sự ngây thơ  đem lại chiều sâu và giá trị cho trải nghiệm của chúng ta.  Sự giáo dục tinh thần mà tôi đã phải trả giá rất đắt này đã cho phép tôi lớn lên mà vẫn giữ được là mình.


Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »