(5) NHÂN DÂN THANH HÓA VỚI PHONG TRÀO TÂY SƠN
+ Tham khảo tư liệu của Phạm Thị Ưng (Ban Nghiên cứu biên soạn Lịch sử Thanh Hóa):
- Bài “Giáo trống” diễn tả không khí thượng võ thời Tây Sơn:
Ơn đức Đại vương
Khuông phù quốc mạch
Nghe tôi kể tích
Tự cổ lai tòng
Phép dùng có trống
Trống cơm duyên chồng
Trống cái duyên vợ
Trống lên yên ngựa
Trống thắng bành voi
Trống đánh nơi nơi
Tứ phương dĩ trị…
- Thơ trống:
Trống cơm trống cái trống hòa ca
Chiêu minh bách tính trống trừ tà
Chư tướng chư quân nghe trống giục
Ba hồi chín tiếng bảo nhau ra
Tay cầm dùi trống nghênh ngang
Tự nhiên biến hóa vô vàn giao long
Tay cầm dùi trống vẫy vùng
Dẹp yên cõi Bắc nên công xứ Đoài
Trống tôi tích kể còn dài
Chúc vua thượng vị đời đời Nam bang.
- Bài vè “Quan Đại” ca ngợi Tây Sơn có tướng tài, quân mạnh, được nhân dân
nhiệt liệt ủng hộ:
Phiên giáp đóng ở Tuần Ngu(1)
Phiên nhị Vích Vót(2), ba tư Hội Triều(3)
Quan quân hàng mấy mươi muôn
Núi rừng bọc kín khôn đường vào ra
Nào là áo đỏ cờ đào
Chùy đồng búa sắt ào ào ghê thay
Voi thì mấy chục thớt rày
Ngựa ô ngựa bạch cùng tày dư trăm
Bánh chưng, đường cát, rượu tăm
Lại có cau đậu trầu vàng mừng quân
Giặc nào giặc chẳng phải tan
Cửu châu tứ hải vua Nam trị vì
Theo vua ra chốn kinh kỳ
Vợ chồng ta lại yên bề làm ăn…
--------------------
(2) (3) Các địa danh này thuộc vùng Hàm Rồng, Hoằng Hóa, Hậu Lộc.
- Những địa danh mang dấu tích Tây Sơn đóng quân tại Thanh Hóa trên đường hành quân ra Bắc, nhất là các vùng thuộc phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn: “Đồng Rấm Quân”, “Thung Voi” (huyện Như Xuân), “Đồn Ông” [nơi đóng quân], “Đồng Đền [đền bù việc voi xổng phá hoại hoa màu của dân] (huyện Nông Cống), “Đập Chắn Voi”, “Bãi Ngựa”…(huyện Thạch Thành), “Làng Gạo” [kho lương thực của Tây Sơn], “Gò Bia” [nơi cắm bia tập bắn], “Đồi Ông Đùng {nơi pháo binh tập bắn], “Đồn Ông [nơi đóng quân của Ngô Văn Sở] (huyện Hà Trung) v.v…
+ Theo tác giả Trần Thị Liên: Tại Thanh Hóa có một ngôi đền do dân lập nên để thờ vua Quang Trung ở dưới chân núi Liên Phong, bên cửa Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia. Hai câu đối ở đền thờ có liên quan đến Núi Bân tại Phú Xuân, nơi Quang Trung làm lễ lên ngôi:
Anh hùng thanh sất Bân Sơn cổ
Miếu mạo quang lưu Bạng hải kim
(Tiếng thét của người anh hùng vang dậy Núi Bân xưa
Ánh sáng tòa miếu còn tỏa rạng Lạch Bạng nay).
+ Theo TS.Hà Mạnh Khoa, “Ở Cửa Bạng, trên núi Diên Phong, thôn Du Xuyên (thuộc xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia) có một miếu thờ có duệ hiệu là “Tây Sơn uy vũ anh linh hùng tai vĩ lược thượng đẳng thần”… Sở dĩ dân vùng Lạch Bạng lập đến này là vì sau chiến thắng quân Thanh, tướng Tây Sơn trấn thủ Thanh Hóa đã bỏ lệ cúng tiến yến sào ở Đảo Mê. Nhớ ơn vua Quang Trung, người từng qua vùng Lạch Bạng để đánh giặc cứu nước, lại bỏ một nạn phục dịch nặng nề có từ lâu đờ, dân kín đáo lập đền thờ để đời đời ghi nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc” (Vai trò của Tam Điệp-Biện Sơn (Thanh Hóa) trong chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung-Nguyễn Huệ – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
(6) ĐÔ ĐỐC ĐÔNG? ĐÔ ĐỐC LONG?
+ Tham khảo Ngô Văn Minh – Ai là Đô đốc Long? –
Tác giả nhắc lại đoạn chép trong Hoàng Lê nhất thống chí: “… Đô đốc Long đốc suất hữu quân đã đem quân đóng ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì. Lúc vua Quang Trung đang đánh với quân Thanh ở Ngọc Hồi thì sáng hôm ấy Long đã đánh tên Thái thú Điền Châu ở tại Khương Thượng thuộc huyện Quảng Đức. Quân Thanh tan vỡ bỏ chạy. Long liền tiến trước vào thành” (Nxb Văn Học, Tập 2, Hà Nội 1987) và viết tiếp: “Mặc dầu Ngô gia văn phái 5 lần nhắc đến Đô đốc Long nhưng không nói rõ họ và chữ lót của ông, cũng không nói thêm về lai lịch của vị tướng này. Do đó đã để lại một câu hỏi lớn: Đô đốc Long là ai?”.
Tiếp đó tác giả nhắc lại ý kiến cho rằng Đô đốc Long là Đặng Tiến Đông: Mãi đến năm 1974, nhân việc phát hiện ra tấm bia Sùng Đức thế ký bi tại chùa Thủy Lâm (Chương Mỹ, Hà Sơn Bình) dựng năm 1797 với nội dung nói về một đô đốc có tên là Đặng Tiến Đông. Tiếp theo sau là việc phát hiện bia Đặng tướng công bi tại chùa Trăm Gian (Hoài Đức, Hà Nội) dựng năm 1927 có nội dung như văn bia chùa Thủy Lâm, chỉ khác là ghi tên Đặng Đình Đông (chứ không phải Đặng Tiến Đông).Ngoài ra còn có một đạo sắc nói về một ông Đông nữa. Mặc dầu các tài liệu này không nói gì đến việc ông Đông tham gia tận đánh Đống Đa…, nhưng Đặng Tiến Đông vẫn được xem là Đô đốc Long chép trong sách Hoàng Lê nhất thống chí… Nghi vấn lịch sử về Đô đốc Long coi như đã được giải quyết. Thế rồi, năm 1978, giới sử học lại biết đến một đô đốc Đặng Văn Long quê ở Bình Định trong sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện do một ông nghè sống vào nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là Nguyễn Trọng Trì biên soạn. Cuốn sách này cho biết Đặng Văn Long là một danh tướng từng theo Quang Trung đại phá quân Thanh, lập được công lớn…
Sau khi nhắc lại các ý kiến trên đây về Đô đốc Long, tác giả Ngô Văn Minh giới thiệu tiếp một người mang tên Lê Văn Long, mà theo tác giả, có thể chính là Đô đốc Long chép trong Hoàng Lê nhất thống chí; xin được ghi lại nguyên văn để tiện tham khảo:
“Một ngày xuân năm 1993, tôi đến thăm tự đường tộc Lê tại phường Trường Xuân thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam-Đà Nẵng). Tại đây, tôi được bác quản tự cho xem nội dung một số sắc phong của các vua Quang Trung, Cảnh Thịnh và cả các vua nhà Nguyễn cho nhiều vị tiền bối họ Lê làng Trường Xuân. Trong đó rất đáng chú ý là những sắc phong cho Lê Văn Long và cha của ông là Lê Văn Thủ. Theo nội dung những sắc phong này, kết hợp với gia phả, chúng ta được biết Lê Văn Long xuất thân trong một gia đình võ tướng mà ông tổ đầu tiên vào ở Quảng Nam là Lê Tấn Trung, người trong hoàng tộc, theo vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Sau khi thắng trận (1471), ông Lê Tấn Trung được vua Lê phong tước Bình Chiêm Triệu quốc công, cho trấn thủ châu Lệ Dương thừa tuyên Quảng Nam. Cha Lê Văn Long là Lê Văn Thủ, võ tướng của Tây Sơn. Do có nhiều thành tích nên ông Lê Văn Thủ được vua Quang Trung và tiếp đến vua Cảnh Thịnh phong các tước và các chức vụ sau:
- Võ Cự Khai vệ vệ úy, chức cai đội, tước Thủ tài hầu (Sắc vua Quang Trung năm thứ hai, ngày 6 tháng 11 Kỷ Dậu 1789).
- Trung úy anh dũng tướng quân, tước Thủ khoa từ (Sắc vua Cảnh Thịnh năm thứ nhất, ngày 16 tháng 4 Qúy Sửu 1793).
- Hùng Cự Khai vệ, trung úy, rồi được gia Anh liệt tướng quân chỉ huy sứ, Thủ khoa bá (Sắc vua Cảnh Thịnh năm thứ ba, ngày 14 tháng 11 At Mão 1795).
Theo dõi truyền khẩu của nhân dân địa phương và gia tộc thì ông Lê Văn Thủ vốn là phò mã vì vợ ông là công chúa Trịnh Thị Hoa Dung, nhưng không hiểu vì sao ông không theo chúa Trịnh ra Bắc mà ở lại Đàng Trong theo Tây Sơn?
Riêng về trường hợp Lê Văn Long, nội dung bản sao sắc phong năm Quang Trung thứ hai lưu tại tự đường tộc Lê cho biết như sau:
“Sắc phong cho Lê Văn Long ở xã Phú Xuân Trung, phủ Thăng Hoa, huyện Lệ Dương đã trải qua nhiều chiến trận, có nhiều công lao khó nhọc, nay bổ võ tướng hữu quân để sai khiến việc quân. Nếu công việc trễ nải không siêng năng sẽ xử lý theo quân pháp.
Ngày mồng 5 tháng 2 năm Quang Trung thứ hai (Kỷ Dậu 1789)”.
Với nội dung sắc phong trên, chúng ta biết thêm một Lê Văn Long được phong tới chức võ tướng hữu quân. Điều này cho phép chúng ta liên hệ đến những điểm trùng khớp với sách Hoàng Lê nhất thống chí. Thứ nhất là về tên gọi, cả hai tài liệu đều nói đến một vị tướng của Tây Sơn có tên Long. Thư hai, Lê Văn Long lại là võ tướng hữu quân, được sắc phong vào tháng 2 năm Quang Trung thứ hai (1789), có nghĩa là ông được vua Quang Trung ban thưởng chỉ một tháng sau chiến công đại phá quân Thanh – khoảng thời gian đủ để vua Quang Trung ổn định công việc sau chiến thắng và tiến hành khao thưởng tướng lĩnh có công. Một điểm đáng lưu ý nữa là bốn chữ “Võ tướng hữu quân” trong sắc phong cho Lê Văn Long khiến chúng ta liên hệ đến “Đô đốc Long đốc suất hữu quân” trong sách Hoàng Lê nhất thống chí.
Cuối cùng tác giả Ngô Văn Minh kết luận dè dặt: “Những cứ liệu đã nói trên đã đủ chưa để chúng ta đặt câu hỏi: Có phải Lê Văn Long chính là Đô đốc Long đã chỉ huy trận đánh Đống Đa vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, được vua Quang Trung phong lên đến võ tướng hữu quân?.
+ Tham khảo Nguyễn Q. Thắng (Lê Tấn Trung, vị tiền hiền xứ Quảng – Tạp chí Xưa và Nay, số 49B/3-1998):
Tác giả Nguyễn Q. Thắng căn cứ nguồn tư liệu của dòng họ Lê (Hoàng Lê ngọc phả, Ngọc điệp phổ chí …) cho biết: một hậu duệ của Lê Tấn Trung là Lê Văn Thủ, “một tướng chỉ huy đạo cơ binh trong đoàn quân Bắc tiến năm 1789 dưới quyền hoàng đế Quang Trung. Lê Văn Thủ được sắc phong Thủ Tài hầu vào năm Quang Trung thứ 2, ông đã lập công lớn trong trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi… Con trai ông là Lê Văn Long, một đô đốc triều Quang Trung [?] (Xin đừng lầm với đô đốc Đặng Tiến Đông, con trai Thái bảo quận công Đặng Đình Miên đời Lê Cảnh Hưng có công dẹp giặc Ngân Già ở Đàng Ngoài nên được chúa Trịnh phong Đô đốc… Năm 1789, Lê Văn Long cùng thân phụ (Lê Văn Thủ) theo vua Quang Trung đem quân ra Bắc diệt quân Thanh… Trong trận Hạ Hồi, đô đốc Long chỉ huy cánh quân phía nam thần tốc tiêu diệt đồn Khương Thượng vào mờ sáng ngày mùng 5 Tết (30-1-1789) trận đánh quyết định nổ ra tại làng Ngọc Hồi buộc Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự ải ở Gò Đống Đa cùng ngày. Trước khi lên đường Bắc tiến diệt Thanh, vua Quang Trung sắc phong Lê Văn Long chức võ tướng hữu quân hàm Đô đốc [?]. Sắc viết:
“Sắc cho Lê Văn Long ở xã Phú Xuân Trung, huyện Lệ Dương, phủ Thăng Hoa, người đã trải qua nhiều chiến trận, lắm công lao khó nhọc. Nay bổ ông giữ chức võ tướng hữu quân để sai khiến việc quân. Nếu công việc trễ nải, thiếu cần mẫn sẽ theo quân pháp triều đình xử lý. Sắc mạng. Ngày mùng 5 tháng 2 năm QuangTrung thứ hai”.
(7) + ĐÔ ĐỐC NGUYỄN VĂN TUYẾT: Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, đô đốc Tuyết cùng đại đô đốc Lộc cầm đầu tả quân, đưa toàn bộ thủy binh vượt biển vào sông Lục Đầu rồi chia làm hai cánh. Một cánh do Lộc chỉ huy hành quân cấp tốc lên Phượng Nhãn, Yên Thế, Lạng Sơn đánh chặn tướng quân Thanh tháo chạy. Một cánh do Tuyết chỉ huy kinh lý vùng Hải Dương để tiếp ứng với mặt đông…
(Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.133).
+ ĐÔ ĐỐC ĐẶNG XUÂN BẢO: Không rõ quê ở miền nào? Gốc tích ra sao? Khi quân Thanh kéo vào bờ cõi nước ta, Quang Trung lên ngôi hoàng đế kéo quân ra Tam Điệp thì mới thấy Đặng Xuân Bảo xuất hiện. Vốn quen đánh trận vùng rừng núi, trong trận lớn này ông được phong đại đô đốc, cầm đầu hữu quân cùng đô đốc Long. Theo kế hoạch, đô đốc Bảo đưa tượng binh và kỵ binh đi đường Sơn Minh ra làng Đại Ang (Thanh Trì) tiếp ứng cho tiền quân của đô đốc Long đánh ngang vào quân Điền Châu ở Khương Thượng. Bảo đang trên đường ruổi quân tiếp ứng thì đô đốc Long đã đánh chiếm được đồn Khương Thượng rồi dẫn quân vào Thăng Long… Nghe tin cả hai cánh tàn quân Thanh kéo về Đầm Mực, đô đốc Bảo nhanh chóng điều động tượng binh và kỵ binh bủa vây, dồn chúng xuống đầm, bị voi chà, bị tiêu diệt…, có tới vài vạn tên bỏ mạng… (Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.133).
+ ĐÔ ĐỐC LONG (ĐẶNG VĂN LONG): Người Đại An, thuộc huyện Tuy Viễn, mấy đời làm nghề rèn đúc vũ khí và nông cụ trong vùng. Ong tham gia khởi nghĩa Tây Sơn ngay từ những ngày đầu…
Khi Quang Trung mang quân từ Phú Xuân ra đại phá quân Thanh thì Đặng Văn Long xuất hiện trên đường hành quân tới Tam Điệp. Trong kế hoạch tiến đánh quân Thanh, vua Quang Trung cử đô đốc Long phối hợp cùng đô đốc Bảo đốc suất hữu quân gồm tượng binh và kỵ binh…Đô đốc Long có phó tướng trí dũng hơn người là Đặng Tiến Đông, trước làm quan cho chúa Trịnh, sau cộng tác với nhà Tây Sơn. Đông quê ở Lương Xá gần Thăng Long, am hiểu địa hình, nắm vững đường ngang ngõ tắt khắp Thăng Long và vùng lân cận nên dẫn quân Tây Sơn đi đường tắt.. Long và Đông đưa quân xuyên qua huyện Chương Đức đến Thanh Trì chiếm hai đồn Yên Quyết và Nhân Mục bên sông Tô Lịch, là hai tiền đồn bảo vệ đồn Khương Thượng về phía tây-bắc. Quân Tây Sơn bất ngờ ụp tới hạ hai đồn này nhanh chóng, im lặng, nên đề đốc Sầm Nghi Đống đóng quân ở Khương Thượng không hề hay biết. Nhờ vậy, mới sáng tinh mơ, Long và Đông đã bí mật cho quân vây kín đồn Khương Thượng… (Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.133).
(Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.133).
+ ĐÔ ĐỐC LỘC (NGUYỄN VĂN LỘC): Người đất Kỳ Sơn, phía đông huyện Tuy Viễn ngày xưa… Đại phá quân Thanh,Nguyễn Văn Lộc đã được phong đại đô đốc, cùng đô đốc Tuyết cầm tả quân đi đường thủy vượt biển vào sông Lục đầu rồi đưa quân lên gấp vùng Phượng Nhãn, Lạng Sơn chặn đường về của giặc. Khi Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy khỏi thành Thăng Long, đô đốc Lộc truy đuổi riết, Nghị hốt hoảng bỏ cả sắc thư, ấn tín chạy thoát thân 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan…(Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.133).
(8) VỀ TRẬN KHƯƠNG THƯỢNG – ĐỐNG ĐA
“Sau trận đánh, hàng vạn xác giặc nằm ngổn ngang khắp chiến trường từ trại Khương Thượng, Thịnh Quang đến trại Nam Đồng. Khi thu dọn chiến trường, quân dân ta đã nhặt xác giặc, xếp thành từng đống rồi đắp đất lên thành những gò đống lớn. Đó là lối chôn cất cổ truyền của nhiều nước phương Đông vừa có ý nghĩa biểu dương chiến công, để lại một di tích chiến thắng cho muôn đời con cháu, vừa nhằm cảnh cáo kẻ thù. Những đống xác giặc đó gọi là Kình nghê kinh quán, có nghĩa là gò đống lớn vùi xác quân giặc hung dữ ví như loài cá kình, cá nghê ngoài biển cả. Mười hai gò đống như vậy đã xuất hiện trên trận địa ngày hôm qua như những chiến tích bất diệt cuỉa dân tộc. Trong bài Loa Sơn điếu cổ, nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ca ngợi võ công oanh liệt của quân dân ta gắn liền với những chiến tích đó:
Thành Nam thập nhị Kình nghê quán,
Chiếu diệu anh hùng đại võ công.
(Phiá nam thành , mười hai gò xác giặc
Rạng rỡ võ công lớn của anh hùng)
Tuy vậy, mười hai gò đống lớn vẫn chưa vùi hết xác quân xâm lược, đây đó trên cánh đồng vẫn còn nhiều xác giặc chôn rải rác. Chứng cớ là năm 1851, khi đào đất để đắp đường mở chợ ở khu vực này, người ta còn tìm thấy nhiều xương cốt và thu nhặt đem chôn vào một hố, đắp thành gò thứ 13 (…).
Cho đến giữa thế kỷ XIX, các gò Đống Đa vẫn còn y nguyên. Nhưng đến bản đồ Hà Nội năm Tự Đức thứ 26 (1873) thì chỉ còn thấy 6 gò trong khu vực ghi là “Đống Đa xứ”. Trong khoảng đời Nguyễn và Pháp thuộc…, nhiều gò bị san bằng. Hiện nay chỉ còn lại 2 gò được gọi là: gò Đống Đa tức gò thứ 13 đắp thêm năm 1851 (…). Phía sau chùa Bộc giáp chùa Đồng Quang còn có Gò đầu lâu, nhưng gò đã bị phá từ lâu, nhân dân chỉ còn ghi nhớ vị trí và tên gò” (Phan Huy Lê – Tìm về cội nguồn, Tập II, tr.356-358 – Hà Nội, 1999).
VỀ THẤT BẠI THẢM HẠI CỦA QUÂN THANH
“Toàn bộ quân xâm lược Mãn Thanh khoảng 29 vạn quân chiến đấu và phục dịch cùng với vài vạn quân của bù nhìn Lê Chiêu Thống đã bị đánh tan tành, bị tiêu diệt đại bộ phận và bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Trong bốn đạo quân Thanh thì ba đạo, trong đó có đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị, bị tiêu diệt gần hết và một đạo không bị đánh mà cũng tan tác. Hàng loạt tướng soái cao cấp của địch bị bỏ mạng: Đề đốc phó tướng Hứa Thế Hanh, Phó tướng Hình Đôn Hạnh; các Tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long; Tri phủ Sầm Nghi Đống; các Tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm. Đó là chưa kể một số võ quan khác cũng bị chết trận như: Du kích Minh Trụ, Trương Thuần, Vương Đàn, Trương Hội Nguyên, Lưu Việt; Đô ty Đặng Vĩnh Lượng, Thủ bị Lê Trí Minh, Tri huyện Vi Thiên Qúy, Kinh lịch Trương Thành (…). Vua nhà Thanh cũng thú nhận: “… chết mất nhiều võ quan cao cấp…, quốc thể không đến nỗi bị tổn thương, nhưng uy danh lẫm liệt cũng bị sút kém ít nhiều” (Đại Thanh lịch triều thực lục). Số quân Thanh đầu hàng và bị bắt làm tù binh có đến vài vạn (Hoàng Lê nhất thống chí) (Phan Huy Lê – Tìm về cội nguồn, Tập II, tr.364 – Sđd, Hà Nội, 1999).
(10) NHÀ BIA QUANG TRUNG Ở LÀNG HÒA LƯƠNG (HÀ TÂY)
Đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), từ khu tập kết Đồng Cung thuộc địa phận làng Hòa Lương, xã Đức Trạch, huyện Thượng Phúc (nay là một trong 4 làng của xã Hạ Hồi, h.Thường Tín, Hà Tây), đạo quân chủ lực do vua Quang Trung đích thân chỉ huy xuất phát, mở cuộc tổng công kích quyết định giải phóng Thăng Long. Ngày nay còn dấu tích các địa danh “Đồng Cung”, “Đồng Vua”, “Đồng Quan”, “Mã Trúc”, “Mã Quán”… Để ghi nhớ sự kiện lịch sử này, dân làng Hòa Lương dựng một Nhà bia Quang Trung, nhân kỷ niệm Đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (1789-2001) (Tạp chí Xưa và Nay, số 110, tháng 2-2002, tr.42.)
(11) Theo tác giả Bá Phùng (Tạp chí Thế Giới Mới, số 301 ra ngày 31-8-1998), quân đội Tây Sơn là một trong số rất ít đội quân được tổ chức thuộc loại tốt nhất thế giới vào thế kỷ XVIII. Đặc điểm nổi trội của quân đội Tây Sơn là được huấn luyện tốt, hành binh thần tốc, tác chiến cơ động, luôn đánh trúng những điểm mà đối phương không ngờ nhất, đánh là thắng lớn…
Và theo tác giả, những thành tựu nói trên của quân đội Tây Sơn sẽ không thể có được nếu một trong những vấn đề cơ bản – công tác tình báo phản gián – không được tổ chức tốt. Sau đây xin trích dẫn một số dẫn chứng trong bài viết của tác giả Bá Phùng:
1/ Trận hạ thành Quy Nhơn năm 1773: Vào thế kỷ XVIII, phủ Quy Nhơn bao gồm Bình Định, Quảng Ngãi, Gia Lai, Kon Tum với trung tâm thủ phủ đóng ở Quy Nhơn… Đánh giá chính xác mức độ quan trọng của Quy Nhơn đối với sự phát triển của phong trào, năm 1773 Nguyễn Nhạc đã chọn Quy Nhơn làm điểm tập kích đầu tiên. Với lực lượng còn mỏng, Nguyễn Nhạc không đánh Quy Nhơn theo phương án “công thành” truyền thống, mà chọn phương án đoạt thành ít tổn thất nhất.
Qua điều tra tình hình hoạt động, binh lực đối phương, phản ứng của viên tuần phủ Quy Nhơn v.v…, Nguyễn Nhạc cho đóng một chiếc cũi đặc biệt, tự nhốt mình vào trong và tung tin có một toán nghĩa quân nổi loạn, muốn nộp thủ lĩnh Tây Sơn cho quan trên để lĩnh thưởng. Viên tuần phủ tưởng thật, đã mở thành đón “toán quân nổi loạn” vào, truyền nhốt Nguyễn Nhạc vào ngục. Đêm hôm ấy, Nhạc tự mở cũi và cùng “toán quân nổi loạn” phát tín hiệu công thành. Trận nội công ngoại kích diễn ra nhanh chóng và thành Quy Nhơn đã lọt vào tay nghĩa quân Tây Sơn.
2/ Trận Rạch Gầm-Xoài Mút cuối năm 1784: Có thể nói trong trận Rạch gầm-Xoài Mút tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm, Nguyễn Huệ đã bộc lộ một cách hoàn hảo thiên tài quân sự của mình, đầu tiên là việc lĩnh hội trọn vẹn tư tưởng quân sự về tình báo-phản gián mà tổ tiên ta để lại, biểu hiện qua việc trì hoãn chiến tranh, điều tra quân lực đối phương, bố trí kế hoạch trận đánh, tổ chức một hệ thống bẫy tinh vi dẫn dụ kẻ thù đi vào thế trận đã đặt ra…
Nhiều tư liệu lịch sử đã xác nhận rằng sau khi vào đến Gia Định, Nguyễn Huệ đã mau chóng tung ra nhiều toán thám báo, gián điệp tìm hiểu nội tình của liên quân Ánh-Xiêm-Miên. Từ tháng 10 đến tháng 12-1784, Nguyễn Huệ liên tục thu được nhiều thông tin về kẻ thù, và những chuyến đề nghị giảng hòa do sứ giả Tây Sơn thực hiện đã hoàn chỉnh việc thám sát toàn cảnh hoạt động của kẻ thù. Toàn bộ trận Rạch Gầm-Xoài Mút chỉ kéo dài từ quãng 1 giờ sáng ngày 9-12-1784 cho đến đêm cùng ngày, toàn bộ 5 vạn quân Xiêm đã bị tiêu diệt… Người ta dễ dàng nhận thấy rằng các cơ độ tình báo-phản gián trong trận Rạch Gầm-Xoài Mút đã cung ứng cho quân đội Tây Sơn một lượng thông tin khổng lồ để vạch ra the trận theo ý mình muốn…
3/ Trận đánh giải phóng Phú Xuân năm 1786: Trước chiến dịch đánh quân chúa Trịnh năm 1786, quân đội Tây Sơn cũng đã tung hàng loạt gián điệp sang hoạt động trên phần đất của kẻ thù. Điều tra biết tướng Trịnh là Phạm Ngô Cầu cùng nhiều tướng lĩnh dưới quyền rất tin vào bói toán, gián điệp Tây Sơn đã đóng vai thầy bói, thầy tướng số… để vừa nắm chắc tình hình của kẻ thù, vừa tung tin đồn gây hoang mang trong nội bộ của chúng khi được phép tiếp cận với giới lãnh đạo của quân Trịnh.
Rồi khi chiến sự nổ ra, tình báo Tây Sơn còn dùng kế ly gián, vờ đưa nhầm một lá thư của Nguyễn Hữu Chỉnh (lúc này đang đầu quân cho Tây Sơn) gửi cho phó tướng Hoàng Đình Thể sang cho Phạm Ngô Cầu, làm Cầu không tin vào Thể nữa. Thành Phú Xuân với 5 vạn quân Trịnh đồn trú trong đó đã bị tiêu diệt chỉ trong một ngày.
4/ Trận Ngọc Hồi-Đống Đa năm 1789: Giáo trình quân sự cao cấp của nhiều nước trên thế giới đã lấy trận thắng này làm ví dụ kinh điển để phân tích ve nghệ thuật hành quân thần tốc, công thành cấp tập, tiêu diệt kẻ thù chớp nhoáng. Trong bài học kinh nghiệm rút ra, các chuyên gia quân sự thường gặp nhau ở điểm: trận thắng lớn đã được khởi động rất tốt bởi đội quân tình báo-phản gián Tây Sơn đã làm việc rất tích cực, hiệu quả. Chính nhờ đội quân này mà Quang Trung Nguyễn Huệ đã xây dựng được phương án tối ưu, trong đó mọi chi tiết, biến động chiến trường đều được định liệu trước một cách chính xác và ông đã dám tuyên bố trước ngày hoàn tất chiến thắng của mình trức ba quân tướng sĩ….
Theo tin tức tình báo mà Quang Trung nhận được thì mồng 6 tháng Giêng năm 1789, quân Thanh sẽ tiến công vào Phú Xuân theo hai mũi tiến công bằng đường bộ và bằng đường thủy. Mặt khác, tình báo Tây Sơn còn thông báo chính xác đến từng vị trí phòng thủ, từng cứ điểm quân sự trên vành đai bảo vệ Thăng Long mà Tôn Sĩ Nghị đã bố trí… Nhờ tình báo cung cấp đủ các thông tin chiến lược đúng như yêu cầu của mình nên Quang Trung đã chủ động đưa chiến trường ra tậnThăng Long, vào tận sào huyệt của địch để tiêu diệt địch…
Điều đáng tiếc là do nguyên tắc bảo mật, do sự hủy diệt của triều Nguyễn nên ngày nay chúng ta không thể biết rằng đội quân tình báo-phản gián của vương triều Tây Sơn do ai chỉ huy, gồm bao nhiêu người, được tổ chức cơ cấu, quản lý huấn luyện ra sao…” (Tạp chí đã dẫn, tr.33-37).
(12) + ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
nhận định về cuộc đại phá quân Thanh
“Kháng chiến chống Thanh là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử do phong trào nông dân vươn lên đảm nhiệm. Trải qua 18 năm khởi nghĩa và chiến tranh, quân Tây Sơn đã trưởng thành và dày dạn chiến trận. Đó là một quân đội có tinh thần quyết chiến cao, kỷ luật nghiêm, huấn luyện tốt, tổ chức chặt chẽ, gồm có bộ binh, tượng binh, thủy binh, trang bị nhiều vũ khí lợi hại như đại bác đặt trên mình voi, hỏa hổ, hỏa cầu… Khí thế cách mạng của quần chúng được nhân lên gấp bội với lòng yêu nước, chí căm thù và tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Quân đội Tây Sơn trong hành quân cũng như trong chiến đấu, được sự tham gia ủng hộ về mọi mặt của nhân dân. Tự nguyện gia nhập nghĩa quân, giữ bí mật cho các cánh quân tiếp cận mục tiêu, dựng trận rồng lửa ở Đống Đa, tiếp tế lương thực cho đại quân… đó là những biểu hiện sinh động của một “cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm phát triển đến trình độ cao trong thời đại phong kiến” (Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải cờ đào – Thiên anh hùng ca và Việt Nam ngày nay – Ban KHXH Thành ủy Tp.HCM, 1999, tr.18-19).
+ Trong diễn ca “Lịch sử nước ta” (1941), NGUYỄN ÁI QUỐC viết:
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
Khi trích dẫn và phân tích đoạn diễn ca nói trên, tác giả Phạm Hồng Việt cho rằng Nguyễn Ai Quốc dùng hai chữ “phi thường” để chỉ Nguyễn Huệ chứ không dành cho một nhân vật nào khác trong lịch sử Việt Nam. Sự “phi thường” của Nguyễn Huệ – vẫn theo Phạm Hồng Việt – là sự nhạy bén sáng suốt về chính trị, sự kết hợp nhiều năng lực trong một nhân tài. Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự mà có cả nhãn quan chính trị sáng suốt, không chỉ là thái độ trân trọng đối với giới sĩ phu, trí thức, mà cả những quan điểm ngoại giao cao cả, không chỉ là sự uyên bác về trí tuệ mà cả tính cách tốt đẹp rất “người” của một tinh hoa dân tộc, không chỉ là “chí cả mưu cao” mà cả lòng dân quy tụ. Tất cả là cơ sở, cội nguồn để tạo nên một Nguyễn Huệ “phi thường” (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
+ Hẳn rằng tác giả Murasêva chưa nhận rõ thực chất cuộc xâm lược Việt Nam của nhà Thanh (cuối 1788-đầu 1789) khi tác giả cho rằng:
“Luận điểm phổ biến trong sử sách Việt Nam và nước ngoài cho rằng cuộc hành quân của nhà Thanh vào Việt Nam ngay từ đầu đã mang tính chất xâm lược, vì nó theo đuổi mục đích thôn tính lãnh thổ Việt Nam; theo chúng tôi, cần phải thảo luận ít nhiều. Có đủ bằng chứng để nghĩ rằng hoàng đế Trung Hoa không có ý định thôn tính Việt Nam (!). Trong một lúc nào đó, vấn đề đặt ra trước Càn Long, được tình hình chính trị đương thời quy định là: đảm bảo sự yên tĩnh ở Việt Nam và duy trì nó trong hệ thống các nước phiên thuộc.
Chính sách của Trung Hoa đối với các nước phiên thuộc là công nhận và ủng hộ triều đại đang thống trị, nhưng chỉ khi mà nó chưa có một đối thủ mạnh hơn mình… Chỉ trong một thời gian ngắn, hoàng đế Trung Hoa đã chuyển từ vua Lê đã thực sự suy nhược sang vị thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Huệ và con trai ông ta, rồi sang người cướp ngôi Tây Sơn là Gia Long; bằng cách đó hy vọng tìm được một nhân vật đủ mạnh để ổn định tình hình trong nước Việt Nam.
“(…) Khẳng định rằng hoàng đế Trung Hoa sử dụng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn như một cái cớ để thôn tính là cường điệu. Ai cũng biết rằng xâm lược thì không đòi hỏi phải có cớ; có chung biên giới với nhau là đủ để nẩy sinh những sự kiện bất ngờ, không đâu. Sự kiện 1788-1789 ở Việt Nam tương phản gay gắt với tính chất hòa bình chung của những quan hệ điển hình giữa hai nước trong thời kỳ thống trị của nhà Thanh ở Trung Hoa (!)”. (G.F.Murasêva – Khởi nghĩa Tây Sơn ở Việt Nam và lập trưòng của nhà Thanh (1771-1802) - Phong trào nông dân Tây Sơn dưới mắt người nước ngoài (trích dịch) – Nxb Tổng Hợp Nghĩa Bình 1988, tr.79).
(13) Nhận định ngắn gọn về sự nghiệp của Quang Trung Nguyễn Huệ đối với lịch sử dân tộc, trong phần “Tổng kết” cuốn sách của mình, tác giả Hoa Bằng viết: “Vua Quang Trung trong 21 năm (1771-1792) đấu tranh mấy trận đánh bạt quân Tiêm, năm ngày quét sạch giặc Thanh. Chỉ riêng công nghiệp hai lần chống ngoại xâm ấy cũng đủ viết được những chữ rất hùng vĩ, rất sáng ngời trên trang lịch sử Việt Nam cận đại” (Quang Trung anh hùng dân tộc 1788-1792 – Nxb VHTT, 1998).
Mở đầu phần “Tổng kết” này, tác giả dành ngót ba trang (335-337) giới thiệu nhận định của một nhà báo ngoại quốc đăng trên một tờ báo xuất bản ở Nam Kỳ [rất tiếc tác giả không ghi rõ tờ báo này được xuất bản năm nào ở Nam Kỳ]:
“Trước khi hạ lời tổng kết cả sách này, tôi hãy xin dịch một bài bằng chữ Hán của một nhà báo ngoại quốc viết về “Nguyễn Huệ”… và để giới thiệu với các bạn đọc thân mến “người lịch sử” ấy của chúng ta đối với con mắt người ngoài ra thế nào:
NGUYỄN HUỆ. Hồi thế kỷ XVIII, Việt Nam nảy một vị chúa, cưu hùng, cương nghị, chiến công rực rỡ, oai danh ngang với Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Lợi cùng được người đời xưng tụng: ấy là vua Quang Trung Nguyễn Huệ triều Tây Sơn… Năm 1786, Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long, nhất thống được cả bờ cõi ba phần.
Năm 1789 [thực ra là từ năm 1788], vua Kiền Long sai Tôn Sĩ Nghị đem hơn hai vạn quân Lưỡng Quảng và Vân, Qúy sang Nam, thế mạnh như sóng xô lướt. Huệ chỉ có mười vạn quân, nhưng hăng hái xuất phát ra quân kỳ, chế thắng địch, chia quân làm ba đạo, nhân đêm trừ tịch đổ ra đánh úp, huyết chiến hàng sáu ngày đêm; quân Tôn Sĩ Nghị bị thua một cách thảm hại, chết và bị thương đến quá nửa. Trận ấy, Nguyễn Huệ cưỡi voi lớn, thân ra tận tiền tuyến đốc chiến, không nghỉ một chút nào. Chiếc hồng bào Huệ mặc bị khói thuốc súng hun ám thành ra sắc đen.
Nguyễn Huệ suốt đời khéo biết dùng binh, liệu việc như thần. Bộ hạ văn võ như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Vũ Nhậm, Nguyễn Văn Sở [tức Ngô Văn Sở] và Trần Quang Diệu v.v… đều là những tay khai quốc tuấn kiệt cả.
Huệ từng hai lần vào Thăng Long [thực ra là 3 lần), bốn lần hạ Gia Định. Hùng tài như Nguyễn Phúc Ánh cũng không sao chống nổi. Tiếc rằng Trời không cho sống lâu, ở ngôi mới được 5 năm đã bị bịnh mất, khiến người bằng điếu bùi ngùi mất một anh hùng, rồi vận mệnh triều Tây Sơn cũng do đó mà sụp đổ!” (Thần Long “Việt Nam danh nhân dật sử, IV” – Nam Phong Chợ Lớn, tập 2, số 6, tr.23).
(còn tiếp)
Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.
www.trieuxuan.info |