tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
15.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (5)

CHƯƠNG  HAI: ĐẠI PHÁ QUÂN THANH


1/  Quân Thanh kéo vào xâm lược


            Khi bọn Lê Quýnh dẫn mẹ con Lê Chiêu Thống vượt qua biên giới, tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh liền báo lên vua Càn Long. Vua nhà Thanh ra lệnh tra xét kỹ lưỡng và dặn thêm: “Hiện nay gia quyến Lê Duy Kỳ phải xếp đặt chỗ cho thỏa đáng, dầu tốn bao nhiêu của kho nhà nước cũng không nên tiếc”.


Bọn Lê Quýnh lại viết thư cho tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị. Nhận được thư, Tôn Sĩ Nghị nói với liêu thuộc: “Nước Nam xưa vốn thuộc Hán Đường, mãi đến đời Tống, họ Đinh mới dấy lên giữ lấy nước, từ đời nọ đến đời kia gây thành một nước độc lập. Nay cuộc thế đổi thay, họ không giữ nổi, có lẽ trời muốn ban cho ta chiếm làm quận huyện chăng!”.


 


Tôn Vĩnh Thanh thì có ý gờm sợ lực lượng Tây Sơn: “Đem quân ra ngoài biên giới là việc lớn lao, lợi hại không phải là nhỏ… Nguyễn Huệ là tay thảo trạch dấy lên, hành binh từ thuở nhỏ; một phen ra tay đã đánh đổ được cả triều đình hơn 300 năm, lực lượng ấy tưởng không phải yếu”. Nhưng Vĩnh Thanh cũng không giấu được ý muốn xâm lược nước ta: “Chi bằng đóng quân không đánh, đợi cho Lê và Tây Sơn đánh nhau, cả hai cùng mỏi mệt, bấy giờ ta sẽ thừa cơ chiếm lấy cũng chưa muộn”.


 


Tôn Sĩ Nghị gọi bọn Lê Quýnh đến hỏi tình hình trong nước, rồi dâng biểu lên vua Càn Long: “… An Nam là đất cũ của Trung Hoa, nếu phục hưng cho nhà Lê rồi, ta sẽ đặt thú binh mà giữ lấy nước, thế là vừa phục tồn nhà Lê lại vừa được đất An Nam, thật là được cả hai việc”. Càn Long tán thành ý kiến của Tôn Sĩ Nghị, hạ lệnh điều động binh mã bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Qúy Châu, tất cả gồm 29 vạn quân lính và dân phu, chia làm 4 đạo, do Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy, tiến vào xâm lược nước ta (1).


 


Đạo quân thứ nhất do Tôn Sĩ Nghị và đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy theo đường Lạng Sơn tiến vào Thăng Long.


Đạo quân thứ hai do tri phủ Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Cao Bằng tiến xuống Thăng Long.


Đạo quân thứ ba do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy, theo đường Tuyên Quang tiến xuống đóng ở Sơn Tây.


Đạo quân thứ tư qua vùng Quảng Ninh tiến vào đóng ở Hải Dương.


 


Ngoài ra, nhà Thanh còn dự định điều động một đạo thủy binh vượt biển đánh vào Thuận Quảng để phối hợp với bộ binh từ trên đánh xuống, nhưng dự định này về sau bãi bỏ  (2).


           


            Trước khi xuất quân, Càn Long vạch rõ phương hướng chiến lược nhằm triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị trong nước đối với Tây Sơn để chiếm nước ta một cách dễ dàng.  Càn Long mật dụ cho Tôn Sĩ Nghị:


 


            “Việc quân phải từ từ, không nên hấp tấp, Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước và cho các quan nhà Lê về nước họp nghĩa binh, tìm tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thử xem sự thể thế nào…”


 


“Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến thì ai chẳng gắng sức, Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai tự quân đuổi theo, rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả”


 


“Ví bằng người trong nước, nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang nói rõ đường họa phúc xem nó đối đáp ra sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường biển sang Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau đều bị đánh, thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân đó mà làm ơn cho cả hai bên: từ đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào nam thì cho Nguyễn Huệ, từ đất châu Hoan, châu Ái trở ra bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh để kiềm chế cả hai bên rồi sẽ xử trí sau” (Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập).


