tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
12.05.2010
Cao Xuân Hạo
Tiếng Việt (29): Giới trẻ đang học cái thứ gần 100%... không phải tiếng Việt

"Quả thật hình như người ta coi thường công việc nghiên cứu và trau dồi tiếng Việt. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng nói sao, viết sao hiểu được thì thôi. Chứ lời văn trau chuốt chẳng có giá trị gì trong thời đại của Internet này nữa" - trăn trở của cố GS Cao Xuân Hạo từ năm 2003 vẫn đang là nỗi băn khoăn của nhiều người hiện nay, khi mà tiếng Việt đang ngày càng méo mó. Bee xin đăng lại bài PV cố GS Cao Xuân Hạo đăng trên báo Lao Động tháng 1/2003.


 Là người nói chuẩn tiếng Việt, ông có đau lòng khi tiếng Việt nhiều khi bị sử dụng sai nghĩa, sai ngữ pháp trên báo, đài, và ở đâu đó nữa...?


 Có. Nhưng sau hơn 50 năm được các dịch giả của các báo, đài tập dượt cho, bản năng phản ứng của "người bản ngữ" trước những câu nói ngô ngọng chỉ có thể có được ở cửa miệng những ông Tây mới học tiếng Việt được 3 tuần cũng đã dần dần cùn mòn đi. May thay, dù sao tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

Chỉ thương cho những người Việt nhỏ tuổi sẽ bắt chước kiểu nói đó mà quên dần những phương tiện diễn đạt trau chuốt, chính xác và tinh tế của tiếng mẹ đẻ, cho đến khi đọc Kiều hay thơ Xuân Diệu không còn chút khả năng rung đùi nào nữa.

Ông thấy tình trạng này còn có hy vọng khắc phục được nữa không?

Tôi không đến nỗi bi quan như một số bạn đồng nghiệp cho rằng dưới những đòn nặng nề của "ba mũi giáp công" (nhà trường, truyền thông đại chúng và các nhà nghiên cứu), tiếng Việt chỉ vài mươi năm nữa là tuyệt diệt như một số ngôn ngữ bị người nói quên dần (để dùng tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha).

Tôi tin rằng nếu ngay bây giờ chúng ta bắt đầu dạy tiếng Việt thật (chứ không phải tiếng Tây hoá trang bằng thí dụ tiếng Việt) ở nhà trường phổ thông, cái quá trình bi thảm ấy hoàn toàn có thể chặn đứng lại, chậm nhất là sau 20 năm.

Ngôn ngữ thể hiện tư duy của con người, liệu có phải tư duy của chúng ta đang "có vấn đề" không, thưa ông?

Đừng đặt vấn đề sâu như thế. Ở đây tôi chỉ muốn nói nhà trường đã dạy dỗ thế nào, các ông giáo sư, nhà nghiên cứu làm gì mà để môn tiếng Việt lâm vào một tình trạng đáng buồn như vậy.

Theo tôi, hiện nay thứ tiếng mà chúng ta đang dạy cho học sinh và sinh viên gần như 100% không phải là tiếng Việt, mà là tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu Châu điển hình nào đấy.

Liệu đây có phải là thời tiếng Việt lâm nạn?

Thực ra có những cuốn tiếng Việt tương đối chuẩn, như cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt" in từ năm 1883 của Trương Vĩnh Ký, ông viết từ thời xưa nhưng còn hơn hẳn mấy ông ngôn ngữ bây giờ, những người chỉ sao chép ngữ pháp tiếng Âu châu qua tiếng Việt.

Là một dịch giả có uy tín ông nghĩ thế nào về tình trạng như là "dịch lấy được" của một số dịch giả hiện nay?

May là tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

Thú thật là tôi ít có thì giờ để đọc. Thỉnh thoảng xem trong tạp chí "Văn học nước ngoài", tôi thấy hình như các dịch giả quá ít chú ý đến câu văn. Hình như họ dịch quá sát nguyên bản mà không đọc lại cho kỹ xem văn Việt của bản dịch có ngô ngọng quá không.

Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng bản quyền cho Công ty văn hoá Phương Nam, ông đã yên tâm hoàn toàn về vấn đề tác quyền chưa?

Chính bên Phương Nam cũng nói là họ sẽ gắng làm hết sức, chứ không thể đủ sức ngăn chặn hẳn hoạt động in lậu. Có những nhà xuất bản từng làm việc lâu năm với các bản dịch của chúng tôi như Nhà xuất bản Văn học chẳng hạn, họ làm việc rất đứng đắn, mỗi lần tái bản cuốn nào đều xin phép hẳn hoi và trả nhuận bút đầy đủ.

Nhưng nhà xuất bản của các tỉnh thì lại thường thấy hai việc này là hoàn toàn không cần thiết. Họ biết thừa rằng dù họ in lậu bao nhiêu thì chúng tôi cũng chẳng biết.

Một câu cuối cùng, đến tuổi này ông sợ nhất điều gì?

Sợ thì sợ nhiều. Nhưng cũng không sợ gì lắm vì có ai làm gì đâu mà mình sợ? Nhưng đúng là tôi cũng thấy buồn trước tình hình dạy, học và viết tiếng Việt hiện nay.

Quả thật hình như người ta coi thường công việc nghiên cứu và trau dồi tiếng Việt. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng nói sao, viết sao hiểu được thì thôi. Chứ lời văn trau chuốt chẳng có giá trị gì trong thời đại của Internet này nữa. Nhược điểm có viết thành yếu điểm thì cũng đã chết ai chưa? Dùng cứu cánh để chỉ "phương tiện cứu vãn" thì phỏng có hại gì cho định hướng phát triển xã hội?

Nếu có nghe, đọc phương tiện truyền thông của ta mỗi ngày truyền bá dăm bảy trăm câu hoàn toàn bất thành cú, biết kêu ai bây giờ?

Nguồn: Lao động (tháng 11/2003)


 


Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa


Nổi cộm nhất phải kể hiện tượng pha phách tiếng Anh vào các thông tin cập nhật. Đọc báo mãi rồi cũng hiểu là những từ mới như show diễn như world cup có nghĩa gì, nhưng nhiều người chỉ tự hỏi, chẳng lẽ từ nay trở đi cứ phải chấp nhận chúng mãi coi chúng như tiếng Việt?


Khi còn chưa biết chính mình là gì

Với một niềm tin dai dẳng, các phương tiện thông tin đại chúng ở ta thường không mệt mỏi trong việc nhắc nhở mọi người là phải giữ gìn bản sắc dân tộc, hoặc trong ngôn ngữ thì nhắc nhau là phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Vậy mà mọi chuyện cứ diễn ra theo hướng ngược lại, tại sao lạ vậy?


Hiện tượng nói ở đây chỉ có thể giải thích: chính là khi bước vào giao lưu tiếp xúc với thế giới, chúng ta không có sự chuẩn bị cần thiết. Muốn nói và viết đúng thì khi còn đang cắp sách đi học, người ta phải được dạy kỹ về tiếng mẹ đẻ.


Song, đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam còn đang mò mẫm và chưa có bộ ngữ pháp nào được mọi người nhất trí là phản ánh đúng những quy luật nội tại của tiếng Việt. Luôn luôn nhắc nhở nhau phải giữ gìn bản sắc song bản sắc là thế nào thì lại chưa biết - cái đặc điểm chi phối quá trình giao lưu văn hóa nói chung cũng đang hiển hiện cả trong ngôn ngữ.


Ngoài ra, sự cẩu thả, lối làm lấy được, làm cho xong chuyện, bất chấp quy cách chuẩn mực, một khi đã lan tràn trong cách sống chung, thì trước sau nó sẽ chi phối cách nói và viết, làm sao khác được? Không phải giao lưu văn hóa là nguồn gốc của những lộn xộn trong ngôn ngữ hôm nay. Nó chỉ là điều kiện để những căn bệnh vốn có ở chúng ta có dịp bộc lộ.

Sau khi phác họa cái nguyên nhân gây ra những sự lộn xộn trong ngôn ngữ hiện thời, dưới đây tôi thử nêu vài hiện tượng nổi cộm nhất.

Nói ngọng

Khoảng những năm 50 của thế kỷ XX về trước, trong các gia đình Hà Nội, người ta đã có nỗi lo là lo con cái nói ngọng. Đáng nói làm gì thì đọc nàm gì, đáng giới thiệu với người khác tôi ở bên Hàng Lọng thì bảo tôi ở bên Hàng Nọng. Cái ngọng bấy giờ thật rõ quê mùa, mộc mạc.

Ngày nay, lối ngọng ấy hầu như đã được thanh toán, nhưng lại nảy nòi một lối ngọng mới: ngọng ngược. Sáng sáng, cái xe đạp bánh mỳ rong đánh thức cả khu tập thể bằng tiếng rao lanh lảnh "Bánh mỳ lóng đây!". Trưa trưa, mấy cô quang gánh qua nhà thiết tha mời mọc "Có ai ăn rượu lếp?". Bạn bè rủ nhau: "Ra làm chén lước đã". Đồng hương lâu này gặp nhau kể chuyện "Dạo lày thằng ấy ló trúng quả lắm!".


Nhưng đây chưa phải là chỗ duy nhất phân biệt cái ngọng thời nay với cái ngọng thời xưa. Ít ra, còn phải lưu ý mấy "nét đặc thù" nữa.

Một là, trong số người bây giờ, có cả những người tạm gọi là rất có văn hóa. Cả một số học sinh cấp ba, một số sinh viên cũng nói ngọng. Người đang đi học, không được chữa chạy kịp thời, cố nhiên là nguồn bổ sung vô tận cho người đã ra trường ngọng một cách công khai thoải mái.

Hai là, không gian để người ta nói ngọng đang được mở rộng, cách nói ngọng đang xâm nhập cả vào những khu vực xưa kia nó bị cấm cửa. Người ta nói ngọng ở nơi công cộng, nhà ga, bến tàu, lúc về bên mâm cơm với gia đình đã đành, có người lại còn nói ngọng cả khi có việc lên đài, lên tivi nói cho cả triệu người nghe. Nhiều người Việt Nam ra nước ngoài vẫn nói ngọng trước sự ngạc nhiên của người nước ngoài học tiếng Việt, họ (những người nước ngoài ấy) tưởng đấy là một thứ tiếng Việt mà họ chưa biết!

Nỗi lo này có phần giống với nỗi lo của một người làm nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Sau khi nhận ra rằng hình như bây giờ ai muốn nói ngọng thì tùy, không ai thấy ngượng vì nói ngọng và nghe người khác nói ngọng nữa, trong đầu óc anh chợt nảy ra một dự báo khoa học:

- Tôi chỉ sợ khi nhiều người nói ngọng quá thì lâu dần, lại hóa ra họ nói đúng, mà mình lại bị coi là nói ngọng không biết chừng. Bấy giờ khi mình nói mình đang làm việc ở Hà Nội, người ta sẽ bảo là ngọng rồi. Hà Lội mới đúng" - và câu đầu tiên của Truyện Kiều phải sửa thành:"Trăm lăm trong cõi người ta".

Hỗn hào, hổ lốn

Vừa đọc một cuốn tiểu thuyết ra đời cách đây vài năm mang tên Cơ hội của chúa, nhiều bạn đọc nhận ngay ra một đặc điểm: ngôn ngữ các nhân vật trẻ trong truyện phải nói là khá tạp, nhất là có pha thêm nhiều từ nước ngoài, mà đôi khi lại nói sai, và tác giả viết vào sách cũng sai luôn; cố nhiên là nhiều người tỏ ý than phiền và cho là ngôn ngữ một cuốn tiểu thuyết không thể hổ lốn như vậy.

Điều đáng nói ở đây: cuốn sách nói trên là một trong số nhỏ những tác phẩm mang được không khí làm ăn sinh sống ngày hôm nay vào văn chương.


Tạm rời trang sách nhìn rộng ra các loại sách báo, và lắng nghe lời lẽ mà hàng ngày chúng ta vẫn nói với nhau thì thấy ngôn ngữ xã hội cũng na ná như ngôn ngữ trong sách, tức là tùy tiện, lộn xộn, đại khái là so với tình trạng nhà cửa xây dựng chẳng theo một quy hoạch nào, hoặc các loại xe cộ đi lại chen chúc trên đường, thì cũng chẳng có gì khác!


Việc mở rộng giao lưu kinh tế xã hội trước sau ảnh hưởng tới văn hóa, mà trong văn hóa thì ngôn ngữ vốn là bộ phận năng động, nhạy cảm, xốp, dễ in dấu mọi thay đổi, vậy một ít sự hỗn hào vô trật tự là không tránh khỏi, có điều giờ đây nó đã kéo quá mức có thể chấp nhận.

… và lai căng, pha tạp

Nổi cộm nhất phải kể hiện tượng pha phách tiếng Anh vào các thông tin cập nhật. Đọc báo mãi rồi cũng hiểu là những từ mới như show diễn như world cup có nghĩa gì, nhưng nhiều người chỉ tự hỏi, chẳng lẽ từ nay trở đi cứ phải chấp nhận chúng mãi coi chúng như tiếng Việt?


Vả chăng tình hình có phải đã yên đâu, được đằng chân lân đằng đầu, chẳng hạn mới đây lại thấy có một chương trình ca nhạc mang tên Phương Thanh Live Show.


Sau khi phải hỏi cậu con trai hàng xóm xem mấy chữ đó có nghĩa là gì, tôi chỉ còn có cách tìm ra một đối tượng nào đó để trút nỗi bực mình: tại nhà trường không cho bọn tôi học tiếng Anh? Hay là tại ban tổ chức người ta không có lời dặn trước là ai không biết tiếng Anh thì đừng nên ngó ngàng tới băng quảng cáo âm nhạc thuộc loại thời thượng?

Một người bạn tôi biện hộ cho cái sự xâm nhập ồ ạt của tiếng nước ngoài vào tiếng Việt:

- Anh thử nghĩ xem: hàng ngày chúng mình đi xe Honda, Suzuki đi làm; ở nhà hay cơ quan thì xài tủ lạnh Sanyo hay Daewoo và dùng TV của Sony JVC. Chẳng những các xí nghiệp Việt Nam sản xuất bằng máy móc nhập từ nước ngoài, mà cho đến một lọ hồ hoặc cái kẹp tài liệu nhiều cơ quan đang dùng hiện nay đều là của Đài Loan, hay Nhật Bản.


Dân mê bóng đá bọn mình gặp nhau là bàn tán về M.U với lại AC, còn vợ con mình mê chuyện Càn Long, chuyện Hòa Thân... Trong hoàn cảnh ấy thử hỏi làm sao ngôn ngữ chúng ta sử dụng không cộm lên những từ bê nguyên xi từ nước ngoài cũng như những cách nói vốn có từ bên Tây bên Tàu cứ nhập lậu vào ngữ pháp ta lúc nào không biết?

Tôi công nhận anh bạn có lý, song vẫn cảm thấy ở đây có gì kỳ cục. Chẳng lẽ cùng với quá trình toàn cầu hóa, rồi ra ngôn ngữ các dân tộc sẽ pha trộn lung tung để trở nên những món cháo vữa? Không, không thể như vậy được!

Học làm sang

Từ đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu phải tiếp xúc rộng rãi với văn minh phương Tây, nhiều thuật ngữ chính trị xã hội, nhiều danh từ trừu tượng vốn có từ tiếng Hán đã được du nhập vào tiếng Việt, quá trình này còn tiếp tục trong những năm cách mạng kháng chiến và kéo dài cho tới ngày nay.


Lấy một ví dụ chỉ gần đây trong nhiều bộ phim hai chữ nô tài mới được dùng thường xuyên. Lại như trường hợp lâm tặc tin tặc, cách tạo từ này cũng gần đây mới xuất hiện. Thôi thì trong lúc chưa có phương án tạo từ mới trong tiếng Việt, chúng ta đành tạm bằng lòng với sự vay mượn nói trên.


Song tình hình đáng báo động là ở chỗ không những từ vựng Hán mà cả cách kết cấu câu của chữ Hán đang lan tràn, ra phố thì thấy nào là cây dừa quán, cầy tơ quán, lẩu dê nhất ly, giở sách báo ra thì bắt gặp đương kim dẫn đầu giải, nữ nhà văn, Khổng tử truyện, Cỏ may thi tập.. Không ai tuyên bố rõ rệt, nhưng có thể đoán nhiều người cho rằng như thế là một cách làm sang, và gây được sự chú ý.

Việc sử dụng những kết cấu ngữ pháp của tiếng Hán như trên phải nói là đáng trách, nó xâm phạm vào những quy định phân biệt tiếng Việt với tiếng Hán tức là động chạm tới chỗ sống còn của ngôn ngữ dân tộc. Thế nhưng với một số người thì đây lại là một lỗi lầm không đáng kể vì nó không gây sốc và trong giao thiệp hàng ngày người nghe vẫn hiểu được ý người nói, thế là họ cứ tiếp tục!

Cố ý vọng ngoại

Các tài liệu lịch sử còn ghi rõ: Khoảng giữa thế kỷ XIX, trước sự bành trướng của thực dân Pháp, triều đình Tự Đức cũng đã tính chuyện cho dịch một vài cuốn sách kỹ thuật phương Tây nhưng vì không có người có trình độ dịch nên đành cho lưu trữ ở Viện Cơ mật. Còn ngày nay nhiều khi thấy trên mặt báo tên phim tên sách viết bằng tiếng Anh, tôi có đi hỏi, thì được nghe một số dịch giả thú nhận là không biết dịch thế nào cho ổn. Hóa ra xưa với ngày nay cách xa hơn một thế kỷ vẫn chung một bệnh!

Trong điều kiện kinh tế thị trường, báo chí cạnh tranh cao độ, không ai bình tâm ngồi nghĩ cách dịch cho xuôi một cái tên phim, thôi thì cứ chép đại ra, bạn đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu (!)

Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở chỗ ấy. Theo sự quan sát của tôi, trong nhiều trường hợp, người ta có thể bắt gặp cả cái ý nghĩ sâu xa ẩn trong tâm lý của một số người khi viết nguyên văn tiếng nước ngoài lên mặt báo. Họ tự hào là được hưởng thụ những thành quả mới của nghệ thuật thế giới, và hình như phải nói và viết tên bài hát hay cuốn phim bằng chính tên gốc tiếng Anh hoặc giữ nguyên tên sách rồi đọc to lên bằng âm Hán Việt thì họ mới sướng.

Tức là, đứng ở góc độ cá nhân mà xét, họ vọng ngoại một cách sâu sắc, vọng ngoại tận trong tiềm thức. Hoặc, đơn giản hơn, họ không có ý thức đầy đủ về hành động nói và viết của mình. Họ không yêu tiếng Việt như họ vẫn tưởng.


Vương Trí Nhàn. Nhân nào quả nấy, NXB Hội Nhà văn, 2006.


 


bee.net.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »