Về phía Tây Sơn, sau khi giải vây Quy Nhơn, Phạm Công Hưng kéo quân vào chiếm thành và tịch biên kho tàng. Nguyễn Nhạc uất giận, thổ huyết chết. Nguyễn Quang Toản liền chiếm đất Quảng Nam, phong cho Nguyễn Bảo (con Nguyễn Nhạc) làm Hiếu Công, ăn lộc một huyện, gọi là “tiểu triều”, rồi cử Lê Trung ở lại giữ thành Quy Nhơn.
Sư kiện này càng đào sâu thêm mâu thuẫn giữa nội bộ anh em Tây Sơn, làm cho lực lượng Tây Sơn càng chia rẽ, suy yếu. Ngay tại triều đình Phú Xuân của Nguyễn Quang Toản (Cảnh Thịnh), các triều thần cũng xung đột, ám hại lẫn nhau. Quang Toản còn nhỏ tuổi, mọi quyền hành nằm trong tay người cậu ruột là thái sư Bùi Đắc Tuyên. Sự chuyên quyền của Tuyên làm cho triều thần oán giận. Năm 1795, Vũ Văn Dũng đem quân vây bắt Bùi Đắc Tuyên và giết luôn những người thuộc bè phái của Tuyên.
Năm đó (1795), Bùi Đắc Tuyên sai Ngô Văn Sở ra Bắc thay Vũ Văn Dũng. Trên đường về Phú Xuân, Văn Dũng gặp Trần Văn Kỷ bấy giờ đã bị tội đi đày. Văn Kỷ nói với Văn Dũng rằng: “Thái sư [tức Bùi Đắc Tuyên] ngồi trùm cả nhân thần, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết; nếu không sớm trừ đi thì có chuyện bất lợi cho nhà nước. Ông nên liệu sớm đi”.
Vũ Văn Dũng về đến Phú Xuân, cùng mưu với Phạm Công Hưng và Nguyễn Văn Huấn, ban đêm mang quân vây nhà Bùi Đắc Tuyên, bắt được Tuyên đem dìm sông cho chết, rồi sai người đưa thư ra Bắc bắt Ngô Văn Sở giải về, cũng đem dìm sông, lại sai Nguyễn Văn Huấn trở vào Quy Nhơn mưu giết Trần Quang Diệu.
Bấy giờ Trần Quang Diệu đang đánh nhau với Võ Tánh và đang vây chặt thành Diên Khánh. Nghe tin, Diệu liền bỏ vây, rút quân về Quy Nhơn, rồi lại rút về đóng quân ở mé sông phía nam làng An Cựu. Vũ Văn Dũng đem quân đóng ở phía bắc đối ngạn với quân của Trần Quang Diệu, lấy cớ vâng mệnh vua ra cự chiến. Nguyễn Quang Toản vội sai quân ra giảng hòa, hai bên mới chịu thôi. Nhưng cũng từ đó, thế lực Tây Sơn suy yếu nhanh chóng, tướng sĩ nhiều người nản lòng, bỏ theo Nguyễn Ánh.
Nắm được tình hình Tây Sơn, tháng 3-1799, Nguyễn Ánh quyết định kéo đại quân ra chiếm Phú Yên rồi vây chặt thành Quy Nhơn. Tướng Tây Sơn là Lê Chất đem 200 quân ra hàng. Quang Toản vội sai Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đem binh vào cứu, nhưng bị quân Nguyễn Ánh đánh bật lại. Trấn thủ thành Quy Nhơn là Lê Văn Thành chờ không thấy viện binh đến, đem cả thành trì và hơn một vạn quân lính ra hàng.
Nguyễn Ánh chiếm Quy Nhơn, đổi tên là thành Bình Định, giao cho Võ Tánh và Ngô Tòng Chu ở lại trấn giữ rồi rút đại binh về Gia Định. Từ năm 1800, lực lượng của Nguyễn Ánh đã trội hơn hẳn lực lượng của Tây Sơn, Ánh quyết định mở cuộc phản công quy mô ra Bắc nhằm tiêu diệt hẳn vương triều Tây Sơn.
+ Đánh chiếm Phú Xuân và Bình Định:
Tháng 2-1800, quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng chỉ huy lại kéo vào vây thành Quy Nhơn; Võ Tánh cố thủ trong thành, không ra đánh. Quang Diệu sai đắp lũy xung quanh thành và vây chặt bốn phía,lại bố trí hai chiếc tàu lớn và hơn 100 chiến thuyền đồng giữ cửa Thị Nại, xây lũy và đặt đại bác hai bên cửa biển đề phòng thủy quân của Nguyễn Ánh kéo ra ứng viện.
Được tin Quy Nhơn bị vây, Nguyễn Ánh lại kéo đại binh ra, sai Nguyễn Văn Thành, Lê Chất đem quân đóng ở vùng Bình Định, còn tự mình chỉ huy 6 tàu chiến và hơn 100 thuyền chiến tiến ra đóng ở phía ngoài cửa biển Thị Nại. Nhưng hai cánh quân thủy bộ của Nguyễn Anh không liên lạc được với nhau, Ánh phải tạm ngừng tấn công một thời gian và tranh thủ đóng thêm chiến thuyền.
Tháng 2-1801, Nguyễn Ánh tập trung lực lượng tấn công thủy quân Tây Sơn ở cửa biển Thị Nại. Thủy quân Tây Sơn tan vỡ, Vũ Văn Dũng phải rút về hợp quân với Trần Quang Diệu vây chặt thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh bèn sai Nguyễn Văn Trương ra đánh chiếm miền Quảng Ngãi và Quảng Nam để chặn đường về của quân Trần Quang Diệu.
Quân của Võ Tánh ở trong thành Quy Nhơn bị vây chặt, bắt đầu khốn đốn vì hết lương thực. Nguyễn Ánh sai người lẻn vào thành bảo Võ Tánh nên bỏ thành mà ra, nhưng Tánh khuyên Nguyễn Ánh nên nhân cơ hội đem quân ra đánh gấp chiếm lấy Phú Xuân. Theo kế của Võ Tánh, Nguyễn Anh để Nguyễn Văn Thành ở lại cầm cự với Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu, còn tự mình kéo đại quân đánh thẳng ra Phú Xuân.
Bị tấn công đột ngột, Quang Toản vội thân hành cầm quân ra chống giữ, nhưng chỉ được hơn một buổi thì quân Tây Sơn tan vỡ, Quang Toản phải bỏ thành chạy trốn (tháng 6-1801). Nguyễn Ánh vào chiếm thành Phú Xuân, sai Lê Chất đuổi theo quân Tây Sơn, lại sai Nguyễn văn Trương đem thủy quân ra đón chặn trước ở sông Gianh, còn các tướng khác thì đi chặn các đường tắt thông với nước Vạn Tượng (Lào), không cho quân Tây Sơn tràn qua. Nhưng Quang Toản đã chạy thoát được ra Bắc hà, còn gia quyến hơn 30 người đều bị bắt.
Nghe tin Phú Xuân thất thủ, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng định bỏ vây để kịp ra cứu, nhưng đã bị tướng của Nguyễn Ánh kéo quân vào chặn đường. Diệu và Dũng phải quay lại ra sức đánh phá thành Quy Nhơn. Võ Tánh và Ngô Tòng Chu bị vây trong thành hơn một năm, lương thực hết sạch, liệu thế không chống cự nổi, phải tự tử. Quân Tây Sơn chiếm được thành Quy Nhơn, nhưng lại bị quân của Nguyễn Ánh bổ vây bốn mặt và tấn công ráo riết. Tháng 3-1802, nhânmột đêm mưa, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem 1000 quân và 100 thớt voi lẻn vào rừng, qua đất Lào để ra Nghệ An.
+ Nguyễn Ánh tiến ra Bắc hà:
Chiếm xong Phú Xuân, Nguyễn Ánh cắt đặt các tướng, bo trí lực lượng phòng giữ các nơi quan yếu từ Bình Định đến sông Gianh. Mặt khác, Ánh sai người mang thư ra chiêu dụ tầng lớp địa chủ ở Thanh Nghệ và Bắc hà, lại sai đem lễ vật và mấy tướng giặc biển người Trung Hoa nộp cho viên tổng đốc Lưỡng Quảng để lấy lòng nhà Thanh.
Về phía Tây Sơn, sau khi chạy ra đến Thăng Long, Quang Toản cố sức thu thập lực lượng để phản công Nguyễn Ánh. Tháng 12-1801, Quang Toản đem 3 vạn quân vượt sông Gianh cùng với 5000 quân của Bùi Thị Xuân (vợ Trần Quang Diệu) đánh lui quân Nguyễn Ánh về Đồng Hới. Được tin, Nguyễn Ánh tự đem đại quân ra tiếp ứng. Tháng 2-1802, quân Tây Sơn đánh vào lũy Trấn Ninh nhưng không thắng, toan rút lui; nhưng Bùi Thị Xuân kiên quyết xin ra đốc chiến, hăng hái cưỡi voi xông lên, đánh suốt từ sáng đến chiều.