 


Tháng 11-1788, bốn đạo bộ binh của nhà Thanh xuất phát từ Quảng Tây ồ ạt tiến sang nước ta.


 


Trước khi vượt biên giới, Tôn Sĩ Nghị ban bố một bản quân luật gồm 8 điều, trong đó có 3 điều nêu rõ chiến thuật tác chiến:


 


- “Ở ngoài quan ải (ý nói: Việt Nam) núi non hiểm trở, địa thế dễ  mai phục, cho nên trước hết phải bạt bỏ đá núi, phát sạch rừng nứa, khiến cho trông ra quang đãng, có thể yên tâm tiến phát. Thấy ở đâu có đất mới mấp mô thì phải để ý xem xét kẻo mắc mưu qủy quyệt” (điều 2).


 


- “Người Nam khi ra trận hay dùng voi là giống mà người Thanh không quen, cho nên hễ gặp voi thường hay chạy trốn. Nhưng có biết đâu rằng sức voi tuy mạnh nhưng chỉ là con vật có huyết khí, không thể chống nổi đồ dẫn hỏa của ta. Vậy hễ thấy voi ra trận, ở xa thì bắn súng, gần thì trị bằng giáo và cung, làm cho voi bị thương phải chạy quay lại rồi tự dày xéo lẫn nhau, quân ta thừa cơ mà đánh, thắng lợi không còn nghi ngờ gì nữa” (điều 4).


 


- “Quân Nam đều dùng một thứ ống phun thuốc súng gọi là hỏa hổ. Khi hai quân giáp chiến, quân Nam tất phải dùng thứ hỏa hổ ấy để đốt cháy quần áo người ta, khiến cho phải rút lui. Nhưng hỏa hổ còn kém xa súng của ta. Hiện ta đã chế được mấy trăm chiếc mộc bằng da trâu sống. Nếu thấy quân Nam bắn hỏa hổ thì quân ta một tay cầm mộc để đỡ lửa, một tay cầm dao để chém” (điều 5).


 


+ Quân Tây Sơn tạm rút lui bảo toàn lực lượng:


 


            Khi kéo quân đến trấn Nam Quan, Tôn Sĩ Nghị truyền hịch, nêu chiêu bài “phù Lê diệt Tây Sơn” và huênh hoang đe dọa: Ai giết được Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc thì sẽ được thưởng công hạng nhất!


 


            Các tướng Tây Sơn đóng ở Lạng Sơn là Nguyễn Văn Diệm và Phan Khải Đức thấy lực lượng quân Thanh kéo sang hùng hổ, biết không chống cự nổi. Văn Diệm phải rút quân về Kinh Bắc phòng ngự rồi cáo cấp về Thăng Long. Phan Khải Đức hèn nhát chạy sang đầu hàng quân giặc. Được tin của Diệm, Ngô Văn Sở vội cho thảo một bức thư ký tên Lê Duy Cẩn, gửi cho Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh. Sĩ Nghị bác bỏ lá thư, càng tỏ ra kiêu mạn, thúc quân vượt biên giới vào Lạng Sơn rồi tiến xuống Bắc Giang. Quân giặc kéo vào ào ạt như nước vỡ bờ.


 


            Ngô Văn Sở họp các quan văn võ bàn cách đối phó. Nguyễn Văn Dụng đề nghị nên nhân khi quân giặc vừa hành quân xa đang mệt mỏi mà đem quân ra đánh, nhất định sẽ nắm chắc phần thắng.


 


Dụng nói: “Cuối đời Trần, quân Minh sang chiếm nước ta. Bọn Hoàng Phúc, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Liễu Thăng đều là những tướng kiệt hiệt. Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, so sức khó lòng địch lại chúng. Nhưng vua Lê biết hành binh, khéo mai phục, nhằm chỗ yếu của giặc kéo ra đánh giết, nên ít mà đánh được nhiều, làm khốn Vương Thông ở Đông Tân [một bến sông Hồng], giết Liễu Thăng ở Mã Yên; võ công ấy ngàn thu vẫn còn thơm. Nay quân Thanh vượt suối trèo non từ xa đi lại, chúng mệt mỏi lắm rồi; ta đang nhàn tỗi, sức còn mạnh. Chi bằng đặt sẵn quân phục ở nơi hiểm yếu, đợi chúng đến, đổ ra đánh giết, lo gì không thắng”.


 


Ý kiến của Nguyễn Văn Dụng không được Ngô Thì Nhậm tán thành. Nhậm phân tích hoàn cảnh địch và ta, cho rằng chưa thể thực hiện chiến thuật mai phục như thời Lê Lợi chống Minh được, vì tình cảnh giống nhau nhưng thời thế lại khác nhau. Thời Lê Lợi, cả nước căm giận quân Minh tàn bạo nên mai phục được kín đáo, không ai để lộ cho giặc biết. Còn như “bây giờ thì khác hẳn, các bộ thần nhà Lê đâu đâu cũng có. Nghe tin quân Thanh sang viện, họ đều nghển cổ trông mong…; như vậy quân ta mai phục ở đâu, địa thế hiểm hay không, quân số ít hay nhiều, giặc chưa biết chúng đã báo trước cho giặc biết. Nhân kế của mình làm kế của chúng, chúng sẽ vây kín bốn mặt mà bắt. Quân cơ đã bị tiết lộ là tự mình hãm mình vào chỗ chết vậy, còn hòng đánh úp được ai. Binh pháp nói rằng: khéo mai phục thế nào cũng được, lầm mai phục thế nào cũng thua”.


 


            Tiếp đó, Ngô Thì Nhậm đề ra chủ trương: chưa đánh, cũng không giữ, mà tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng. Nhậm nói:


 


“Phép dùng binh chỉ có đánh và giữ. Quân Thanh nay kéo sang, thanh thế rất lớn. Người mình, những kẻ đi làm nội ứng cho giặc lại phao thêm để làm kinh động lòng người. Quân ta hễ có việc gì ra khỏi thành thì bị chúng bắn giết. Vả lại lính Bắc hà được dịp này lại hay trốn. Đem quân lính như thế đi đánh khác nào xua dê đi đánh cọp, thế nào cũng thua. Còn muốn đóng cửa thành cố giữ thì lòng người đã không vững rồi, cái lo bên trong chắc sẽ xẩy ra, dẫu đến Tôn Ngô sống lại cũng phải bó tay không thể tính được kế gì. Như vậy thật không khác gì đem con chạch mà bỏ vào giỏ cua vậy.


 


            “Đánh cũng chẳng được, giữ cũng chẳng xong, bất đắc dĩ thì có cách này: sớm truyền cho thủy quân chở các thuyền lương thuận gió giương buồm ra thẳng cửa biển, đến Biện Sơn mà đóng, và cho bộ quân mở cờ gióng trống đến núi Tam Điệp mà giữ. Thủy bộ thông nhau, giữ lấy chỗ hiểm cho vững thế thủ rồi cho người về báo với chúa công. Chờ chúa công ra đánh cũng chưa muộn”.


 


            Ngô Văn Sở tán thành chủ trương của Ngô Thì Nhậm, liền ra lệnh tập hợp lực lượng chuẩn bị rút lui. Một mặt Sở truyền lệnh cho các trấn thủ Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn phao tin là mang quân về đắp lũy ở sông Nguyêt Đức rồi ngầm rút quân về, mặt khác sai các trấn thủ Sơn Tây, Hải Dương gấp rút đem quân về họp ở Thăng Long, còn trấn Sơn Nam thì chuẩn bị thuyền bè đợi thủy quân đến thì cùng rút lui. Khi các đạo quân đã kéo đến đông đủ, Ngô Văn Sở mở cuộc duyệt binh lớn ở bãi sông.


 


            Công việc rút lui vừa chuẩn bị xong thì được tin quân tiền phong của giặc đã kéo xuống đến Phượng Nhãn.. Phan Văn Lân tức giận, xin lĩnh 1000 quân tinh nhuệ đến tập kích giặc ở sông Nguyêt Đức. Lân ra lệnh cho quân sĩ bơi qua sông giữa canh ba. Trời mưa đông giá rét, quân của Lân bị cóng, chết đuối rất nhiều; những người qua được sông thì bị quân Thanh giết chết. Phan Văn Lân phải chạy về Thăng Long.


 


            Trong khi đó, Ngô Văn Sở đã bí mật rút quân về núi Tam Điệp, chia quân phòng giữ các mặt thủy bộ. Bộ binh Tây Sơn bố trí thành một phòng tuyến dài dọc theo núi Tam Điệp, còn thủy binh thì đóng ở Biện Sơn. Như vậy, từ Tam Điệp đến Biện Sơn, quân Tây Sơn đã nhanh chóng chiếm lĩnh những địa hình có lợi, tạo thành một tuyến phòng ngự kiên cố, vừa ngăn chặn bước tiến của quân địch, vừa làm căn cứ xuất phát ch cuộc phản công sau này. Đồng thời Ngô Văn Sở sai người về Phú Xuân phi báo cho Nguyễn Huệ biết.


 


            Sau khi quân Tây Sơn rút lui, quân Thanh tiến thẳng về Thăng Long. Trước đó, Lê Chiêu Thống đã sai người lên tận biên giới đón quân Tôn Sĩ Nghị và “sắm đủ trâu bò, rượu để khao quân Thanh”. Ngày 17-12-1788 (tức ngày 20-11 năm Mậu Thân), đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị kéo vào chiếm đóng thành Thăng Long.


 


            Lê Chiêu Thống tuy được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương, nhưng thực ra chỉ là tên tay sai, thừa hành mọi mệnh lệnh của Tôn Sĩ Nghị. Chiêu Thống mời Sĩ Nghị vào đóng ở điện Kính Thiên, nhưng Sĩ Nghị từ chối, cho rằng “chỗ ấy có nhiều điều bất tiện cho việc hành binh, không phải là bản doanh của đại tướng”. Sĩ Nghị bèn đóng ở Tây Long cung (có lẽ ở chỗ bờ sông Hồng, gần đền Tây Long ngày nay), sai quân bắc cầu phao qua sông và đóng đồn ở các bãi cát ven sông.


 


Chiêu Thống phải dùng niên hiệu vua Càn Long và hàng ngày đến chầu chực tại dinh Tôn Sĩ Nghị rất nhục nhã. Có lần Sĩ Nghị không tiếp, sai người ra bảo: “Hôm nay không có việc quân quốc gì, xin về cung nghỉ”. Chẳng có quyền hành gì nữa, bọn vua tôi nhà Lê chỉ còn biết trả thù, báo oán rất ty tiện, lộ hết bản tướng hèn nhát và tàn ác của một lũ vua quan bán nước. Nhân dân Thăng Long căm giận Lê Chiêu Thống, thường nói: “Nước Nam ta từ khi có đế có vương đến nay, chưa thấy ông vua nào nhục nhã đê hèn đến như vậy” (Hoàng Lê nhất thống chí).


 


            Về phía Tôn Sĩ Nghị, từ ngày kéo vào Thăng Long được dễ dàng, Sĩ Nghị càng chủ quan, kiêu ngạo. Nhân dân Bắc hà mấy lần bị chiến tranh và thiên tai liên tiếp, nay lại bị quân giặc kéo vào cướp phá càng thêm điêu đứng(*). Hàng ngày, dân Thăng Long và các vùng phụ cận phải nộp cho quân Thanh bò heo, gà vịt, lúa gạo, tre nứa…


 


Trước tình hình đó, ngay đến bộ hạ và người nhà của Lê Chiêu Thống cũng lo lắng cho vận mệnh của chúng. Viên kiểm sát phó sứ ở Kinh Bắc dâng sớ khuyên Chiêu Thống nên chủ động tranh thủ các lực lượng “cần vương”, kịp thời đuổi đánh quân Tây Sơn đang rút về Tam Điệp. Một cung nhân nói với thái hậu: “Nguyễn Huệ là tay anh hùng lão luyện, gan góc, giỏi việc binh. Lúc ra Bắc, khi vào Nam, hắn thần xuất quỷ một, không ai có thể lường được. Hắn bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt đứa trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn… Tôi trộm e không bao lâu nữa, hắn lại đến đây, Tôn tổng đốc đem đạo quân như thế địch với hắn thì địch sao cho nổi…”.


