(7) CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM-XOÀI MÚT
Tiến sĩ sử học Nguyễn Phúc Nghiệp - kết hợp các nguồn tư liệu thư tịch với nhiều đợt khảo sát tại thực địa - đã thử tái hiện diễn biến trận đánh như sau:
+ Khoảng cuối tháng 11 âm lịch (đầu tháng 1-1785), thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến vào Cửa Tiểu, ngược dòng sông Tiền, đến đóng quân tại Mỹ Tho về phía tả ngạn kinh Bảo Định (nay thuộc các phường 2 và 8, TP.Mỹ Tho, Tiền Giang). Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông từ Rạch Gầm đến Rạch Xoài Mút (RG-XM) trên sông Tiền làm trận địa mai phục công phá địch quân.
+ Rạch Gầm là một chi lưu ở về phía tả ngạn, dài khoảng 12km, đôi bờ rộng trung bình 50m, chỗ rộng nhất là đầu vàm (tức nơi hợp lưu với sông cái) là 80m. Rạch Xoài Mút cũng là một chi lưu của sông Tiền, dài khoảng 8km, chỗ rộng nhất ở đầu vàm khoảng vài chục mét (hiện nay con rạch đã bị bồi lấp dần). Cả hai con rạch này đều có cây cối rậm rạp, dân cư ít, thuận tiện cho việc bố trí chiến thuyền mai phục và bảo vệ bí mật trận địa. Nơi đây còn rất nhiều cây soạp, bần, mù u… để nghĩa quân làm bè lửa hoặc làm các chất dẫn cháy (dầu mù u, dầu dừa…).
Nguyễn Huệ chọn nơi đây làm trận địa, lý do chính có lẽ là do vị thế địa-thủy chiến lược của RG-XM đối với toàn bộ cục diện thế trận giữa quân ta và quân Xiêm trên sông Tiền từ Trà Lọt, Trà Tân – nơi chiếm đóng của quân giặc, qua RG-XM đến Mỹ Tho – đại bản doanh của Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn.
+ RG-XM cách nhau khoảng 7km và cả hai nơi này nằm giữa Trà Lọt-Trà Tân và Mỹ Tho. Đây là địa điểm lý tưởng để lập trận địa phục kích. Nếu lập trận địa phục kích gần với chỗ đóng quân của địch thì sẽ khó giữ được bí mật trận địa,,, Lòng sông từ Rạch Gầm trở ngược lên Trà Tân-Trà Lọt thì rất rộng, không thích hợp cho việc bố trí phục binh, bao vây tấn công chiến thuyền địch. Còn nếu Nguyễn Huệ cho lập trận địa phục kích quá gần với đại bản doanh của mình, tức là đoạn từ Xoài Mút tới Mỹ Tho, thì địch sẽ có sự nghi ngại và phòng bị và yếu tố bất ngờ sẽ không còn nữa.
+ Mỹ Tho cách Rạch Gầm 14km và cách Xoài Mút 7km, nghĩa là những khoảng cách khá xa, khiến địch vốn chủ quan càng thêm háo thắng, dễ bị dẫn dụ vào trận địa đã được bày sẵn. Hơn nữa, lòng sông ở đoạn này không quá rộng như ở đoạn trên (từ Rạch Gầm trở ngược lên Trà Tân-Trà Lọt) hoặc quá hẹp như ở đoạn dưới (từ rạch Xoài Mút xuôi xuống Mỹ Tho). Đặc biệt giữa dòng sông ở đoạn RG-XM có cù lao Thới Sơn án ngữ, thích hợp cho lối đánh bao vây và bịt kín tất cả các con đường mà địch có thể rút chạy. Phía sau Thới Sơn cũng được sử dụng làm nơi giấu chiến thuyền của nghĩa quân. Thêm nữa, trên cù lao, Nguyễn Huệ còn cho đặt pháo kết hợp với pháo được bố trí bí mật ở trên bờ nhằm đánh phủ đầu quân địch khi chiến thuyền của chúng lọt vào ổ phục kích.
+ Sau khi chuẩn bị về mọi mặt và bày xong thế trận, đêm 9 rạng ngày 10 tháng Chạp năm Giáp Thân (đêm 19 rạng ngày 20-1-1785), nhân nước thủy triều lên, Nguyễn Huệ cho thuyền nhẹ tiến đến nơi đóng quân ở Trà Lọt-Trà Tân khiêu chiến. Khi nước thủy triều bắt đầu rút, chiến thuyền Tây Sơn vờ thua trận, rút chạy về phía hạ lưu. Tướng giăc kiêu căng, giốc hết lực lượng đuổi theo. Khi toàn bộ 300 chiến thuyền của địch vừa lọt vào trận địa mai phục thì chiến thuyền Tây Sơn từ Rạch Gầm xông ra khóa đuôi, từ Xoài Mút và từ phía Mỹ Tho tiến chặn đầu, hình thành thế bao vây quân địch. Liền đó, pháo binh Tây Sơn từ trên bờ, trên cù lao Thới Sơn và từ các pháo thuyền nã đạn dữ dội vào đội hình thuyền chiến quân Xiêm.
+ Sau màn đánh phủ đầu, chiến thuyền Tây Sơn xông lên giáp chiến hết sức dũng mãnh. Nghĩa quân Tây Sơn dùng bè lửa và một loại vũ khí lợi hại là hỏa hổ, thực hiện lối đánh hoả công, áp đảo địch; sau đó dùng bạch khí (gươm, đao, giáo, mác…) tiêu diệt quân giặc. Đến xế chiều cùng ngày, toàn bộ 300 chiến thuyền địch bị cháy. Bọn sống sót vọt lên bờ, theo đường bộ rút chạy về nước. Quân ta thừa thắng truy kích gắt gao, quân địch bị tiêu diệt gần hết… (Tham khảo Nguyễn Phúc Nghiệp – Nguyễn Huệ đã chọn trận địa mai phục tiêu diệt quân Xiêm như thế nào? – Tạp chí Xưa và Nay, số 48B/2-1998).
Nhận định về vai trò Tây Sơn trên vùng đất Gia Định và về chiến thắng lịch sử Rạch Gầm-Xoài Mút nói riêng, tác giả Đỗ Đình Truật cho rằng:
Nếu không có một đội quân hùng mạnh của Gia Định dưới sự chỉ huy tài ba của người anh hùng áo vải, thì phải chăng Gia Định đâu còn tồn tại cho đến ngày nay?… Việc quân Xiêm đưa 30.000 binh sang chiếm vùng đất Định Tường kéo dài từ cửa sông Tiền xuống gần giáp Đồng Tháp Mười, bao vây Gia Định ở phía tây để chuẩn bị chiếm lấy Gia Định… Một bề tôi của Nguyễn Anh là Đỗ Thành Nhân nhận rõ mưu đồ này và đã can ngăn Nguyễn Anh về việc mang quân Xiêm về Gia Định: “… đưa vào thì được mà đuổi ra thì rất khó, tôi xem rằng bọn Xiêm không có thật lòng với chúng ta đâu…”. Nguyễn Anh không nghe mà còn hành quyết Đỗ Thành Nhân. Trước khi chết, Đỗ Thành Nhân nói: “Tôi chết không nhắm mắt, song hậu thế không cười tôi… (theo Gia phả họ Đỗ ở Gia Định).
Trong thư khố ở Vọng Các thuộc Hoàng gia Xiêm còn lưu giữ hàng đống hồ sơ, tư liệu về cuộc xâm lược này của đế quốc Xiêm… Vua Xiêm chỉ dụ cho Chiêu Tăng, Chiêu Sương (hai tướng tài của hoàng tộc họ Chiêu): Đem quân giúp Nguyễn Anh, nếu thấy thế lực của Anh yếu quá thì đóng quân luôn tại đó, để chờ quân Tây Sơn đến mà tiêu diệt. Khi diệt xong Tây Sơn thì Xiêm binh chiếm luôn Gia Định, thiết lập một trật tự mới do Xiêm quốc điều hành. Còn từ đất Biên Hòa bên kia sông Đồng Nai giao cho Nguyễn Anh và Tây Sơn. Lúc đó quân Xiêm quốc chỉ giữ vai trò hỗ trợ.
Vẫn theo tác giả Đỗ Đình Truật: không thể có chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút nếu nhân dân Gia Định không nhận ra nguy cơ mà nhanh chóng tập hợp binh dân, hào phú, cung cấp quân lương với hàng trăm ghe thuyền nhất loạt tiến về Sầm Giang (Định Tường), bổ sung cho đoàn chiến thuyền xung kích của Tây Sơn (Ký ức về một vị anh hùng – Tạp chí Xưa và Nay, số 56B/10-1998).
(8) TRẬN PHÚ XUÂN (1786)
+ Theo TS. Đỗ Bang, “Chiến thắng Phú Xuân năm 1786 là một võ công oanh liệt của quân đội Tây Sơn có sự đóng góp do hiệu ứng khởi nghĩa của nhân dân Thuận Hóa”. Theo Thượng tá TS. Nguyễn Minh Đức: chiến thắng Phú Xuân chiếm một vị trí đặc biệt, đánh dấu bước chuyển biến căn bản chiến lược của quân đội Tây sơn mang ý nghĩa toàn quốc. Theo tác giả Phan Thuận An, chiến thắng Phú Xuân thể hiện sự sáng tạo độc đáo của quân đội Tây Sơn là “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị” với nghệ thuật sử dụng tình báo, thám tử và kế ly gián tài tình… Theo tác giả Trần Thiều, trong việc đánh thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ chú ý việc khai thác thủy triều sông Hương: Nguyễn Huệ cho quân đổ bộ đánh thành, nhưng nước trong thành quá cạn, thuyền binh khó vượt lên, trên thành quân Trịnh đạn bắn ra như mưa. Nhưng đêm đến nước triều lên, thuyền chiến có thể tiến sát chân thành, quân lính được lệnh đổ bộ thật nhanh, tấn công và vây hết các cửa thành và tràn vào thành…, quân Trịnh hoàn toàn thất bại (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
+ Về thời điểm diễn ra trận Phú Xuân năm 1786, hiện còn những ý kiến chưa thấng nhất. Tác giả Trần Viết Điền cho là ngày 20 tháng 5 năm Bính Ngọ tác giả Trần Thiều cho là ngày 18 tháng 5, tác giả PhanThuận An cho là cùng ngày với trận An Nông, tức 19 tháng 6; TS Nguyễn Minh Đức cho rằng sau khi hạ thành Phú Xuân, nghĩa quân Tây Sơn dùng cường lực phá đôn An Nôngh và kết thúc chiến dịch vào ngày 21 tháng 6 năm 1786.
+ Quân Trịnh ở Phú Xuân: Sau khi Hoàng Ngũ Phúc bị bệnh, xin về Bắc và chết dọc đường (cuối 1775), quyền lãnh đạo Phú Xuân được họ Trịnh giao cho Bùi Thế Đạt (1775-1776) rồi Phạm Ngô Cầu (1776-1786 với 3 vạn quân dưới trướng. Thời gian này, quân Trịnh lam chủ Thuận Hóa-Phú Xuân va áp dụng chính sách quân quản võ biền khắc nghiệt đối với nhân dân địa phương (Mâu thuẫn xã hội ở Thuận Hóa-Phú Xuân trước năm 1786 - (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
Theo Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), trong trận Phú Xuân “mấy vạn tướng sĩ đóng ở thành Phú Xuân đều không còn sống sót lấy một mống”
(9) NGÔ VĂN SỞ – PHAN VĂN LÂN
Ngô Văn Sở:
Có hai nhân vật mang tên Ngô Văn Sở? Cách đây trên 10 năm, ở Huế có cuộc tranh Luận vê nhân vật mang tên Ngô Văn Sở khi có người tìm thấy đên thờ và lăng mộ ở Thừa Thiên-Huế chính là Đại tư mã Ngô Văn Sở của Tây Sơn đã thoát chết sau vụ nội biến năm 1795 rồi ra đầu hàng quân Nguyễn, được vua Gia Long trọng dụng. Nhưng có ý kiến cho rằng có hai người mang tên Ngô Văn Sở sống cùng thời nhưng phục vụ hai chế độ khác nhau.
Qua sưu tầm tư liệu điền dã ở tỉnh Bình Định, tác giả Đỗ Bang đã xác định được quê quán của Đại tư mã Ngô Văn Sở ở thôn Bình Thạnh, Phường Nhơn Bình thuộc thành phố Quy Nhơn. Hiện nay còn dòng họ, từ đường, phổ đồ, tộc phổ và bản tiểu sử ở quê nhà. Đại tư mã Ngô Văn Sở có 6 bà vợ, hai con trai, hai cháu trai. Ong chết năm 1795 trong vụ biến động triều chính ở Huế (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
Có sách lại cho rằng Ngô Văn Sở quê ở làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) (Danh nhan Phan Kính – Nxb KHXH, Hà Nội 1999, tr.198).
Vẫn theo TS.Đỗ Bang, “bản tiểu sử” cho biết: Ngô Văn Sở hưởng ứng hiệu triệu của ba anh em Tây Sơn,lên tòng quân ở núi Tây Sơn rôi theo đoàn quân Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra trú ở Thuận Hóa. Sau khi Ng6 Văn Sở bị giết thảm hại, gia đinh vợ con ông ở lại Bắc Ninh, không con liên lạc với ba con ở Binh Định nữa. Từ ngay tham gia phong trào Tây Sơn, Ngô Văn Sở trở thành vị tướng lĩnh tài ba, đánh quân Nguyễn ở phía nam với các trận ở Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận (1773), theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Anh ở Gia Định (1783), đánh quân Trịnh ở phí bác (1786, là thuộc tướng của Vũ Văn Nhậm. Sau khi Vũ Văn Nhậm làm phản, Ngô Văn Sở được Nguyễn Huệ giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc hà cùng một số quan tưóng khác.
Cuối năm 1788, khi quân Thanh tràn qua biên giới xâm lược nước ta, Ngô Văn Sở đem quân đánh cầm chân địch rôi cùng rút về giữ Tam Điệp rồi cử đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ.
Năm 1790, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung cầm đầu đoàn sứ giả cùng giả vương Quang Trung (Phạm Công Trị) sang Yên Kinh mừng thọ Càn Long 80 tuổi. Trở về, ông tiếp tục phụ trách 11 trấn Bắc thành cho đến thời Cảnh Thịnh.
Năm 1795, vụ biến ở kinh đô Phú Xuân do phe phái Võ Văn Dũng buộc vua Cảnh Thịnh bắt nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau khi Bùi Đắc Tuyên bị nhấn chìm chết, Võ Văn Dũng làm giả chiếu lệnh của tiết chế Nguyễn Văn Thùy sai ngươi bắt Ngô Văn Sơ giải về kinh, cho rằng ông cùng phe phái của Bùi Đắc Tuyên, khép ông vào tội phản nghịch, dim xuống nước mà chết (Góp thêm tư liệu để làm sáng tỏ danh tướng Ngô Văn Sở thời Tây Sơn – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
. Theo chúng tôi, có lẽ vấn đề nguyên quán và thân thế Ngô Văn Sở cần được tiếp tục tìm hiểu thêm.
Lại có một “Ngô Văn Sở” khác, được chép trong Đại Nam chính biên liệt truyện như sau: “Ngô Văn Sở, trước người huyện Đăng Xương phủ Thừa Thiên, sau vào ngụ ở Gia Định. Lúc đầu theo ngụy triêu giữ chức dô úy, sau đầu hàng theo quân đi đánh giặc. Do lập nhiều chiến công nên thăng chức vệ úy vệ Hùng Nhuệ. Năm Kỷ Mùi [1799] theo Võ Tánh giữ thành Binh Định. Khi tướng giặc là Trần Quang Diệu vây thành, các hàng tướng là Võ Văn Sự, Nguyễn Ba Phong mở cửa Bắc ra hang giặc. Tánh sai Sở chặn cửa thành lại. Tư đó, những kẻ phản bội không dám ra nữa. Khi thành bị chiếm, Sở trốn về triều. Vào thời Gia Long, thăng Khâm sai chưởng cơ,lãnh quản đạo Thanh Hoa ngoại, có tội bị cách chức rôi chết. Năm Minh Mạng thứ ba [1822] truy phục chức chưởng cơ. Lại hậu ban cho con cháu…” (một người con gái của Ngô Văn Sở là Hiên phi Ngô Thị Chính, được vào nội cung của vua Minh Mạng) (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn – đã dẫn).
Phan Văn Lân:
Cho đến nay, vấn đề nguyên quán, dòng họ, thân thế và những năm tháng cuối đời của Phan Văn Lân vẫn còn là những dấu hỏi lớn đối với giới nghiên cứu. Trong cuốn sách Các ngôi sao Tây Sơn, tác giả Nguyễn Xuân Nhân cũng cho rằng: “Phan Văn Lân khi đến với Tây Sơn tam kiệt cũng như khi rời bỏ việc binh nhung lúc Gia Long lên ngôi vua đều không ai biết: từ đâu đến? rồi đi đâu?” (Nxb Văn Nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 2001).
Dựa theo các nguồn tư liệu trong sách Danh nhan Phan Kính (đã dẫn), kết hợp với nguồn tư liệu thực địa mà chúng tôi may mắn được nhà nghiên cứu Trần Ngọc Anh cung cấp, có thể rút ra một vài kết luận bước đầu:
Phan Văn Lân sinh năm Canh Thìn (1730), được đặt tên là Phan Đông Hy, biệt hiệu Tốn Trai, là con trưởng của Phan Chu (tức Phan Lang, hoặc Phan Long) và là cháu đích tôn của thám hoa Phan Kính. Bà vợ của Phan Kính là Nguyễn Thị Dinh, là chị ruột của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, do vậy Nguyễn Thiếp cũng là ông cậu ruột của Phan Văn Lân.
Khi đi theo Tây Sơn, Phan Văn Lân vừa tròn 32 tuổi. Cuối năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Thiếp cử hai cha con Phan Chu và Phan Văn Lân thay mặt mình vào Phú Xuân tạ ơn Nguyễn Huệ. Sau đó, Phan Chu trở lại Nghệ An, còn Phan Văn Lân được Nguyễn Huệ tin dùng và cùng với Ngô Văn Sở trở thành hai viên tướng trụ cột của Nguyễn Huệ.
Sau khi Quang Trung mất, Cảnh Thịnh triệu hồi Ngô Văn Sở về Phú Xuân và sát hại. Bấy giờ Nội hầu Phan Văn Lân đang trấn giữ vùng biên cương phía bắc, nhưng cũng từ đó, sử sách không ghi chép gì thêm về tung tích Phan Văn Lân.
Thời gian gần đây, nhiều nguồn tư liệu địa phương (bao gồm các văn bản, văn tế, văn bia, lăng mộ, đền thờ, đồ tế tự v.v…) lần lượt được sưu tầm, phát hiện; nhờ vậy tung tích Phan Văn Lân cũng ngày thêm sáng rõ. Sau đây là một số chứng cứ:
+ Sách Can Lộc phong thổ chí chép: Đền “Voi Mẹp” [trước cổng đền có hai con voi chầu, tạc bằng hai khối đá lớn, ở tư thế quỳ rạp xuống (mẹp)], thuộc làng Vĩnh Gia (nay là xã Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) thờ ba vị Phan Kính, Phan Long (tức Phan Chu) và Phan Lân (tức Phan Văn Lân). Những chi tiết này đã được dịch và công bố trong sách Địa chí Can Lộc, do Uy ban Nhân dân huyện Can Lộc xuất bản năm 1999, với một bảng thống kê chi tiết các “Cơ sở thờ phụng-Tôn giáo-Đình-Đền-Từ-Miếu” (tr.395), trong đó có đền “Voi Mẹp” (số thứ tự 67): “Đền Vĩnh Gia-Voi Mẹp-Song Lộc – Thám hoa Phan Kính, Phan Long, Phan Lân”.
+ Tại Từ đường họ Phan (cũng thuộc làng Vĩnh Gia) còn lưu giữ một câu đối xưa:
“Nhất môn hàn mặc gia nguyên tử” (Một nhà nghiên bút có đứa con đầu)
“Tam thế hoàn thân quốc tận thần” (Ba đời làm tôi giữ nước tận trung).
+ Bài Văn tế tại Từ đường này, do hậu duệ đời thứ 6 của Phan Kính là Phan Nguyên Trữu soạn (dựa theo nội dung của 20 đạo sắc phong) có đoạn: “(…) Thượng trụ quốc, thượng trật Trà Lĩnh hầu Phan tướng công, tự Đông Hy, hiệu Tốn Trai tiên sinh”.
+ Trong dân gian vùng Can Lộc truyền tụng rằng: Nhân dịp Thám hoa Phan Kính vinh quy bái tổ, dân trong vùng vào rừng Trà Lĩnh (Trường Sơn) cách làng Vĩnh Gia khoảng 8km, đốn gỗ qúy xây 5 toà nhà (mỗi tòa 5 gian) để mừng Phan Kính, gọi là “tư dinh Cụ Thám” (nay vẫn còn địa danh “Xóm Dinh”). Bốn mươi năm sau, trên đường đi theo đạo quân do Quang Trung trực tiếp chỉ huy ra Bắc đại phá quân Thanh, do nhu cầu cấp bách, khi đạo quân đi qua quê mình, Phan Văn Lân đã ra lệnh phá dỡ toàn bộ “tư dinh” của ông nội, đốt lấy than làm nhiên liệu chế súng phóng hoả (hỏa hổ) phục vụ cuộc tiến quân thần tốc.
+ Về những năm tháng cuối đời của Phan Văn Lân, vẫn theo các nguồn tư liệu nói trên, trước cái chết thảm khốc của Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân bí mật rời nhiệm sở, thay hình đổi dạng, trốn về Hà Tĩnh, ẩn náu tại nhà một người thông gia ở xã Đan Hải (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), giả dạng ngư dân. Có lúc ông băng qua Truông Hống (trên dãy Hồng Lĩnh) lén lút về thăm làng Vĩnh Gia (Can Lộc). Mãi về sau, dưới triều Nguyễn, khi sự truy lùng các tướng lĩnh Tây Sơn đã bớt căng thẳng, Phan Văn Lân trở về làng Vĩnh Gia cho đến khi ông qua đời vào ngày 24-5-1830 (Canh Dần), thọ 70 tuổi.
Hiện nay, lăng mộ Phan Văn Lân tọa lạc tại Đồng Cồn Chòi (Vĩnh Gia). Bia mộ ghi rõ: “Lăng Trà Lĩnh hầu, Tả tướng quân Phan Tộc Vĩnh Gia”. Tại Phường 4, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường mang tên “Phan Văn Lân”.
(10) AI THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN HUỆ HAY NGUYỄN ÁNH?
+ Ý kiến của Nguyễn Phương: “Nguyễn Ánh là cha đẻ của nước Việt Nam”, là “người tiêu biểu cho tinh thần ái quốc”, “là một anh hùng dân tộc”. Và tác giả khẳng định: “Nếu Nguyễn Ánh không còn có công nào khác – mà thực sự còn nhiều – ngoài công cuộc thống nhất Việt Nam, thống nhất lãnh thổ và tinh thần ái quốc, thì với bấy nhiêu thiết tưởng ông đã đủ đáng được mọi người dân Việt Nam biết ơn rồi vậy”. So sánh với Nguyễn Huệ, tác giả viết: “Chẳng những Nguyễn Huệ chưa phục vụ gì cho việc thống nhất, mà trái lại đã giúp đắc lực vào việc chia cắt đất nước ra một cách sâu xa hơn thời Trịnh Nguyễn”. Còn Nguyễn Ánh “chẳng những đã thống nhất Việt Nam về địa lý mà còn thống nhất về tinh thần ái quốc” (Tạp chí Bách Khoa, số 149).
+ Ý kiến Tân Việt Điểu: Tác giả có thừa nhận chút ít đóng góp của Tây Sơn khi cho rằng: “Tây Sơn là những tay thợ đã dọn quang đãng những chướng ngại vật để sau này Gia Long thênh thang đi đến thống nhất”, nhưng lại khẳng định: “Nguyễn Ánh mới là người đem tất cả tâm huyết, tất cả tài đức ra để thống nhất nước Việt… Sở dĩ Nguyễn Ánh thắng được Cảnh Thịnh, một phần lớn là nhờ vào cái địa thế “phụng chử lân chầu” và “long bàn hổ cứ” của miền Nam rất thuận lợi để làm bàn đạp cho cuộc Bắc tiến, nhằm mục đích thống nhất lãnh thổ” (Văn Hóa nguyệt san, số 64).
+ Ý kiến Tạ Chí Đại Trường: Vận dụng luận điểm “sức mạnh Nam hà kết hợp với sức mạnh Tây phương”, tác giả giải thích: “Trong lịch sử của họ, Tây Sơn đã xô đổ được Nam hà, rồi không tìm được đồng minh bên ngoài, bên trong lại hãnh diện về sức mạnh quân lực, họ không tìm được cách tổ chức khai thác những khả năng địa phương để tâm phục lâu dài dân chúng. Quay ra Bắc hà, họ lại chui đầu vào trong cái rối rắm mà người trước đã gỡ không ra vì sự cằn cỗi của đất đai, vì không khí bảo thủ lâu đời khó tẩy xóa của sinh hoạt vua quan, dân chúng”.
Cho nên, theo tác giả, cái ngày Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, chiếm được Bắc hà cũng là ngày “đóng hết một giai đoạn rối rắm, tàn bạo”. Và tác giả gói ghém ý tưởng của mình như sau: “Ngày 20 tháng 7, Nguyễn Ánh ra tới Thăng Long, đặt chân lên nơi mà hơn 200 năm trước tổ tiên ông phải giả tiếng mới về Nam được. Thăng Long, Thanh Hóa, Phú Xuân, Gia Định, rồi nối vòng Gia Định, Phú Xuân, Thăng Long, con đường thật dài, thật đầy gian nan cực nhọc mà cũng đầy vinh quang. Đất nước mệt mỏi vì chiến tranh, nay đã tìm được đường thoát trong thống nhất, yên nghỉ…” (Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802 – Sài Gòn, 1971).
+ Ý kiến Lê Thành Khôi: Năm 1955, trong cuốn Le Việt Nam, histoire et civilisation xuất bản ở Paris, tác giả cho rằng phong trào Tây Sơn “chỉ mới dọn đường cho sự khôi phục nền thống nhất dân tộc mà Nguyễn Ánh sẽ thực sự hoàn thành vào đầu thế kỷ XIX”. Vẫn theo tác giả, “một nước gọi là thống nhất khi chỉ có một chính quyền trong bờ cõi”.
Từ luận điểm trên, tác giả đối chiếu các niên đại và thấy rằng: năm 1786 tồn tại 4 chính quyền (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và vua Lê), năm 1788 tồn tại 3 chính quyền (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh), năm 1794 vẫn còn hai chính quyền (Nguyễn Quang Toản và Nguyễn Ánh), đến năm 1802 “Gia Long thắng Cảnh Thịnh, chỉ còn một chính quyền của nhà Nguyễn, lúc bấy giờ nước Việt Nam mới thống nhất”.
Năm 1981, Lê Thành Khôi tái bản cuốn sách trên với nhiều bổ sung, đổi tên sách là Histoire du Vietnam des origines à 1858 và vẫn giữ luận điểm cũ khi tác giả viết: “Nếu chỉ cần vượt giới tuyến là thống nhất đất nước rồi, thì công lao đó phải thuộc về họ Trịnh khi quân Trịnh vượt sông Gianh năm 1774 và vào Huế năm 1775”, và “[thời Tây Sơn] không những đất nước chưa trở lại hòa bình thống nhất, mà nội chiến vẫn tiếp tục khi ở Bắc khi ở Nam, và thanh niên lại đổ máu”. Cuối cùng, “sự bất hòa của anh em Tây Sơn đã cho phép Nguyễn Ánh trở về Gia Định và tổ chức việc khôi phục nhà nước của mình. Cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm máu, khi thắng khi bại diễn ra trong 15 năm trước khi kết thúc vào năm 1802 với thắng lợi của họ Nguyễn và sự thống nhất hoàn toàn nước Việt Nam”.
+ Ý kiến PTS. Đỗ Bang: “Nguyễn Huệ, lãnh tụ của phong trào Tây Sơn, sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Xiêm (1785) đã đi từ Nam ra Bắc bằng sự nghiệp vượt sông Gianh năm 1786, xóa bỏ Đàng trong và Đàng ngoài, thủ tiêu chế độ thống trị của hai họ Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước. Nguyễn Huệ có nhiều nỗ lực củng cố nền thống nhất và nền độc lập dân tộc trong những năm sau đó, nhưng vẫn không vượt qua được những hạn chế phân phong nghiệt ngã trong nội bộ vương triều Tây Sơn, và cũng là cơ hội để Nguyễn Ánh trở lại củng cố thế lực ở đất Gia Định.
Sau ngày Quang Trung chết (1792), thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, năm 1801 chiếm Phú Xuân. Năm 1802, Nguyễn Ánh ra Bắc tiêu diệt lực lượng Tây Sơn còn lại, hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước. Vậy thống nhất đất nước là một quá trình đấu tranh gay go, mà sự kiện xóa bỏ Đàng trong, Đàng ngoài năm 1786 là sự kiện vĩ đại và có ý nghĩa nhất. Sự kiện năm 1802 là sự kiện kết thúc, hoàn thành công cuộc thống nhất.
Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh là hai đối thủ không đội trời chung, nhưng cùng chung số mệnh là đấu tranh “thống nhất sơn hà”, thực hiện niềm khát vọng của nhân dân sau hơn 200 năm nội chiến, chia cắt…” (Sách đã dẫn).
Trong Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hóa thời Tây sơn” (Huế, tháng 12-2001), tác giả Đỗ Bang nói rõ thêm: “[từ Phú Xuân-Thuận Hóa] phong trào Tây Sơn lớn mạnh phát triển ra toàn quốc, đã xóa bỏ chế độ thống trị vua Lê-chúa Trịnh, chấm dứt tình trạng cát cứ Đàng Trong-Đàng Ngoài, lập lại nền thống nhất đất nước, quét sạch 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789)”. Ở một đọan khác, tác giả dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Lê Qúy Thi cho rằng: việc Nguyễn Huệ vượt qua sông Gianh ra Đàng Ngoài “là một hành động hợp với quy luật lịch sử, cũng là một hành động vượt qua chính mình của cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn”.
+ Ý kiến GS. Phan Huy Lê: Khái quát toàn bộ sự nghiệp của phong trào Tây Sơn, tác giả viết: “Đó là sự nghiệp lật đổ chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền chúa Trịnh cùng chế độ vua Lê-chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh tan quân xâm lược Xiêm ở phía nam, quân xâm lược Thanh ở phiá bắc, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước kéo dài trên hai thế kỷ, bước đầu lập lại nền thống nhất quốc gia, xây dựng vương triều Tây Sơn trong đó triều Quang Trung đã đề ra và thực thi nhiều chính sách tích cực…” (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
+ Ý kiến Nhà nghiên cứu Phan Thuận An: “Nguyễn Huệ, người anh hùng kiệt xuất của thời đại ấy đã lần lượt phá tan từng mảng xã hội mâu thuẫn, bất công, nhiễu nhương từ Nam ra Bắc để bước đầu đưa đất nước đến chỗ thống nhất” (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
+ Ý kiến GS. Trần Văn Giàu: “Phần đóng góp của Nguyễn Huệ vào hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam là ý thức về sự nghiệp thống nhất nước nhà (…). Từ năm 1527, Đại Việt bị phân liệt. Tình trạng phân liệt kéo dài đến gần cuối thế kỷ18, hơn 200 năm (…). Mạc, Trịnh, Nguyễn, không ai có tư tưởng thống nhất, tất cả họ chỉ có ý đồ xâm chiếm lẫn nhau. Cứ như thế ấy thì cái họa xâm lăng ắt khó tránh. Nội chiến chỉ chấm dứt khi khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi, lần lượt đánh đổ cả hai chúa Nguyễn, chúa Trịnh, đánh đổ luôn vua Lê, trong Nam thì đuổi quân Xiêm, ngoài Bắc thì đuổi quân Thanh, lãnh tụ Tây Sơn đường đường chánh chánh lên ngôi hoàng đế, vua Càn Long nhà Thanh dù mới đại bại (hay là vì đại bại) mà phải công nhận Quang Trung là vua nước Việt Nam (…)
Trong việc lập lại sự thống nhất sau thời gian phân liệt kéo dài thời Lê mạt, thì người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là vĩ nhân đã khởi xướng và bắt đầu thực hiện sự nghiệp ấy” (Sự hình thành về cơ bản của hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam – Tham luận tại Hội thảo Việt Nam học tại Hà Nội, tháng 7-1998).
+ Ý kiến GS.Hoàng Xuân Hãn: “Về Quang Trung, cái công đánh bạt Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long, cái công ấy rất to… Chứ còn trong anh em (viết sử) sau này thường cứ nói rằng là: Công thống nhất nước Việt Nam là Tây Sơn, tức là Quang Trung, đối với tôi thì tôi không đồng ý. Cái sự quân Tây Sơn có đánh bại quân Xiêm ở Rạch Gầm cũng là một sự thực. Đánh bại quân Thanh ở Thăng Long cũng là một sự thực. Nhưng hai cái thắng trận ấy không phải là đồng thời, mà trái lại, có thể nói cái hồi mà vua Quang Trung ở ngoài Bắc thì Nguyễn Nhạc còn đang chiếm vùng giữa, vùng trong thì lúc ấy nhà Nguyễn đã chiếm cả trong Nam rồi. Không phải là thống nhất. Đấy chỉ là đánh được giặc ở Nam, đánh được giặc ở Bắc. Nếu ông ấy sống lâu nữa, có lẽ sẽ thống nhất; nhưng vì ông chết sớm thành ra không thống nhất được” (Đài phát thanh Quốc tế của Pháp [RFI] phỏng vấn Hoàng Xuân Hãn – Tạp chí Xưa và Nay trích đăng trên số 35/1-1997 với tựa đề “Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Hoàng đế Quang Trung”).
+ Ý kiến Đặng Thành Nam: “Việc đất nước chia đôi là do Trịnh Nguyễn phân tranh suốt trong hai thế kỷ. Khi nhà Tây Sơn nổi lên…, Nguyễn Ánh phải chạy qua Xiêm lưu vong và cầu cứu ngoại bang (…). Cuối cùng ai là người diệt được nhà Trịnh mà suốt 200 năm nhà Nguyễn không những không làm gì được mà còn bị mất kinh đô về tay nhà Trịnh nữa. Chính Nguyễn Huệ đã diệt Trịnh, đuổi Thanh (…) chấm dứt việc hai trăm năm đất nước bị chia đôi, đưa đến việc thống nhất đất nước về cơ bản(…). Việc Gia Long rước hàng vạn quân Xiêm về giết dân, tàn phá đất Nam Bộ, bị Quang Trung đánh chạy thục mạng ở Rạch Gầm kia đâu phải là chuyện tuyên truyền chính trị! Việc Gia Long nhờ vũ khí, nhờ đại bác của Pháp, nhờ chính bọn đánh thuê, bọn cha cố phương Tây để chiếm lấy đất nước đâu phải là chuyện bịa đặt!” (Về những hiện tượng bất thường trong văn học và sử học -Báo Công An Tp.Hồ Chí Minh, 21-5-1998, tr.18).
+ Ý kiến Jean Chesneaux: “(…) Sự kiện lớn nhất dường như là việc khôi phục thống nhất đất nước, việc xóa bỏ sự chia cắt đất nước thành hai vương quốc đối địch. Chính là Tây Sơn chứ không phải là nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX, như người ta thường gán cho họ, đã có công trong việc xây dựng một nước Việt Nam thống nhất; dù chia ra các miền khác nhau nhưng vẫn cùng một mục đích… Niềm kiêu hãnh khôi phục lại uy danh của nước Việt Nam thể hiện rõ trong bài hịch [Hịch Tây Sơn]”. (Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne – Paris 1955, p.37).
+ Ý kiến Joseph Buttinger: Trong cuốn The smaller dragon (New York, 1962), tác giả viết: “Khi Hà Nội thất thủ trước chính quyền mới ở Đàng trong [ý nói: Tây Sơn], Việt Nam đã trở lại thống nhất (…) Triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, song nền thống nhất của Việt Nam tồn tại suốt cho đến lúc vương triều cuối cùng của nó bị lật đổ vào năm 1802 trước những lực lượng mới trỗi dậy từ phương Nam. Nhưng đây lại là một phần của câu chuyện khác: khi nhà Tây Sơn đổ, vận mệnh Việt Nam được đặt dưới ảnh hưởng của những lực lượng phương Tây đưa vào châu Á”.
(còn tiếp)
Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.
www.trieuxuan.info
|