Bấy giờ thủy binh ở Nhật Lệ đã bị phá vỡ, Quang Toản nghe tin vội bỏ chạy ra Bắc hà, lưu Nguyễn Văn Thận ở lại giữ Nghệ An. Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng cũng đã theo đường thượng đạo ra Bắc. Sau trận thắng này, Nguyễn Ánh cử các tướng coi giữ Đồng Hới và sông Gianh rồi đem quân về Phú Xuân, lên ngôi hoàng đế, niên hiệu Gia Long (2-5 âm lịch – 1802), chuẩn bị tiến quân ra Bắc hà.
Ngày 16-6-1802, hai đạo quân thủy bộ đi tiên phong do Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt chỉ huy được lệnh xuất phát. Mấy ngày sau, đại quân của Nguyễn Ánh cũng từ Phú Xuân kéo ra. Các căn cứ của Tây Sơn như Hoành Sơn, Hà Trung, Đại Nãi, Vĩnh Dinh, Thanh Hóa lần lượt rơi vào tay quân Nguyễn Ánh. Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đều bị bắt. Vũ Văn Dũng cũng bị địa chủ ở Nông Cống (Thanh Hóa) bắt nộp (7).
Chiếm xong Thanh Nghệ, các cánh quân thủy bộ của Nguyễn Ánh lại tiếp tục kéo ra đánh lấy Tam Điệp, Ninh Bình, Phủ Lý, Nam Định rồi tiến thẳng lên Thăng Long sau một tháng hành quân, kể từ ngày xuất phát ở Phú Xuân. Nguyễn Quang Toản biết thế chống không nổi, cùng các em và bầy tôi vượt sông Hồng chạy lên mạn Bắc Giang, cuối cùng đều bị bắt, chấm dứt vương triều Tây Sơn (8).
*
Phong trào Tây Sơn là một cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân cả nước mà động lực chủ yếu là nông dân. Phong trào liên tiếp lật đổ những chính quyền thống trị suy thoái trong nước và đánh tan các cuộc xâm lược của nước ngoài. Tính chất mãnh liệt của phong trào phản ánh nỗi căm uất của nhiều tầng lớp xã hội đối với các tập đoàn chuyên chế đã hết vai trò lịch sử ở Đàng Trong cũng như ở Đàng Ngoài, do vậy trở thành một phong trào kết tinh cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước và lan rộng nhanh chóng.
Phong trào Tây Sơn –đỉnh cao của phong trào nông dân ở thế kỷ XVIII – tiêu biểu cho tinh thần quật khởi chống áp bức cường quyền và tinh thần đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm. Quang Trung - với những cải cách toàn diện mà chúng tôi sẽ xin đề cập ở phần sau – đã cố gắng tạo một bước ngoặt cho xã hội Việt Nam bứt ra khỏi tình trạng trì trệ kéo dài hàng mấy thế kỷ.
CHÚ THÍCH (Chương Ba)
(1) THÀNH HOÀNG ĐẾ
+ Thành Hoàng Đế nằm ở phía bắc huyện An Nhơn, trên địa phận hai thôn Nam Tân, Bắc Thuận (xã Nhơn Hậu) và thôn Bá Canh (xã Đập Đá), ở phía tây quốc lộ 1, cách thị trấn Bình Định khoảng 10km. Căn cứ các tài liệu lịch sử và những di tích còn lại, thành Hoàng Đế gồm 3 vòng thành (thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm thành. Năm 1799, sau khi chiếm được thành Hoàng Đế, Nguyễn Anh đổi tên là thành Bình Định. Đến năm Gia Long thứ 12 (1813), nhà Nguyễn cho phá dỡ thành cũ, lấy đá ong về xây dựng thành mới ở hai thôn Kim Châu và An Ngãi (thị trấn Bình Định). Từ đó, thành Hoàng Đế bị hủy hoại, hoang phế, nhưng qua bom đạn chiến tranh, dấu vết vẫn chưa bị xóa nhòa tất cả. Chân Tử Cấm thành vẫn còn đó, tạo nên một gờ đất nổi rõ. Một số đoạn thành còn nguyên với những viên đá ong to lớn xếp chồng lên nhau. Trải hơn 200 năm, những viên đá ong vẫn còn sắc cạnh.
Từ trên cao phóng tầm mắt ra xa mới hiểu vì sao nghĩa quân Tây Sơn đã chọn nơi đây làm đại bản doanh của mình. Hai dòng sông Đập Đá và La Vĩ như hai cánh tay ôm lấy thành từ hai mặt bắc, nam và gặp nhau dưới chân núi Mò O về phía đông-bắc của thành. Tương truyền sông La Vĩ là do Nguyễn Nhạc đào để tạo cho thành Hoàng Đế cái thế “tứ thủy triều quy” (?). Hai con sông này có tác dụng như một hệ thống hào thiên nhiên bảo vệ thành, đồng thời là những con đường thủy thuận lợi. Bến Gỗ ở phía tây-bắc thành là di tích của bến thuyền xưa. Từ đó có thể ngược lên sông Côn và xuôi xuống sông Đại An ra cửa biển Thị Nại… Ngược lại thời gian, cũng chính tại đây từng là kinh thành Vijaya (Đồ Bàn, Chà Bàn, Trà Bàn…), đế đô của vương quốc Champa trong hơn 4 thế kỷ, sau khi dời đô từ Quảng Nam vào khoảng năm 982-983 (Tham khảo: Ngọc Minh – Về lại đất Kinh xưa – Tạp chí Xưa và Nay, số 92/6-2001).
+ Thành Hoàng Đế khác thành Đồ Bàn như thế nào? Sau năm 1471, thành Đồ Bàn bị bỏ hoang, dần dần đổ nát. Dựa vào một số di chỉ tường thành, nền cung điện, các tháp, tượng trang trí, các tác giả nước ta mô tả lại như sau: “Thành Chà Bàn (Đồ Bàn) dựa vào núi Long Cốt để làm thế vững. Thành hình vuông, rộng hơn 10 dặm, mở 4 cửa. Xây bằng gạch, rào gỗ, tuy không có hào rãnh mà vẫn kiên cố. Trong thành có các thắng cảnh như tháp Tiên Sí (Cánh Tiên), gác Thiên Lan” (Ghi chép về thành Chà Bàn – Tổng đốc Bình Phú quan phòng Phan Huy Dũng và Trần Tiến Hối, triều Thành Thái, tài liệu lưu trữ, Phòng nghiên cứu Thư viện Bình Định).
Tính từ khi bị bỏ phế (1471) đến khi Nguyễn Nhạc đến dựng thành Hoàng Đế (1776), thành Đồ Bàn đã trải qua 306 năm trong cảnh hoang vắng, đìu hiu. Suốt thời các chúa Nguyễn Đàng Trong cũng không thấy thành được chăm sóc hay sử dụng vào việc gì. Trên cơ sở một cơ ngơi điêu tàn như vậy, Nguyễn Nhạc gần như phải kiến thiết hoàn toàn mới. Cũng tài liệu dẫn trên, xin trích đoạn tả thành Hoàng Đế: “Thành sửa đắp mở rộng về phía đông, dáng thẳng đứng, chu vi 25 dặm (hơn thành Đồ Bàn 15 dặm), tôn cao tường thành, xây bằng đá ong, cao 1 trượng 4 thước, dày 2 trượng. Thành có 5 cửa tầng [ngoài 4 cửa cũ, mở thêm cửa Tân Khai – T.T.H.T.]… Nay chỗ Quán Dốc trên đường quan lộ tức là cửa tả môn của thành đi ra hướng bắc, xế về phía tây đến cầu Thập Tháp, nơi đó là di chỉ của thành Chà Bàn xưa… Các phía đông nam, đông bắc, tây bắc đều có những gò đất có lẽ đắp khi thành bị vây. Phía tây thành đắp thành nội và thành con (tử cấm thành)…, phía trong thành con dựng điện Bát giác, nay là chỗ mộ của Võ Tánh…”. Sau đây là bảng so sánh hai thành:
|
Thành Đồ Bàn
|
Thành HoàngĐế
|
Chu vi
|
10 dặm
|
25 dặm
|
Khung thành
|
Hình vuông
|
Hình chữ nhật
|
Chất liệu
|
Xây bằng gạch
|
Đất và đá ong
|
Số vòng thành
|
Không thấy nói rõ
|
3 vòng
|
Số cửa thành ngoại
|
4 cửa
|
5 cửa tầng
|
Các gò đất
|
Không thấy nói rõ
|
3 gò đất
|
Các nền nhà cung điện
|
Không thấy nói rõ
|
Còn lầu Bát Giác và một vài nền nhà
|
Bảng so sánh trên cho thấy thành Đồ Bàn tuy có trước nhưng đã bị tiêu hủy gần hết và địa phận của nó chỉ là một phần thuộc về địa phận của thành Hoàng Đế. Những di tích về thành quách còn lại là di tích của thành Hoàng Đế. Còn thành Đồ Bàn chỉ lưu lại một số di vật của nền văn hóa Champa cổ gồm các tượng đá, các ngôi tháp mà những người xây dựng thành Hoàng Đế đã sử dụng để trang trí cho thêm phần đẹp đẽ, uy nghiêm…
Trong vòng 10 năm (1776-1786), thành Hoàng Đế là đại bản doanh của bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn. Từ đây xuất phát hàng loạt cuộc tấn công dũng mãnh…, lật đổ chế độ chúa Nguyễn Đàng Trong, vượt biển vào nam lập chiến công Rạch Gầm-Xoài Mút. Sau đó, cũng từ thành Hoàng Đế, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra bắc lật đổ chúa Trịnh lập lại thống nhất nước nhà… (Tham khảo Trần Thị Huyền Trang – Tản mạn xung quanh thành Hoàng Đế – Tạp chí Xưa và Nay, số 48B/2-1998).
(2) NGUYỄN LỮ:
Tham khảo Nguyễn Xuân Nhân (Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.70): Nguyễn Lữ là người thành tín, nhân hậu… Trong lúc Nguyễn Huệ và Trần Quang Diệu đi về vùng xuôi thu phục nhân kiệt thì thầy Tư Lữ giúp Nguyễn Nhạc tới các làng người Thượng tiếp xúc, thu phục các tù trưởng, góp phần xây dựng hậu cứ vững chắc, cung cấp người, voi, ngựa… cho Tây Sơn khởi binh. Những ngày chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Lữ được anh giao lo kinh tế, tài chính cùng Nguyễn Thung và Bùi Thị Xuân. Kho tích trữ lương thực của Nguyễn Lữ đóng ở núi Đồng Phong, xã Bình Giang, cũng là trạm phát lương cho nghĩa quân, về sau núi này gọi là hòn Lĩnh Lương…
Buổi đầu Nguyễn Lữ vào trấn nhậm Gia Định có đô úy Đặng Văn Trấn và tướng Phạm Văn Tham phò tá… Nghe tin anh em Tây Sơn bất hòa, Nguyễn Anh từ Xiêm trở về Gia Định (1787), dùng kế ly gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ và tướng Phạm Văn Tham. Khi Nguyễn Anh tiến đánh thành Gia Định (1788), Nguyễn Lữ ngờ vực Phạm Văn Tham, bỏ thành Gia Định chạy về Quy Nhơn… Ngừời sau có kẻ bảo Nguyễn Lữ buồn rầu rối ốm chết, có người kể ông trở lên miền ngược sống cùng bà con người Thượng…
(3) VỀ BÁ ĐA LỘC
Nhận xét về Bá đa lộc, tác giả Rieunier cho rằng: giám mục này đã giốc toàn tâm vào ý định phục hồi ngai vàng cho Nguyễn Ánh. Phải nói rằng không ai thay thế được vai trò này của ông, vì ông hiểu biết sâu sắc đặc điểm của dân An Nam, và với năng lực cảm nhận nhạy bén, Bá đa lộc dự kiến rằng nước Pháp có thể đón đợi một tương lai rực rỡ một khi biết khai thác mọi tài nguyên của xứ này cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh châu Âu đối với một dân tộc vừa hiền lành vừa thông minh như dân tộc này.
Và ngược lại, về phía Nguyễn Ánh (về sau là Gia Long) - vẫn theo Rieunier - thì ngay khi Bá đa lộc còn sống, tuy nhà vua biểu hiện tình bạn thắm thiết và biết ơn, nhưng cũng chỉ dừng lại ở ý định nhờ người Pháp giúp ông dễ dàng hơn trong việc khôi phục ngai vàng, nói cụ thể hơn là giúp ông có được một tổ chức và trang bị quân sự mạnh. Những lời khuyên của Gia Long đối với đứa con sẽ kế vị mình [ý nói Minh Mạng] gợi lên khá trọn vẹn ý đồ sâu kín của Gia Long... Những ưu đãi có vẻ rất rộng lượng thực ra nhằm che giấu một ý đồ - mà đến phút chót mới bộc lộ ra - là phải rũ bỏ mọi sự kìm tỏa của giáo sĩ và người Pháp để tự mình quyết liệu mọi việc khi xuất hiện cơ hội thuận lợi (H.Abel [tức Rieunier] - La question de Cochinchine au point de vue des intérêts francais - Paris, 1864, p.7-10).
Theo G.Taboulet (Sách đã dẫn, tr.213), trong 10 năm sống với Nguyễn Ánh và các sĩ quan người Pháp trong bộ tham nưu của nhà vua, Bá đa lộc đóng vai trò một cố vấn, một người chỉ đạo kỹ thuật, một người cổ vũ. Bá đa lộc có quyết tâm chống lại Tây Sơn chẳng kém gì Nguyễn Ánh.
Vẫn theo Georges Taboulet, "những thắng lợi của Tây Sơn trong cuộc chiến với Nguyễn Ánh trải nhiều năm chứng tỏ Tây Sơn có những phương tiện chiến đấu rất đáng gờm. Giám mục Bá đa lộc hiểu rất rõ rằng Nguyễn Ánh không thể nào thắng nổi Tây Sơn nếu không được trang bị một kỹ thuật quân sự hiệu quả hơn… Do không nhận được viện trợ (theo hiệp ước Versailles), Bá đa lộc đành phải tìm cách cung cấp cho Nguyễn Ánh một số quân nhân Pháp càng nhiều càng tốt. Phần lớn những người Âu tình nguyện giúp Nguyễn Ánh đều do Bá đa lộc trực tiếp tuyển mộ... Vấn đề cần làm rõ thêm là có bao nhiêu người Pháp đã đến giúp Nguyễn Ánh?" (tr.241).
(4) NGUYỄN ÁNH CẦU VIỆN PHÁP
+ Theo tác giả J.Chesneaux: “Sự giúp đỡ của Pigneau de Béhaine và đồng bọn như Olivier de Puymanel, Chaigneau, Vanier thường được các sử gia phương Tây đề cao. Dù sao, sự viện trợ này cũng giúp Nguyễn Anh thành lập một đạo thủy quân, xây dựng thành phòng thủ theo kiểu Vauban và làm cho quân Tây Sơn từ năm 1791 phải lùi dần…” (Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne – Paris 1955).
(5) NGUYỄN ÁNH LIÊN KẾT VỚI TÀN DƯ NHÀ LÊ Ở BẮC HÀ:
Theo GS.Phan Huy Lê, “năm 1790 đã hình thành một sự liên kết giữa lực lượng tàn dư của nhà Lê ở phía bắc, lực lượng Nguyễn Anh ở phía nam với một số thế lực chống đối ở nước ngoài. Một kế hoạch tấn công vương triêu Tây Sơn được xác lập:
+ Lê Duy Chỉ là em ruột Lê Chiêu Thống tập hợp lực lượng chống Tây Sơn ở vùng biên giới phía bắc mà căn cứ chính là Bảo Lạc (Cao Bằng). Lê Duy Chỉ được một số quan lại địa phương nhà Thanh giúp đỡ và cho người sang liên kết với Vạn Tượng và Xiêm. Từ đây, Lê Duy Chi sẽ đánh xuống Tuyên Quang, Thái Nguyên, uy hiếp Thăng Long.
+ Phong kiến Xiêm đang thống trị Vạn Tượng, lập nên vương triều Chậu Nan (1782-1792) thân Xiêm. Vua Xiêm thúc ép Chậu Nan cùng một số Chậu Mường vùng Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quy Hợp đánh phá vùng Nghệ An, Thanh Hóa.
+ Nguyễn Anh đã chiếm lại Gia Định, sẽ đánh ra vùng Bình Thuận thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Nhạc.
Quang Trung đã cử sứ giả sang Viêng Chăn thông hiếu nhưng bị thế lực thân Xiêm bắt giữ và giải sang Xiêm. Trước âm mưu liên kết nguy hiểm đó, Quang Trung quyết định mở cuộc tấn công, kiên quyết và chủ động phá tan kế hoạch của chúng. Năm 1791, đốc trấn Nghệ An là Trần Quang Diệu được lệnh cùng đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem một đạo quân tinh nhuệ tiến về phía tây, đánh tan lực lượng thân Xiêm ở Vạn Tượng. Trong 5 tháng, quân Tây Sơn nhanh chóng đánh đuổi quân Xiêm ra khỏi Viêng Chăn, truy kích đến tận biên giới Xiêm rồi rút quân về nước (Liệt truyện).
Cùng lúc ấy, một đạo quân Tây Sơn khác từ Thăng Long tiến lên phía bắc tiêu diệt lực lượng Lê Duy Chỉ, san bằng căn cứ Bảo Lạc (theo Liệt truyện, đạo quân Trần Quang Diệu từ Vạn Tượng rút về nước, rồi lại được lệnh tiến lên Bảo Lạc). Lê Duy Chỉ bị bắt sống, đem về Phú Xuân trị tội. Bằng hai đòn tấn công đó, thế lực chống Tây Sơn ở phía bắc bị đập tan. Trong cuộc tấn công sang Vạn Tượng, quân Tây Sơn được nhân dân và nhiều tù trưởng yêu nước Lào đồng tình, hưởng ứng cùng chống lại quân Xiêm. Biên niên sử Lào ghi nhận sự kiện trên và cho biết cụ thể: Châu mường Xiêng Khoảng đã đem 3000 quân phối hợp chiến đấu với quân Tây Sơn (Mahả Xila Viravong – Lịch sử Lào từ thượng cổ đến giữa thế kỷ XIX – Nxb Giáo dục Viêng Chăn 1957). Vùng Viêng Chăn còn lưu truyền đến nay một bài ca dân gian kể lại cuộc tiến công của quân Tây Sơn và phản ánh thái độ ủng hộ của nhân dân Lào (Văn Linh – Đất nước hoa Chămpa – Nxb Phổ thông, Hà Nội 1972). (Tác động và ảnh hưởng của Phong trào Tây Sơn trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XVIII – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).
(6) SỰ GIÚP ĐỠ CỦA BÁ ĐA LỘC
G. Taboulet dẫn Alexis Faure, cho biết: có 396 sĩ quan, thủy thủ, binh lính và thợ đã rời bỏ các tàu Pháp bấy giờ đang qua lại trên biển Đông vào những năm 1788-89, phần lớn trong số này đã tham gia thủy quân hoặc có mặt trong các binh chủng khác của Nguyễn Ánh. G.Taboulet cho rằng con số này không đáng tin cậy, vì khả năng tài chính của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ không thể trả lương cho một số lượng quân nhân Pháp lớn như vậy. Hẳn rằng Nguyễn Ánh chỉ yêu cầu sự giúp đỡ của một số sĩ quan và kỹ thuật viên, chứ không phải là thu nhận bất cứ quân nhân nào, dù họ chẳng có chuyên môn gì.
G.Taboulet cũng dẫn Vannier cho rằng: số người Pháp giúp Nguyễn Ánh vào thời điểm cao nhất cũng chỉ có 14 sĩ quan và 80 quân nhân. Con số này phần nào phù hợp với nội dung trong một bức thư của giám mục Bá đa lộc (đề ngày 18-7-1794) cho biết có 40 người Âu trong bộ binh của Nguyễn Ánh, và như vậy thì có thể có một số người Âu tương đương trên các chiến thuyền bằng đồng của Nguyễn Ánh.
Từ những nguồn tư liệu như trên, G.Taboulet ước đoán số người Pháp được giám mục Bá đa lộc mang về cho Nguyễn Ánh chỉ khoảng 100 người mà thôi, và không phải đều là "những kẻ phiêu lưu vong mạng" (tr.240). Riêng số sĩ quan hải quân Pháp thì đều xuất thân từ lực lượng tình nguyện của Hải quân và sẽ có thể trở thành những sĩ quan của Hải quân Hoàng gia. Một số xuất thân gia đình quý phái. Muốn đăng ký vào lực lượng này, ít nhất phải là con cái thiếu úy hải quân hoặc thuộc gia đình giàu sang, các nhà buôn có vốn lớn...
Bàn về tác dụng của số người Pháp này - vẫn theo G.Taboulet - tuy số lượng ít, nhưng họ đóng vai trò hạt nhân, vai trò bộ tham mưu, vai trò những người truyền dạy khoa học kỹ thuật phương Tây; do vậy mỗi người đều có vai trò quyết định trong các cuộc hành quân. G.Taboulet dẫn Vaillant (chỉ huy tàu "Bonite" năm 1835): chính là những sĩ quan Pháp được Bá đa lộc mang đến đã quyết định chiến thắng của Nguyễn Ánh đối với Tây Sơn. Có nhiều người Pháp đến giúp Nguyễn Ánh nhưng vai trò của họ còn ít được biết đến, như DESPERLES, de FORCANZ, Girard de l' ISLE-SALLÉ, GUILLON, GUILLOUX, LENET, Magon de MÉDINE, MALESPINE, ROLAND, TARDIVOT v.v...
Sau đây là một số người Pháp - mà lịch sử còn ghi lại tên tuổi - đã từng sống một thời gian dài ở Cochinchine và đã đóng những vai trò đặc biệt quan trọng:
LEBRUN và OLIVIER DE PUYMANEL: Théodore Lebrun đến Nam Kỳ trên tàu “Méduse”. Từ năm 1789, Nguyễn Ánh quyết định củng cố vững chắc địa bàn Sài Gòn và đã giao cho Lebrun và Olivier de Puymanel xây một thành lũy và "một thành phố kiểu Âu châu". Có thể nói Lebrun là người đầu tiên bắt tay xây dựng đô thị Sài Gòn.
Theo G.Taboulet, vai trò thực sự của hai sĩ quan này thật khó xác định, thế nhưng có lẽ vai trò Lebrun ít quan trọng hơn Olivier. Sức trẻ của Olivier làm cho Lebrun mờ nhạt dần và ngày càng phụ thuộc vào Olivier. Có lẽ đây là một lý do khiến Lebrun quyết định rời Sài Gòn sang Macao vào đầu năm 1792.
Đồ án xây dựng thành phố Sài Gòn hình như do Lebrun thiết kế. Đây là đồ án một thành phố kiểu phương Tây với khoảng 40 đường phố chính, rộng từ 15-30m cắt ngang nhau theo hình thước thợ. Bao bọc thành phố là một vòng thành khép kín, cách từng đọan dựng một pháo đài. Thế nhưng có lẽ đây là đề án trong dự kiến lâu dài, do vậy chưa hề được bắt tay thực hiện. Trái lại, toà thành - người thiết kế chính là Olivier - đã được nhanh chóng thi công. Đây là một tòa thành hình tam giác xây bằng đá Biên Hoà, tường thành cao 6m và có 8 cửa. Năm 1832, vua Minh Mạng ra lệnh phá hủy hoàn toàn toà thành này (sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi). G.Taboulet dẫn L.Malleret: "Việc xây tòa thành bát giác vào thời bấy giờ là cả một công trình đồ sộ, phải huy động một lực lượng nhân công khổng lồ. Dân chúng gánh chịu nạn lao dịch khắc nghiệt và họ đã toan nổi dậy. Còn có khoảng 30 toà thành theo kiểu Vauban đã được xây dựng trước khi Olivier mất và do những đệ tử người Việt của Olivier xây tiếp. Các tòa thành này hiện còn dấu tích ở nhiều thành phố Việt Nam, minh chứng sự đóng góp của người Pháp, của tư duy Pháp, là cội nguồn thắng lợi của Nguyễn Ánh" (Eléments d'une monographie des anciennes fortifications et citadelles de Saigon - BSEI, 1935, p.5-108).
G.Taboulet dẫn thêm bức thư của lãnh sự Pháp ở Quảng Đông gửi bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp đề ngày 29-12-1791 (Kho lưu trữ bộ Ngoại giao - Mémoires et Documents, t.19, p.375): "Các ông Olivier và Lebrun lập một đề án xây dựng một thành phố chiến lũy (ville fortifiée). Nhà vua [Nguyễn Ánh] cũng muốn có một thành phố như vậy, nhưng còn phải chờ dịp thuận lợi hơn. Đề án này đã làm dân chúng bất bình vì phải phá hủy nhiều nhà cửa, phải huy động 30.000 dân phu. Dân chúng và nhiều quan lại đã nổi dậy. Olivier và Lebrun phải trốn tránh vì bị coi là những kẻ gây tai họa" (Sách đã dẫn, tr.242-243).
Riêng Olivier, sinh năm 1768, xuất thân từ một gia đình quý phái, từ bé đã có năng khiếu về toán học và kỹ thuật xây thành lũy, ông nhanh chóng đóng vai trò như một trưởng ban tham mưu (còn gọi là ông TÍN). Ông thành lập cho Nguyễn Ánh những đội pháo binh và công binh huấn luyện theo kiểu Âu châu mà thực tế là một trường học quân sự, một vườn ươm những võ quan tương lai cho quân đội Nguyễn Ánh. Ông phát triển việc sử dụng các loại súng đại bác, thành lập một đơn vị pháo binh dã chiến. Là một kỹ sư xuất sắc, ông xây dựng một thành lũy kiên cố ở Sài Gòn như đã nói ở trên, lập những xưởng đóng tàu, chế tạo đại bác, súng cối và các vũ khí khác. Năm 1790, Olivier gửi vua Louis XVI một báo cáo về việc thám sát sông Mékong (?). Năm 1793, khi đang vây thành Quy Nhơn, ông đề nghị Nguyễn Ánh sử dụng một khinh khí cầu để ném chất phóng hỏa xuống Quy Nhơn, nhưng Nguyễn Ánh không dám thực hiện vì e rằng "dân chúng trong thành phố sẽ chết như cá trong ao bị tát cạn nước". Có thể nói Olivier de Puymanel là người đã góp phần hiệu quả nhất trong số những người Pháp giúp Nguyễn Ánh giành chiến thắng.
(còn tiếp)
Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.
www.trieuxuan.info |