 


            Vua quan nhà Lê sốt ruột, xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân, Sĩ Nghị nói: “Hết năm đến nơi rồi, việc gì phải hấp tấp như thế. Không cần phải đánh vội, giặc còn gầy, ta hãy cứ nuôi cho béo, để chúng tự đến dâng thịt cho ta”. Mãi đến ngày 23-12 âm lịch, khi được tin báo Nguyễn Huệ đã ra đến Nghệ An, Thanh Hóa và đang lấy thêm quân, tiếp đó lại được tin quân Tây Sơn đang rầm rập tiến ra Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị mới vội vã “cho quân đi đóng giữ các nơi hiểm yếu trên khắp bốn ngả đường, còn đại quân thì sáng chiều tập dượt để chuẩn bị tác chiến”.


 


            2/  Quang Trung đại phá quân Thanh


 


                        +  Trên đường kéo quân ra Tam Điệp:


 


            Ngày 21-12-1788 (tức ngày 24-11 năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ nhận được tin cáo cấp của Ngô Văn Sở. Ngay ngày hôm sau, Nguyễn Huệ sai đắp đàn ở phía nam núi Ngự Bình làm lễ tế trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung (Phụ lục  ?) rồi ra lệnh xuất quân ra Bắc tiêu diệt giặc Thanh (3) (Phụ lục 3).


 


Ngày 26 (29-11 âm lịch), Quang Trung kéo quân ra đến Nghệ An, đóng lại một thời gian để tuyển thêm quân. Nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, hăng hái tham gia quân đội; chỉ trong mấy ngày quân số Tây Sơn đã tăng lên đến trên 10 vạn. Quân lính Thuận Hóa và Quảng Nam được chia làm 4 doanh tiền, hậu, tả, hữu; tân binh ở Nghệ An lập thành đạo trung quân, số voi chiến khoảng vài trăm thớt. Quang Trung tổ chức cuộc duyệt binh lớn ở trấn doanh Nghệ An, cưỡi voi ra trước quân sĩ kêu gọi:


 


            “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương nam phương bắc chia nhau mà cai trị. Người phương bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi…


 


            “Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương bắc. Ở các thời ấy, Bắc Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi hại, được mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng…


 


            “Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta là không nói trước”. (Ngô gia văn phái – Sđd, tr.359-360).


 


            Quang Trung lại cho mời Nguyễn Thiếp, một ẩn sĩ có danh tiếng ở núi Thiên Nhận (giáp giới hai huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) và Thanh Chương (Nghệ An) đến hỏi ý kiến: “Quân Thanh lại đây, ta muốn đem quân ra chống lại. Mẹo đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ xem ra làm sao?”.  Nguyễn Thiếp trả lời: “Nay trong nước trống không, nhân tâm tan nát. Quân Thanh từ xa đến, không biết tình hình quân ta yếu mạnh thế nào, không biết thế nên chiến thủ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp đi thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”. Quang Trung mừng lắm, trả lời: “Ông nói chính hợp ý tôi” (Theo Hoàng Lê nhất thống chí và Lê qúy kỷ sự – đã dẫn).


 


            Sau đó, quân Tây Sơn lại lên đường ra Thanh Hóa, và tại đây Quang Trung cũng tuyển thêm lính mới(*) (4).


 Tại Thọ Hạc  (thị xã Thanh Hóa ngày nay), Quang Trung làm lễ “thệ sư” và đọc bài Hiệu dụ tướng sĩ, thể hiện ý chí và quyết tâm tiêu diệt quân Thanh, bảo vệ nền độc lập  của Tổ quốc:


            Đánh cho để dài tóc


            Đánh cho để đen răng


            Đánh cho nó chích luân bất phản


            Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn


            Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ(*).


(Lê Trọng Hàm dẫn trong Minh đô sử) (5)


Ngày 25-1-1789 (tức ngày 20-12 năm Mậu Thân), Quang Trung kéo quân đến núi Tam Điệp hợp binh với lực lượng của Ngô Văn Sở và tỏ ý tán thành kế hoạch rút lui của Ngô Thì Nhậm.


            Nghiên cứu kỹ tình hình quân giặc, Quang Trung quyết định mở một chiến dịch tiến công mãnh liệt và nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân Thanh.


 


Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Tam Điệp, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân… ra đón và xin chịu tội. Nguyễn Huệ nói: “Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên, lại cho tùy tiện làm việc; vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận… Tội các ngươi đều đáng chết một vạn lần. Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến như việc tùy cơ ứng biến thì không có tài. Cho nên ta đã để Ngô Thì Nhậm ở lại đây làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa… Các ngươi đã biết tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy” (Hoàng Lê nhất thống chí – Sđd).


 


Tiếp đó, Quang Trung tuyên bố: “… Nay ta tới đây tự đốc việc quân, chiến thủ ra sao đã có phương lược định sẵn, chỉ trong mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh”. Quang Trung truyền lệnh mở tiệc khao quân(*), cho quân lính ăn tết nguyên đán trước và một lần nữa tuyên bố trước quân sĩ: “Nay hãy tạm ăn tết nguyên đán trước, đợi đến sang xuân ngày mồng 7 vào Thăng Long lại mở tiệc mừng. Các ngươi hãy ghi nhớ lấy lời ta xem có thực hay không”.


 


Nhằm làm kiêu lòng giặc, Quang Trung sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ mang ba đạo bẩm văn đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị, nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn và quần thần văn võ, xin Tôn Sĩ Nghị hãy cho đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét tình hình nhà Lê và Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị liền xé bẩm văn, rồi tuyên bố sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống Quang Trung.


 


            Bấy giờ ở Thăng Long, hai đạo quân của Tôn Sĩ Nghị và Sầm Nghi Đống đã gặp nhau, bố trí đóng giữ quanh thành. Sĩ Nghị đóng bản doanh ở cung Tây Long cùng đạo quân chủ lực đóng doanh trại ở bãi cát hai bên bờ sông Hồng và bắc cầu phao qua lại. Đạo quân của Sầm Nghi Đống đóng tại Khương Thượng ở phía tây-nam Thăng Long (khu Đống Đa, Hà Nội ngày nay). Đạo quân của Ô Đại Kinh đến sau đóng ở Sơn Tây.


 


            Trên con đường từ Quảng Tây, Vân Nam vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị lập 70 đồn quân lương nối tiếp nhau. Trên trục đường phía nam Thăng Long, quân Thanh lập nhiều đồn lũy kiên cố như Thanh Quyết, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Văn Điển và nhiều đồn tiền tiêu khác. Tin chắc vào lực lượng đông và hệ thống đồn lũy kiên cố, Tôn Sĩ Nghị chủ quan, thả lỏng cho quân lính nghỉ ngơi ăn tết.


 


                        +  Giải phóng Thăng Long:


 


            Triệt để lợi dụng những sơ hở của địch trong dịp tết. Quang Trung mở cuộc tấn công nhanh chóng theo kế hoạch như sau:


 


            - Đạo quân chủ lực gồm bộ binh, tượng binh và kỵ binh do Quang Trung trực tiếp chỉ huy theo đường chính đánh thẳng vào phía nam thành Thăng Long.


- Đạo hữu quân chia làm hai cánh: một cánh do đô đốc Bảo chỉ huy mang theo voi chiến và ngựa chiến đi tắt đường núi đánh vào làng Đại Áng (Thường Tín, Hà Đông) nhằm yểm hộ sườn trái của đạo quân chủ lực, phối hợp đánh đồn Ngọc Hồi; một cánh do đô đốc Đông chỉ huy xuyên qua vùng Chương Mỹ đánh vào làng Nhân Mục (Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội) uy hiếp mặt tây Thăng Long, tấn công đồn Khương Thượng (6).


 


- Đạo tả quân cũng chia làm hai cánh, tiến theo đường thủy, vượt biển vào sông Lục Đầu: một cánh do đo đốc Tuyết chỉ huy đổ bộ lên Hải Dương, có nhiệm vụ uy hiếp mặt đông Thăng Long; một cánh do đô đốc Lộc chỉ huy đi gấp đường chiếm lĩnh các vị trí, chặn đường rút lui của giặc trên địa bàn Kinh Bắc (Yên Thế, Phượng Nhãn, Lạng Giang)(*) (7).


 


Đêm 30 Tết Kỷ Dậu (25-1-1789), đạo chủ lực do Quang Trung chỉ huy vượt bến đò Gián Khẩu (cách Thăng Long 76km) tiến nhanh về phía đồn địch. Quân nhà Lê ở đây do Hoàng Phùng Nghĩa chỉ huy chưa kịp giao chiến đã tan vỡ, bỏ chạy đến sông Thanh Quyết (một khúc sông Đáy ở huyện Thanh Liêm). Quân Tây Sơn đuổi theo đến tận Phú Xuyên tiêu diệt được toàn bộ và bắt hết lính do thám của Tôn Sĩ Nghị. Do vậy, khi quân Tây Sơn tiếp tục tiến ra, quân Thanh ở các đồn phía ngoài vẫn không hề hay biết.


 


Trận Hà Hồi và Ngọc Hồi: Đêm mồng 3 Tết (28-1-1789) quân Thanh đóng ở đồn Hà Hồi (cạnh phủ lỵ Thường Tín) đang ăn tết thì quân ta bí mật kéo đến vây chặt đồn rồi hò reo ầm ĩ, làm cho giặc tưởng quân ta đông lắm. Quang Trung lại sai bắc loa kêu gọi quân Thanh trong đồn ra đầu hàng. Bị vây bất ngờ, quân giặc hoảng loạn tinh thần, tranh nhau ra hàng và nộp tất cả khí giới, lương thực. Trận Hà Hồi toàn thắng không phí một viên đạn càng khích động tinh thần quân sĩ ta hăng hái tiến thẳng ra đồn Ngọc Hồi.


 


Đồn Ngọc Hồi (trên quốc lộ 1, giữa phố Quán Gánh và ga Văn Diển hiện nay) cách Thăng Long 12km, là vị trí phòng thủ quan trọng nhất của quân Thanh ở mặt nam; mất đồn Ngọc Hồi thì phòng tuyến phía nam của giặc hoàn toàn bị chọc thủng. Vì vậy, Tôn Sĩ Nghị giao cho phó tướng Hứa Thế Hanh chỉ huy một lực lượng lớn bảo vệ đồn. Quanh đồn, quân giặc cắm nhiều chông sắt và chôn nhiều địa lôi, trên thành đặt nhiều đại bác.


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 







(*)  Tôn Sĩ Nghị cho quân lính “mặc sức làm điều phi pháp”, “kiếm mọi cách vu hãm những người lương thiện, áp bức cướp bóc những nhà giàu có, thậm chí giữa chợ giữa đường cũng cướp giật của cải, hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả” (Hoàng Lê nhất thống chí).




(*)  Bấy giờ ở Thanh Hóa xuất hiện bài ca:


                Thùng thùng trống đánh quân sang


                Chợ Già trước mặt, quán Mau bên đàng


                Qua Chiêng thì rẽ sang Giàng


                Qua quán Đông Thổ vào làng Đinh Hương


                Anh đi theo chúa Tây Sơn


                Em về cày cuốc mà thương mẹ già”


     (Ca dao sưu tầm ở Thanh Hóa – Nxb Văn Học, Hà Nội, 1963).


 




(*)  Mô tả không khí lễ “thệ sư”, sách Lê qúy kỷ sự chép: “Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu. Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp đường ra Bắc”.




(*)  Trong lễ tiệc khao quân, Quang Trung kêu gọi tướng sĩ: “Nhà Thanh từ vua Càn Long lên ngôi đến nay luôn luôn mưu toan khuếch trương bờ cõi, đã chiếm phía tây lại toan lấn phía nam. Sự mất còn của nước ta là quyết định ở trận này (…), [phải] làm cho quân chó Ngô từ nay về sau không dám có ý tưởng điên cuồng muốn chiếm lấy đất nước ta làm quận huyện của chúng nữa” (Minh đô sử – Sđd).


(*)  Theo An Nam quân doanh kỷ lược của Trần Nguyên Nhiếp (thư ký của Tôn Sĩ Nghị), khi biết tin quân Tây Sơn đang trên đường tiến ra Bắc, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cho “đại quân sáng chiều tập dượt để chuẩn bị tác chiến”, lại “phái thêm quân sĩ chia nhau đi tiếp ứng các đồn ở trên bốn ngã đường để phòng giữ và vạch rõ kế hoạch cho các nơi ứng cứu nhau như thế nào” (Sách viết tay của Quốc lập đồ thư quán Bắc Kinh – Trần Văn Giáp sưu tầm).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »