tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
31.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (17)

CHÚ THÍCH


(Chương Sáu)


Theo tác giả Lê Thành Khôi:


“Trong lãnh vực văn hóa, Quang Trung muốn rèn luyện một tinh thần dân tộc giải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa bằng việc thay chữ Hán cổ điển bằng chữ Nôm. Thứ chữ dân tộc bị các nhà nho xem khinh này chỉ được hai ông vua đề cao: Hồ Qúy Ly và Quang Trung. Nhưng nếu như người thứ nhất [Hồ Qúy Ly] không dám đưa nó lên thành một thứ chữ quan phương thì Quang Trung đã làm như vậy. Người ta viết các văn bản nhà nước bằng chữ Nôm, các bài văn tế, các bài hịch bằng chữ Nôm. Trong thi cử, kỳ thi thứ ba gồm thơ phú bằng chữ Nôm. Năm 1791, Quang Trung thành lập một học viện do Nguyễn Thiếp điều khiển, chuyên lo việc giáo dục và dịch các kinh ra văn Nôm.


 


“Sự nghiệp này, tiếc thay , bị thất tán khi nhà Tây Sơn đổ. Nó vấp phải một sự phản đối dữ dội của bọn hủ nho. Một điển hình là Phạm Thái, một kẻ theo Lê đã đáp lại bài “Tụng Tây Hồ” của Nguyễn Huy Lượng bằng một bài phản tụng cùng vần, trong đó tác giả chế giễu chữ Nôm như “cua bò”. Mặc dầu Phạm Thái khinh bỉ chữ viết dân tộc, nhưng ông vẫn viết bài thơ lãng mạn “Sơ kính tân trang” của mình bằng chữ Nôm, nội dung tác phẩm than khóc một mối tình bất hạnh. Nhưng nhà Nguyễn Gia Long sau đó lại phục hồi địa vị ưu thế của chữ Hán”. (Lê Thành Khôi – Histoire du Viet Nam des origines à 1858 – Paris 1981)


 


(2)   VĂN HỌC THỜI TÂY SƠN


 + Nhân bàn về “Văn học thời Tây Sơn”, GS. Mai Quốc Liên cho rằng:


“Phải chờ một Ngô Thì Nhậm đến với văn học thời Tây Sơn và Ngô Thì Nhậm sẽ là tập đại thành…, là người viết nhiều nhất, viết đủ các thể loại phong phú, đa dạng… về chủ đề yêu nước… Điều quan trọng đặc biệt là chủ đề ấy được Ngô Thì Nhậm khơi sâu với một chiều sâu hiếm thấy bằng tâm huyết, tài năng, tư tưởng của mình, tạo nên một hòn núi hùng vĩ trong thơ văn thế kỷ XVIII (…). Ngô Thì Nhậm đã có những cống hiến trực tiếp, “những cống hiến vô cùng xuất sắc trên mọi lãnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao” (Vũ Khiêu), và việc đó có thể đã hoàn toàn chiếm lĩnh tâm tư của ông, khiến cho việc sáng tác thơ văn lùi vào bình diện thứ hai (…).


            “Có thể hình dung ra người đã là kiến trúc sư cho cuộc rút quân chiến lược về Tam Điệp – và như vậy đã góp công trực tiếp vào chiến thắng Đống Đa như lời đánh giá của chính Nguyễn Huệ (…). Nguyễn Huệ đã ân cần trao cho Ngô Thì Nhậm phụ trách công việc bang giao, một công việc cực kỳ tế nhị khó khăn, một công việc có liên quan đến an nguy của đất nước. Và tác phẩm văn chương của Ngô Thì Nhậm trong trường hợp đó lại chính là những văn kiện ngoại giao do ông khởi thảo…, “dùng ngòi bút thay giáp binh…” (Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn – Sở VHTT Nghĩa Bình, 1985, tr.116-167).


            + Nhà thơ Lưu Trọng Lư, khi điểm lại nhiều gương mặt tác gia thời Tây Sơn – mà nổi bật là Ngô Thì Nhậm – nhận xét:


“Trong những nhà thơ, nhà văn đến với Quang Trung có những tài năng trác việt…, chính vì đề tài Quang Trung đã đưa lại cho những nhà thơ, nhà văn ấy một sức cảm xúc tuyệt vời… Người anh hùng Quang Trung đã và sẽ cho những nhà văn nhà thơ đương thời và cả những kẻ đến sau một sức cảm hứng tuyệt diệu, một sức bút tuyệt vời, vô tận” (Người anh hùng áo vải qua thơ văn - Ao vải cờ đào - Sở VHTT NGHĨA BÌNH, 1983 tr.11).


 


            + GS. Vũ Khiêu đánh giá Ngô Thì Nhậm:


            “Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746 trong một gia đình đại thế tộc, đã từng đời đời đỗ đại khoa và nhận tước lộc cao nhất của triều đình (…). Đỗ tiến sĩ năm 1775, ông đã tiến rất nhanh trên bậc thang của danh vọng. Làm án sát Hải Dương rồi làm đốc đồng hai trấn Bắc Ninh và Thái Nguyên, ông đã tỏ ra là một thanh niên lỗi lạc, văn võ kiêm toàn…”.


Về quan hệ giữa Quang Trung và Ngô Thì Nhậm, GS.Vũ Khiêu viết:


“Trong không khí gàn dở và bảo thủ [bấy giờ] của giới nho sĩ, Ngô Thì Nhậm đã nổi bật lên như con chim phượng hoàng đứng giữa một đàn gà vậy. Ong đã đi với Quang Trung một cách kiên quyết nhất. Thái độ tiêu dao, lánh đời, tự tách mình ra khỏi cuộc đấu tranh sôi sục giữa các phe phái bỗng chuyển thành một khí phách anh hùng, một tài năng lỗi lạc, một nhiệt tình cháy bỏng dưới sự lãnh đạo của Quang Trung (…).


 


“Cuộc gặp gỡ giữa Quang Trung và Ngô Thì Nhậm là một gặp gỡ kỳ diệu giữa người trí thức lỗi lạc với người anh hùng kiệt xuất. Có thể nói Ngô Thì Nhậm là người duy nhất đã hiểu rõ Quang Trung và Quang Trung cũng là người duy nhất hiểu hết được tài năng và phẩm chất của Ngô Thì Nhậm. Quang Trung tuyên bố “Ngô Thì Nhậm vừa là bầy tôi vừa là khách”, coi ông như người đáng tin cậy nhất và giao ngay những công việc rất quan trọng (…).


“Thơ văn của Ngô Thì Nhậm đã nói nhiều về Quang Trung với tấm lòng yêu qúy và kính phục rất sâu sắc. Ong kể lại những buổi vào triều gặp Quang Trung. Nhà vua đã ra làm việc không có cờ quạt chiêng trống và một chút nghi thức nào. Người đã đến làm việc rất sớm, dáng đi thoăn thoắt, lại luôn luôn tươi cười và hay châm biếm. Nhưng con người giản dị ấy lại là một vị anh hùng vĩ đại:


Muôn đội con rồng đang lượn lờ ôm quanh ngọc hoàng,


Gặp khi uy thế tràn khắp bốn biển, bỗng cùng tung bay,


Quét sạch mù khói dày đặc làm tươi sáng màu thu


Giữa trời lại rạng đỏ màu thái dương như trước.


(Đại phong)


      “(…) Ngô Thì Nhậm là một người học giỏi đỗ cao, văn chương lỗi lạc, nhưng không chỉ giỏi về văn mà giỏi cả về võ. Chỉ riêng Quang Trung mới hiểu rõ điều ấy… Đặt cao lên trên tất cả các võ tướng xuất sắc của mình, Quang Trung đã cử Ngô Thì Nhậm làm Binh bộ thượng thư, giúp mình xây dựng một đội quân hùng mạnh để bảo vệ đất nước” (Thơ Ngô Thì Nhậm (Tuyển dịch) – Nxb Văn Học, Hà Nội 1986, tr.20-23).


 


(3) Tham khảo Quách Tấn-Quách Giao:


Khoa thi Văn, gọi là khoa Minh Kinh, có nhiều người ở miền trong ra ứng thí. Trúng tuyển vào hạng ưu có:


      - Phan Văn Biên ở Phú Yên, giỏi kinh sử, thạo âm nhạc, rành toán pháp; đậu xong được bổ ngay làm huấn đạo.


- Đinh Sĩ An người Bình Khê. Thơ văn thanh khoáng. Đậu xong được bổ làm việc ở Nội các với hàm Hàn lâm.


- Phạm Văn Tung người Phú Mỹ; hiệp trấn Phú Yên


- Trần Trọng Vỹ người Hoài An; thơ hay, được bổ làm Thị lang bộ Lễ.


      - Đặng Sĩ Nguyên người Quảng Nghĩa, sơ bổ làm biên tu.


      - Đặng Mộng Kỳ người Quảng Nam, tài kiêm văn võ.


      - Lý Xuân Tá người Quảng Nam, giữ chức An phủ ở Phú Yên.           


            Ở Thuận Hóa và Bắc hà cũng có nhiều người thi đậu. Đặng Cao Phong (Trung thư thị lang) là một ví dụ.


            Khoa thi võ có hai người xuất sắc là Phan Cần Chính người Phù Cát và Lê Sĩ Hoàng người Quảng Nam. (Tham khảo: Quách Tấn-Quách Giao – Nhà Tây Sơn – Nxb Trẻ, 2000, tr.149)


(4)   TS.Phạm Văn Đấu và TS.Hà Mạnh Kha cung cấp một vài tư liệu về tình hình giáo dục thời Tây Sơn trên địa bàn Thanh Hoá:


“Về mặt giáo dục…, sự việc có ý nghĩa nhất của vương triều Tây Sơn trên đất Thanh Hoá đó là cho sửa sang tu chỉnh lại các Văn Thánh, điển hình như việc tu sửa lại hai Văn Thánh lớn ở phủ Thiệu Thiên và phủ Tĩnh Gia”. Vẫn theo các tác giả, văn bia Phủ Cảnh mới được biết đến gần đây có niên đại Cảnh Thịnh thứ 6 cho biết: Hoáng thái tử Tuyên quận công Nguyễn Quang Bàn đã “nêu cao đạo học” băng cách cho sửa sang lại Văn Thánh phủ Tĩnh Gia, mua sắm thêm các đồ cúng tế đủ cho mọi việc phụng sự ở Văn Thánh này. Đích thân Nguyễn Quang Bàn đã “tiến dâng chuông lớn một quả, trống lớn một cái có đủ giá treo và người coi sóc”. Đến triều Gia Long, Văn Thánh này bị phá hủy, chỉ còn lại một tấm bia bị đục mất niên hiệu và hai con rùa đá lớn (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


             (5)  ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO:


         + Thư của một giáo sĩ Pháp thuộc Hội Truyền giáo ngoại quốc, viết năm 1786:


“Mọi việc trong vương quốc đều đang rối ren, khắp nơi xẩy ra các vụ ám sát, cướp bóc, đốt nhà. Tây Sơn phái quân lính hết nơi này đến nơi khác đuổi bắt bọn ăn cắp. Họ thi hành một nền công lý khắc nghiệt. Họ chém đầu ngay kẻ ăn trộm bị tố cáo hay bị kết tội ăn trộm, không cần xét xử lâu. Khắp nơi ca tụng sự vô tư của họ, vì họ chẳng cướp bóc của ai…” (J.Chesneaux dẫn trong Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne – Paris 1955).


 


            + Thư của một giáo sĩ khác: Lúc này, chúng tôi được hưởng hòa bình ở Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài… Các quan lại Tây Sơn đều bận rộn công việc. Nhà Tây Sơn vừa mới chọn được ba viên quan để cầm đầu chính quyền. Cả ba người đều là những kẻ nhân từ, can đảm và được nhân dân tín nhiệm…” (J.Chesneaux dẫn trong Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne – Paris 1955).


             


+ Tại Thanh Hóa: Cùng với việc tiến cúng trống đồng vào đền thờ thần, vương triều Tây Sơn còn cho tu sửa nhiều di tích tôn giáo, tín ngưỡng, đình chùa miếu mạo khác. Điển hình là việc đúc thêm chuông mới và tu sửa chùa Hoàng Môn ( một ngôi chùa lớn ở xã Hoàng  Đạt, huyện Hoàng Hóa), hoặc cho đắp thêm đường vào đên thờ ở chân núi Mã Yên (huyện Đông Sơn), được bia khắc trên núi Đông Sơn ghi lại (Tham khảo TS.Phạm Văn Đấu va TS.Hà Mạnh Khoa - Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


           


 


P H Ụ   L Ụ C


 


PHU LỤC 1


 


HỊCH TÂY SƠN


Bằng theo hành động và những lời tuyên bố của Nguyễn Huệ lúc tiến quân ra Bắc lần thứ nhất thì có lẽ bài hịch này do ông cho truyền đi lúc cất quân 91786). Nhưng hiện chưa có lời chứng xác đáng của những người đương thời để khẳng định điều đó.


 


Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đấng quân sư;


Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách.


Hội thuận ứng (1) thế đừng được chửa?


Việc chinh tru (2) lòng há muốn ru!


            Đây:


Bẩm khí trới Nam,


Vốn dòng họ Nguyễn.


Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử giả ơn Hàn (3);


An cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào Man dòm vạc Hán (4).


Giận quốc phó (5) ra lòng bội thượng,


Nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương (6).


Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé;


Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng dân sa hốn lầm than.


Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân (7),


At dấu cũ lại cơ đồ Hữu Hạ (8).


Nào biết ngôi đời có bảy, giặc họ Trương toan phiến biến mười tuần (9);Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước (10).


Thế bạng duật (11) đương còn đối mặt;


Thói đường lang (12) sao khéo lắng tai!


Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn ngữ binh điếu phạt (13);


Trong sáu chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa binh nên nỗi lưu ly (14)


Cung đài thành quách phá lâng lâng,


Súng ống thuyền bè thu thảy thảy!


Cơn gấp khúc chẳng thương lòng ngoại tộc (15), đã cùng rừng đuổi thú thời thôi;


Dấu cưỡi rồng còn nhớ đức tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu sao nỡ (16)?


So chữ bạo, lửa nồng quá Hạng;


Dò lòng người nước chảy về Lưu (17)


Chúng điêu tàn mang cờ nghĩa về đầu, khiến quân số mộ ngày một thịnh;


Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, nên binh uy càng thấm càng thêm.


Quảng Nam đà quét sạch bụi trần,


Thuận Hóa lại đem về bờ cõi.


Nam một giải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần;


Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện?


Cảm công đức vua Lê dám phụ,


Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe.


Ngôi hoàng đế đặt không, há nước thấp lao lung thấy đặng (18);


Tội hoàng sừ chẳng có, … lòng trinh thêu dệt vào bình (19).


Hiệu Đoan Vương (20) càng tỏ dạ vô quân;


Mưu thoán đoạt lại gây lòng bội phụ.


Trưởng cung (21) vốn xưa nay là đích, quyền cha trót bội bạc sao đành?


Điện Đô tuy bé nhỏ nhưng anh (22), mệnh cha rắp tranh khi sao phải?


Tai chẳng đoái đến lời cố mệnh,


Mặt nào trông vào chốn tử cung (23)?


Khiến một đàn con trẻ đàn bà, đem chữ hiếu nỡ gieo xuống đất;


Để những kẻ tôi ngay người thẳng, tiếng kêu oan đã động đến trời!


Vì tôn phù ủng bức chẳng mưu mình,


Thì sắc lệnh ngân tiền nào đợi no?


Gươm ngược cán còn đem xuống dưới (24), nghĩa lý nào trời đất còn dong?


Lưới đứt giềng quân đuổi được quan (25), chính sự ấy xưa nay cũng lạ!


Vì phế lập (26)muốn mình cho ích,


Để khuynh nguy làm nước phải lo.


Vả bấy nay thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòngngười hẳn muốn;


Lại gặp hội binh kieu dân oán, sử mối giềng tài cả phải ra.


Chước vạn toàn đã tạc đá Hoành Sơn, Binh tức khắc lại giương buồm Bắc Hải (27).


Sang sông Mạnh phất cờ Chu Vũ (28), ra tay sử chính dẹp tà;


Vào đất quan hét ngựa Hán hoàng (29), quyết chí lấy nhân đổi bạo.


Sắp sửa vốn nguyên lòng thực,


Vỗ về phải ngõ lời ngay.


Chữ “hướng minh” phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng là thế (30);


Máy “trợ thuận” hẳn nhiều kẻ biết, Tần lại dân ngưu tửu nữa ta (31).


Ai biết suy lẽ phải, quyết một lòng Hạ chúng hề tô (32);


Ta chả phụ dân lành, ắt bốn chữ thu hào vô phạm (33).


Thói bội phản chớ quen như trước,


Phút thái bình đều hiểu về sau.


Nước triều đông ví chẳng thuận dòng, lại cự cưỡng rắp giơ tay chắn;


Lửa cháy đá nở hòa lầm ngọc (34), dù hiền ngu khôn lọt lưới trời.


Ơn với uy ngỏ cáo lời hằng,


Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết.


------------------


CHÚ THÍCH


Thuận ứng: Do chữ  “thuận thiên ứng nhân”, nghĩa là thuận ý trời, đáp lòng người.


Chinh tru: nghĩa là đánh giết, đánh dẹp.


Trương Tử: tức Trương Lương, tên tự là Tử Phòng, người nước Hàn, vì Hàn bị Tần diệt nên mưu giết Tần Thủy Hoàng để báo thù cho Hàn nhưng không thành; sau giúp Hán Lưu Bang diệt Tần, cũng là để trả ơn Hàn.


Tào Man: Tào Tháo tên tự là A Man, làm thừa tướng thời Hán Hiến Đế, mưu cướp ngôi vua nhà Hán.


Quốc phó: tức Trương Phúc Loan, làm thái phó đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, là một quyền thần tham lam tàn bạo, lấn át cả quyền chúa Nguyễn. Khi Tây Sơn khởi nghĩa binh thì lấy danh nghĩa là trừ diệt quyền thần Trương PhúcLoan (sau Loan bị chúa Nguyễn bắt giao cho tướngTrịnh là Hoàng Ngũ Phúc).


Khi mới khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc sai người ép Nguyễn Phúc Dương, tức hoàngtôn Dương, cháu Nguyễn Phúc Thuần về với mình, rồi lấy danh nghĩa khởi binh để phù nhà Nguyễn, nên câu này dùngchữ “cần vương”. Tây sơn ở đây có nghĩa là từ núi phương Tây.


Phú Xuân: tên cũ của kinh đô Thuận Hóa.


Nền nếp Phú Xuân: chỉ cơ đồ chúa Nguyễn. Ý nói nếu trời còn muốn giúp hoàng tôn Dương dựng lại cơ nghiệp.


Hữu Hạ: tức nhà Hạ, một triều đại phong kiến lâu đời trong số Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) đời thượng cổ Trung Hoa, bắt đầu từ vua Đại Võ, cuối cùng là vua Kiệt.


Hưa nhận rõ ý nghĩa câu này. Hình như nói về Trưng Phúc Loan có âm mưu gì với ngôi chúa.


(10) Thế nước tranh ba: ý nói có ba thế lực đang tranh chấp thiên hạ: Trịnh, Nguyễn


       và Tây Sơn, cũng như thế Tam Quốc đời Hán mạt.


 Tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước: khi Đế Tướng nhà Hạ mất nước, tôi cũ nhà Hạ là Mỵ thu thập quân đội hai nước chư hầu, rồi cử binh khôi phục cơ nghiệp cho nhà Hạ. Đây mượn điển này để nói ý muốn của mình (Tây Sơn) là thống chất lực lượng để phục hồi cơ nghiệp của chúa Nguyễn.


 Bạng Duật: con trai và con cò. Tô Đại nước Yên nói với vua Huệ Vương: “Có con


      trai  há miệng ra phơi nắng, con cò đi qua chỉa mỏ  mổ vào thịt trai, trai ngậm chặt lại,    cò rút mỏ ra không được”. Câu chuyện này ý nói hai bên giằng giữ nhau, không bên nào chịu bên nào.


 Đường lang: con bọ ngựa; dây dùng chữ “đường tý đương xa”, nghĩa là bọ ngựa giơ càng lên để chống với bánh xe (Sách Trang Tử). Ý chỉ trích chúa Trịnh.


 Điếu phạt: do chữ “điếu dân phạt tội”, nghĩa là thương xót dân khổ cực nên phải đánh kẻ có tội.


 Lưu ly: xiêu dạt, lưu tán.


 Ngoại tộc: Chúa Nguyễn là bà con bên ngoại của chúa Trịnh.


 Cưỡi rồng: nói việc vua chết; lấy tích vua Hoàng Đế ở Đỉnh Hồ cưỡi rồng lên tiên.Tiên quân: chỉ các chúa Nguyễn đời trước. Khoét lỗ bừa sâu: tục ngữ. Y nói làm cho quá tệ thêm nữa.


 Hạng: tức Hạng Vũ, vua Sở, chính sự khắc nghiệt, sau bị vua Hán Cao Tổ đánh bại. Lưu: tức Lưu Bang, tên của Hán Cao Tổ, người dựng nên cơ nghiệp nhà Hán.


 Ngôi hoàng đế đặt không: ý nói chúa Trịnh tôn vua Lê làm vua, chẳng qua chỉ là hư vị, còn quyền bính về tay chúa Trịnh cả. Bốn chữ “nước thấp lao lung” chưa rõ nghĩa.


 Hoàng sừ (hay hoàng trừ): thái tử; đây nói việc Trịnh Sâm vu cho thái tử Lê Duy Vỹ phạm tội thông dâm, bắt giam và bắt thắt cổ chết.


 Đoan Vương: tức Đoan Nam Vương, chỉ Trịnh Khải.


 Trưởng cung: chỉ người con trưởng của vua, của chúa.


 Điện Đô: tức Điện Đô Vương, chỉ Trịnh Cán. Những chữ trưởng cung, đích, anh đều chỉ Trịnh Cán. Vì Cán tuy là em, song được Trịnh Sâm cho lên làm trưởng tử, còn Trịnh Khải tuy là anh nhưng đã bị truất làm thứ.


 Tử cung: quan tài. Trịnh Sâm chết còn quàn tại phủ thì đã xẩy ra việc tranh ngôi giữa cánh Trịnh Khải và cánh Trịnh Cán.


 Câu này lấy chữ ở Hán thư”Đảo trì Thái A, thụ Sở kỳ binh”, nghĩa là cầm ngược cây gươm Thái-A, trao cái chuôi gươm cho nước Sở; ý nói để quyền hành cho người khác nắm.


 Giềng: là cái dây to để giữ mép lười cho bền chắc. Lưới đứt giềng: ý nói không có kẻ cầm quyền cương. Câu này chỉ việc kiêu binh cậy thế đã tôn phù Trịnh Khải mà hống hách đánh giết triều thần như Hoàng Đình Bảo.


 Phế lập: bỏ một người, lập một người khác làm vua (hay chúa). Đây chỉ việc Trịnh Khải đã phế Trịnh Cán và thay vị.


 Bắc Hải: bể Bắc. Hai câu này có ý nói đã xây dựng xong cơ nghiệp ở phía nam Hoành Sơn rồi thì kéo quân ra Bắc ngay.


 Sông Mạnh: tức bến sông Mạnh Tân. Chu Vũ Vương hội quân chư hầu ở bến Mạnh Tân để cắt đi đánh vua Trụ tàn bạo.


 Đất Quan: tức Quan Trung. Hán hoàng: tức Hán Cao Tổ. Câu này nói việc Hán Cao Tổ kéo quân vào đất Quan Trung để đánh Tần.


 Khi Vũ Vương nhà Chu đánh vua Trụ, sĩ nữ nhà Thương đem những thứ lụa thâm, lụa vàng (huyền hoàng0 ra đón tiếp quân đội Vũ Vương (theo thiên Mục thệ Kinh Thư).


 Khi Hán Cao Tổ kéo quân đến đánh Tấn, lại dân nhà Tần đem trâu và rượu (ngưu tửu) ra khao quân.


 Hạ chúng: dân chúng nhà Hạ. Hề tô: đợi đến cứu sống. Thiên “Trọng hủy chi cáo” trong Kinh Thư chép việc vua Thang (nhà Thương) đến đánh vua Kiệt (nhà Hạ), có câu thuật lời dân nhà Hạ nói: “Hề ngã hậu, hậu lai kỳ tô” nghĩa là đợi vua ta (chỉ vua Thang) đến, vua ta đến để cứu sống cho ta.


 Thu hào vô phạm: mật mảy nhỏ như lông mùa thu cũng không phạm đến; ý nói không làm phiền nhiễu dân một mảy may nào.


 Lửa cháy đá nở hoà lầm ngọc: câu này lấy ở thiên Dậu chính Kinh Thư: “Hỏa viêm Côn Cương, ngọc thạch câu phần”, nghĩa là lửa bén lên núi Côn Sơn thì ngọc và đá đều bị đốt cháy. Ở đây ý nói: khi đã xẩy ra chiến tranh thì dù kẻ thiện người ác đều bị chết cả.


(Chép theo Phong trào nông dân thế kỷ 18 của Minh Tranh – Nxb Sự Thật, 1958 – H ợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập III - Thề kỷ XVIII-Giữa thế kỷ XIX – NXB Văn Hóa, 1963)


 


 


PHỤ LỤC  2


VỀ ĐỊA DANH “TRÀ LUẬT”


TRONG CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM-XOÀI MÚT


Cho đến nay, khi tìm hiểu chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, một trong những chi tiết còn làm chúng ta băn khoăn là việc xác định địa danh “Trà Luật”.


Các bộ sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện chỉ ghi chép sơ lược về trận Rạch Gầm-Xoài Mút, và trong những đoạn ngắn ngủi đó không thấy có địa danh “Trà Luật”.


Riêng Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có nhắc đến Trà Luật như sau: “Tháng 11 [Nhâm Thìn], quân ta [tức quân Xiêm-Nguyễn Anh] công phá đồn Trà Luật, Ba Lai, đến đâu như gió lướt đến đấy” (bản dịch của Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1973).


Cuốn Sử ký Đại Nam Việt (không có tên tác giả, viết bằng quốc ngữ) chép: “Khi ấy binh bộ và binh thủy quân Xiêm đã hợp lại cùng nhau và đóng trong Trà Suốt, lại lập nhiều lũy nơi nọ nơi kia” (Imprimerie de la Mission – Tân Định, Sài Gòn, 1909).


Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh có đoạn như sau: “Vua [ý nói Nguyễn Anh] ngự ở đồn Trà Luật, chia các đạo quân để giữ những chỗ địa điểm khẩn yếu…”. Và ở một đoạn khác: “Vua thấy thế địch mạnh quá khó chống lại được, phải vào trong sông Tả Luật, rồi ra Cường Thành để lánh” (Văn Hoá nguyệt san, số 62, tháng 7-1961).


Một số người nghiên cứu cho rằng địa danh “Trà Luật” trong thư tịch cũ và địa danh “Trà Tân” hiện nay chỉ là một. Một số người khác lại khẳng định “Trà Luật” hay “Tà Luật” hay “Trà Suốt” không phải là Trà Tân mà phải là “Trà Lọt” hiện nay.


Ví dụ trong cuốn Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, tác giả Phan Huy Lê viết: “Mạc thị gia phả chép rõ: Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Anh đóng đại quân ở Tà Luật (tức Trà Luật trong Gia Định thành thông chí hay Trà Tân trong Đại Nam thực lục chính biên”.


Trái lại, trong bài viết “Lịch sử trận chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút” (Ty TTVH Tiền Giang, 1977), tác giả Nguyễn Đổng Chi cho rằng: “Xét sử sách không có địa danh Trà Suốt mà chỉ có Trà (hay Tà) Luật, tức Trà Lọt hiện nay. Trà Suốt phải chăng là Trà Lược, tên một con rạch nhỏ ở phía bắc Trà Tân ngày nay và nối liền với rạch Trà Tân. Chúng tôi nghĩ Trà Suốt ở đây phải là Trà Lọt (đối chiếu với tài liệu xưa, “lọt” (nôm), “suốt” (nôm) với “luật” (hán) mới phù hợp với Gia phả (tức Mạc thị gia phả) và mới đúng với con đường hành quân. Tác giả Quỳnh Trân trong bài “Thử bàn về vấn đề thủy triều trong trận Rạch Gầm-Xoài Mút” (Sách đã dẫn) cũng ghi: “Trà Suốt tức là Trà Luật (Trà Lọt)”.


Chúng tôi muốn được trở lại với những địa danh trên, cụ thể là lần lượt tìm hiểu “Trà Lọt”, “Trà Tân” và mối liên quan đến địa danh “Trà Luật”, góp phần làm sáng tỏ thêm vài chi tiết về chiến thắng lịch sử này.


            TRÀ LỌT


Trên bản đồ cũng như trên thực địa hiện nay có một con rạch mang tên rạch Trà Lọt, cách thành phố Mỹ Tho 40km về phía tây. Trong bài viết “Ghi chú về một số địa danh liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút”, tác giả Đỗ Hữu Nghiêm mô tả tương đối chính xác về con rạch này: “… rạch Trà Lọt hiện nay cũng gọi là rạch Ong Thanh [có lẽ tác giả muốn nói đến “Xép Ong Tinh” (?), một nhánh của rạch Trà Lọt ở phía hữu ngạn] ở phía tây Mỹ Tho, bên bờ trái sông Tiền, thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Chỗ giao lưu rạch Trà Lọt với sông Tiền ở ngay đầu phía tây của cù lao Tân Phong, cách thị trấn Mỹ Tho chừng 40km về phía tây” (Sách đã dẫn).


Trong cuốn Monographie de la province de My Tho xuất bản năm 1902, một tác giả người Pháp mô tả khá chi tiết về rạch Trà Lọt hồi cuối thế kỷ XIX. Tác giả chia hệ thống sông rạch của tỉnh Mỹ Tho làm 9 lưu vực, trong đó có lưu vực rạch Trà Lọt, nằm giữa lưu vực rạch Cái Thia ở phía tây và lưu vực rạch Cái Bè ở phía đông: “Rạch Trà Lọt (dài 18km, rộng 40m, sâu 8m) bắt nguồn từ làng Mỹ Hội trong Đồng Tháp Mười, chảy qua chợ Cái Nứa rồi chảy ra sông [Tiền] theo hai cửa… Các chi lưu ở phía hữu ngạn có rạch Xép Ong Tinh (nhận nước của các rạch Cà Giằm, Ong Càn và Đất Sét), rạch Thủ Ngự (nối liền rạch Trà Lọt với rạch Xép Ong Tinh) cùng các rạch nhỏ Ong Khá, Cây Sung, Bà Được, Bà Xoay, Bà Huê, Nước Trong, Ong Tam; ở phía tả ngạn có rạch Bà Răn…, rạch Bà Tre, rạch Thông Lưu (nối liền hai rạch Trà Lọt và Cái Bè) cùng các rạch nhỏ Bà Phú, Phó Thục và Ong Khanh”.


Qua đoạn mô tả trên, có một điểm đáng lưu ý là: rạch Trà Lọt có một chi lưu ở tả ngạn chảy thông với rạch Cái Bè, gọi là rạch Thông Lưu, ngoài ra không có chi lưu nào ăn thông với rạch Bà Rài còn ở rất xa về hướng đông, như có tác giả đã lầm lẫn.


Vẫn theo cuốn Monographie…: “rạch Trà Lọt cùng với rạch Cái Bè và rạch Cái Thia chảy qua vùng đất phía nam của tổng Phong Hòa”, hoặc ở một đoạn khác: “Rạch Cái Bè (rộng 80m, sâu 8m), rạch Trà Lọt (rộng 40m, sâu 5m), rạch Cái Thia (rộng 120m, sâu 6m) đều chảy qua tổng Phong Hòa”


Tổng Phong Hòa ở cuối thế klỷ XIX tương ứng với tổng Kiến Hòa thuộc huyện Kiến Đăng ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Theo Gia Định thành thông chí, “tổng Kiến Hòa có 44 thôn, phía đông giáp sông Tranh Giang, Ba Lai [tức Ba Rài], Tân Kinh của tổng Kiến Xương, huyện Kiến Hưng, phía tây giáp tổng Kiến Phong, lấy từ ngòi nhỏ sông Bát Chiên thẳng đến cửa sông Mỹ Lương (tục gọi Cái Thia), phía nam giáp sông Tiền Giang dọc theo sông lớn Mỹ Lương và Ba Lai, phía bắc giáp sông Bát Chiên và Bát Đông”.


Về các khu vực hành chính hồi đầu thế kỷ XIX, cần phân biệt tổng Kiến Hòa có  rạch Trà Lọt chảy qua thuộc huyện Kiến Đăng ở phía tây huyện Kiến Hưng, với huyện Kiến Hòa ở phía đông huyện Kiến Hưng, kéo dài đến tận cửa biển Xoài Rạp và Ba Lai.


TRÀ TÂN


Hiện nay, trên bản đồ cũng như trên thực địa có địa danh “Trà Tân”, đúng như mô tả của các tác giả Nguyễn ĐổngChi và Đỗ Hữu Nghiêm trong các bài viết đã dẫn:


“Hiện nay Trà Tân là địa danh chỉ một con rạch phụ lưu của Tiền Giang, cách rạch Ba Rài ở phía đông 3 cây số” (Nguyễn Đổng Chi).


“[Trà Tân] là một rạch hợp lưu với sông Mỹ Tho ở ngay chỗ đầu phía tây của cù lao Năm Thôn, thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, cách Mỹ Tho chừng 20km về phía tây” (Đỗ Hữu Nghiêm).


Trong Đại Nam nhất thống chí và Gia Định thành thông chí không thấy chép địa danh Trà Tân, nhưng Đại Nam chính biên liệt truyện có nhắc đến Trà Tân: “[Năm 1777] Nhạc sai Lữ và Huệ chia hai đường thủy bộ vào cướp Gia Định. Lý Tài chống cự với Tây Sơn, binh vỡ, Tân Chính Vương lui giữ Trà Tân (thuộc Định Tường)”.


Cuốn Monographie… mô tả “lưu vực sông Trà Tân” như sau:


“Rạch Trà Tân (dài khoảng 18km, rộng 40m, sạu 8m khi thủy triều xuống) bắt nguồn từ làng Phú Lương, chảy qua tổng Lợi Mỹ, uốn thành hai vòng rộng theo hình chữ S trước khi đổ ra sông [Tiền]. Chợ Trà Tân nằm trên cửa rạch… Ở hữu ngạn [rạch Trà Tân] có các chi lưu: rạch Vân, rạch Bà Kén, rạch Cái Cau, rạch Cái Tắc, rạch Trà Tân (nối liền hai lưu vực rạch Trà Tân và rạch Ba Rài), rạch Ong Vị và rạch Ong Gòn…


“Ở tả ngạn, rạch Trà Tân nhận nước của rạch Ba Rằng, rạch Trà Luộc (rạch này lại có chi lưu Bà Mương ở hữu ngạn và Bà Dầu hay Kinh Thu ở tả ngạn). Rạch Bà Dầu nối liền rạch Trà Luộc với lưu vực Rạch Gầm qua con sông Bàng Long… Dọc theo sông [Tiền] còn có rạch Ong Bung, và trên địa phận tổng Lợi Trường còn có hai rạch Cái Sơn và Mù U. Các rạch này không lớn, chảy thẳng ra sông [Tiền]… Tiếp đến rạch Rau Răm (dài 5km, rộng 20m, sâu 4m50) bắt nguồn từ Bình Chánh Trung. Các chi lưu phía tả ngạn có rạch Thông Lưu (nối rạch Rau Răm với rạch Bàng Long, thông với lưu vực Rạch Gầm) [phân biệt rạch Thông Lưu là chi lưu của rạch Rau Răm với rạch Thông Lưu là chi lưu của rạch Trà Lọt – NPQ], rạch Tràm bắt nguồn từ Kiêm Sơn, phía hữu ngạn có rạch Ong Văn”


Các đoạn mô tả trên đây có mấy chi tiết đáng chú ý:


1/ Rạch Trà Tân là một rạch tương đối lớn, có nhiều chi lưu, trong đó có một chi lưu ở tả ngạn mang tên Trà Luộc (hay Trà Luột) và một chi lưu ở hữu ngạn mang tên Trà Tân (nghĩa là cùng tên với rạch chính). Chi lưu này (Trà Tân) nối liền rạch Trà Tân với lưu vực rạch Ba Rài ở phía tây, cũng phù hợp với Đại Nam nhất thống chí chép rằng: sông Trà Luật có một nhánh thông với sông Ba Lai (tức Ba Rài) và một nhánh thông vào Đồng Tháp Mười (xin xem trích dẫn cụ thể ở một đọan sau).


2/ Rạch Bà Dầu (một nhánh của chi lưu Trà Luộc) nối liền Trà Luộc với lưu vực Rạch Gầm qua con sông Bàng Long. Như vậy, lưu vực rạch Trà Tân cũng ăn thông với lưu vực Rạch Gầm bằng các con rạch Trà Luộc, Bà Dầu và Bàng Long (Bàng Long là chi lưu của Rạch Gầm ở phía tả ngạn).


3/ Liên quan đến địa danh “Trà Tân”, “Trà Luộc”, tác giả cuốn Monographie… còn cho biết thêm:


+ Làng Trà Tân: là một trong 8 làng của tổng Lợi Mỹ (Lợ Mỹ vốn xưa là một phần của tổng Lợi Trường). Trước đó, làng Trà Tân bao gồm cả làng Tân Thới, về sau mới tách làm hai làng Tân Thới và Trà Tân. Chợ Trà Tân (do làng Trà Tân lập ra), cách Mỹ Tho 44km, đã bãi bỏ từ lâu.


+ Chợ Trà Luật (hay Trà Luộc): thuộc làng Mỹ Qúy Tây, tổng Lợi Trường, cách Mỹ tho 33km. Cũng gọi là chợ Mỹ Qúy Tây. Như vậy, chợ Trà Tân và chợ Trà Luộc là hai chợ khác nhau (NPQ nhấn mạnh), đều thuộc tổng Lợi Trường. Đến năm Minh Mạng thứ 17, tổng Lợi Trường mới tách làm hai tổng Lợi Trường và Lợi Mỹ.


+ Cù lao Trà Luộc: thuộc địa phận tổng Lợi Mỹ; “hồi mới thành lập, tổng Lợi Mỹ gồm 11 làng, trong đó có 5 làng Hòa Yên, Long Phú, An Thủy, An Thủy Đông và Tân Sơn nằm trong cù lao Trà Luộc, còn có biệt danh là cù lao Năm Thôn”,


Khi dịch Mạc thi gia phả, cụ Ca Văn Thỉnh cũng đã phiên âm “Trà Luộc” trong câu: “Vua [Nguyễn Anh] thấy thế giặc rất mạnh không thể chống lại nổi, phải lui về sông Trà Luộc rồi đến Cường Thành để lánh nạn…” (Tạp chí NCLS, số 79, tháng 10-1965). Vẫn đoạn văn trên, tác giả Tân Việt Điểu lại phiên âm là “Tà Luật”(Văn Hóa nguyệt san, số 83, tháng 8-1958). Có lẽ hai người dịch đã sử dụng hai nguyên bản khác nhau?


TRÀ LUẬT LÀ TRÀ TÂN, KHÔNG PHẢI LÀ TRÀ LỌT


Những cứ liệu đã dẫn trong cuốn Monographie… cho thấy các địa danh “Trà Tân”, “Trà Luộc” có nhiều chỗ trùng hợp với địa danh “Trà Luật” được chép rải rác trong các cuốn sử của triều Nguyễn. Sau đây là vài ví dụ:


+ Sông Trà Luật: “Sông Trà Luật ở phía nam huyện Kiến Hưng 22 dặm, phía bắc hạ lưu sông Tiền, rộng 24 trượng 5 thước, nước lên sâu 22 thước, nước ròng sâu 16 thước, bờ phía tây có chợ Trà Luật; chảy về phía bắc 8 dặm rưỡi đến chỗ ngã ba, chi phía đông bắc 4 dặm thông với sông Ba Lai, chi phía bắc 24 dặm thông với hồ Vu Trạch (ĐNNTC).


+ Đồn Trà Luật: “Tháng 11 [Nhâm Thìn] quân ta [Xiêm-Nguyễn Anh] công phá đồn Trà Luật…” (GĐTTC).


+ Cù lao Trà Luật: Trong GĐTTC, có một câu nhắc đến cù lao Trà Luật: “Tổng Hưng Xương (mới đặt) [thuộc huyện Kiến Hưng] có 37 thôn…, phía Nam giáp sông Tiền, Ba Lai rồi quanh theo cù lao Trà Luật xuống sông lớn An Đức”.


+ Giồng Trà Luật: Vẫn GĐTTC, khi chép về giồng Kiến Định đã giới thiệu vị trí giồng Trà Luật: “Giồng Kiến Định, ngày xưa đặt làm lỵ sở ở đây… Xuống phía đông 18 dặm đến Giồng An, phía tây có Giồng Kỳ Lân, Giồng Tảo và Giồng Dự, ba giồng cao thấp tiếp tục nhau. Cách tây nam 25 dặm đến giồng Lữ, lại cách phía tây 4 dặm đến Giồng Trà Luật…”


+ Đại Nam nhất thống chi khi chép về bãi Kiến Lợi (tức cù lao Năm Thôn) lại giúp ta xác định thêm vị trí sông Trà Luật: “Bãi Kiến Lợi ở huyện Kiến Hòa, hạ lưu sông Tiền, phía bắc là sông Trà Luật”. Gia Định thành thông chí ghi cụ thể hơn: “Cù lao Kiến Lợi ở phía bắc hạ lưu Tiền Giang, làm trụ biểu cho sông Trà Luật”


Từ những dẫn chứng trên, chúng tôi có mấy nhận xét sau:


1/ Tất cả các địa danh gắn với Trà Luật hoặc có mối quan hệ gần gũi với Trà Luật (như Trà Luộc, Trà Luột, Trà Tân…) đều thuộc huyện Kiến Hưng ở đầu thế kỷ XIX hoặc giáp ranh với Kiến Hưng (như cù lao Năm Thôn); trong lúc đó Trà Lọt lại thuộc huyện Kiến Đăng (ở phía tây huyện Kiến Hưng). Nói cụ thể hơn: các địa danh gắn bó chặt chẽ với từ “Trà Luật” đều nằm gọn trongkhu vực ở giữa lưu vực rạch Ba Rài (phía tây) và lưu vực Rạch Gầm (phía đông). Trong khu vực này, từ “Trà Luật” được dùng  khá phổ biến để đặt tên chợ, tên giồng, tên đồn, tên sông, tên rạch và cả tên cù lao (Năm Thôn), đối diện với lưu vực rạch Trà Tân ở bắc sông Tiền.


2/ Chúng tôi suy đoán rằng: từ “Trà Luật” (hay Tà Luật) chắc hẳn bắt nguồn từ một địa danh Khmer và được phiên âm là “Trà Luật” (âm Hán Việt) trong các thư tịch xưa. Cho đến trước chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, “Trà Luật” đã trở thành một địa danh thông dụng ở địa phương. Trong dân gian, từ “Trà Luật” được phát âm theo giọng địa phương Nam Bộ là “Trà Luộc” hay “Trà Luột”. Đến cuối thế kỷ XIX, các tác giả người Pháp (và có khi cả người Việt) lại căn cứ vào cách phát âm theo giọng địa phương, chép là “Trà Luộc” hay “Trà Luột”, mà cuốn Monographie de la province de My Tho (đã dẫn) là một ví dụ. Chúng tôi còn nghĩ rằng: ngay cả từ “Trà Suốt” trong Sử ký Đại Nam Việt cũng có thể do từ “Trà Luật” nhưng phiên âm thiếu chính xác.


Dần dần về sau, trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính cùng với hàng loạt địa danh được thay đổi theo (nhất là trong thế kỷ XIX), tên “Trà Tân xuất hiện và ngày một phổ biến hơn, thay thế dần tên “Trà Luật”, rõ nhất là đối với con rạch (Trà Tân) và cù lao (Trà Tân).


Địa danh “Trà Luật” (hay Trà Luộc) chỉ còn lại dấu vết mờ nhạt ở một chi lưu phía tả ngạn của rạch Trà Tân, ở tên “chợ Trà Luộc” mà từ cuối thế kỷ XIX người ta đã quen gọi là “chợ Mỹ Qúy Tây”, càng mờ nhạt hơn ở cù lao Năm Thôn vốn được mang nhiều tên khác nhau (Trà Tân, Kiến Lợi, Ngũ Hiệp). Cho đến nay, ngay cả nhân dân địa phương cũng không mấy người còn nhớ rằng cù lao Trà Tân đã từng có một thời gian mang tên Trà Luật (hay Trà Luộc), nếu không có đoạn ghi chép rất đáng qúy của tác giả cuốn Monographie… công bố năm 1902 mà chúng tôi đã trích dẫn nhiều đoạn ở các phần trên.


            Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, địa danh “Trà Luật” (hay Tà Luật) liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút được chép trong các bộ sử của triều Nguyễn cũng như trong một vài tài liệu khác  (Mạc thị gia phả hay Bức thư nôm của Nguyễn Anh gửi giáo sĩ Liot) chính là Trà Tân ngày nay. Trong lúc đó, địa danh “Trà Lọt” chỉ gắn với tên một con rạch là “Rạch Trà Lọt”, lại ở cách khu vực Trà Tân khá xa.


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »