tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
20.10.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (2)

  ÁO 


Tên nước:   Cộng hòa Áo


Ngôn ngữ chính thức của nước Cộng hoà Áo là tiếng Đức và tên nước viết là Oesterreich. Gần đây tên nước viết là Austria. Vào thế kỷ 6 sau CN, người germanen vùng Bavaria  di cư vào miền Tây và Trung nước Áo ngày nay. Dưới thời Karl Đại đế, vùng nước Áo được gọi là “Biên cương phía Đông”. Otto Đại đế thành lập quốc gia độc lập phía Đông năm 1156. Năm 1866, Áo thua trận, bị sát nhập vào đế quốc Áo-Hung. Đế quốc Áo Hung tan rã sau Đại chiến thế giới I. Cộng hoà Áo thanh lập ngày 12 tháng 11 năm 1918. Tháng 3 năm 1938, Áo bị phát xít Đức thôn tính. Ngày 15 tháng 5 năm 1955, Áo giành lại được độc lập.


Diện tích:     83.871 km2


Dân số:    8.279.571   người


Quốc khánh:  12. 11


Quốc kỳ


Ba sọc nằm ngang theo thứ tự đỏ-trắng-đỏ. Gĩưa nền cờ có hình quốc huy của nước Áo. Năm 1786, hoàng đế Sojeph II lệnh lấy  lá cờ đỏ-trắng-đỏ làm cờ quân đội hoàng gia. Năm 1919 lá cờ này được chọn là quốc kỳ.


Quốc huy


Hình chim ưng. Ở ngực chim ưng là lá chắn ba sọc ngang đỏ-trắng đỏ


Quốc ca: (Nhạc của Wolfgang Amadeurs Mozart. Lời của Parura Predadovich, Nguyễn Kim Dân  dịch)


Núi non nguy nga, sông nước mênh mông, tháp nhọn cao vút, cây mầm ngút mắt, chùy sắt vung lên, tiền đồ rộng lớn. Người là Tổ quốc của con cháu vĩ đại. Người là quê hương của nhân dân lương thiện. Thanh danh nước Áo vang xa khắp nơi, thanh danh nước Áo vang xakhắp nơi.


Ngoan cường chiến đấu, hăng hái tiến bước. Người là một trái tim kiên cường, đập giữa đại lục. Người sinh ra trong niên đại xa xưa gánh trên vai một sứ mệnh cao cả, nước Áo trải qua thử thách lâu dài, nước Áo đã trải qua thử thách lâu dài.


Vững bước tiến lên, tự do thẳng tiến, dũng cảm tiến vào thời đại mới, vui say lao động, tin tưởng ở tương lai. Tổ quốc ơi, ta đoàn kết lại, cùng hát vang bài ca, lời thề son sắt, ơi nước Áo trăm mến ngàn thương , ơi nước Áo trăm mến ngàn thương.


Thủ đô:  Viên  (Wien)


Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ của 95% dân cư


Tôn giáo      89%    Thiên Chúa giáo La Mã,   4,7 % Tin Lành


Tiền tệ          Euro


 


LÃNG  DU TRONG  ÂM NHẠC ÁO


    Người ta thường ví âm nhạc của  Wolfgang Amadeus  Mozart  (1756-1791) với ánh thái dương, với tuổi trẻ và mùa xuân. Thần đồng âm nhạc được các nhạc sĩ nổi tiếng đánh giá rất cao.


" Mozart - biểu tượng của chính âm nhạc."


 


Bản nhạc dành cho đàn dương cầm


   Đó là ngày thứ năm, nhạc trưởng Leopld Mozart về nhà thì thấy cậu con trai bốn tuổi hay hí hoáy gạch gạch xóa xóa bằng bút lông ngỗng. Leopld hỏi:


_Wolfgang, con làm gì đó ?


_ Con viết bản nhạc dành cho đàn dương cầm, phần I sắp xong rồi ba ạ.


_ Con đưa ba xem nào !


_ Nhưng con chưa viết xong.


_ Con đưa ba xem nào. Phải viết cho sạch hơn chứ.


Leopld cầm bản nhạc mà cậu con trai bốn tuổi gạch xóa, viết chồng lên nhau,một lúc sau ông mới đoán được những nốt nhạc trên đó. Ông nói với nhạc công Schachtner - khách của gia đình- Bác xem, viết rất đúng cách phổ âm và đúng luật, nhưng khó thế này thì không ai biểu hiện trên đàn được.


Hai giọt nước mắt từ từ rơi xuống từ khuôn mặt của Leopld, ông sướng vui đến rơi nước mắt.


 


Thử tài thần đồng âm nhạc


    Ban nhạc tí hon gồm Maria Anna Walburga Ignatia Mozart và Wolfgang Amadeus Mozart - mười ba và tám tuổi - được vua và hoàng hậu Anh thân hành đón tiếp nồng hậu và thân tình.


   Hai chị em được vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt sau khi trình diễn tay đôi các bản nhạc hòa tấu của Johann Sebastian Bach và Georg Freidrich Handel. Trong không khí đầy hào hứng ấy, bỗng Johann Christian Bach - thầy dạy nhạc của hoàng cung nước Anh - đứng dây đi tới bên đàn dương cầm, trước sự ngơ ngác của mọi người, bất thần ông ngồi xuống và dạo đoạn đầu của bản nhạc thính phòng - Sonat do ông sáng tác. Rồi ông đứng dậy và mời cậu bé Wolfgang tám tuổi "đánh giùm nốt". Wolfgang bối rối một phút trước cách thử tài bất ngờ và độc đáo ấy, cả phòng hòa nhạc yên ắng hồi hộp tới mức nghe rõ từng hơi thở. Họ chờ đợi và lo thay cho cậu bé.


Với trí nhớ phi thường, với khả năng sáng tác tùy hứng hết


sức nhạy bén. Với vẻ tập trung căng thẳng cậu bé lướt uyển chuyển những ngón tay mềm mại trên những phím đàn. Tác giả và người nghe hết sức ngạc nhiên khi Wolfgang hoàn tất bản nhạc ngẫu hứng ấy một cách hài hòa tuyệt vời.


   Với vẻ mặt xúc động gần như kinh hoàng, Johann Christian Bach chạy tới và ôm lấy Wolfgang bế bổng lên. Từ chỗ im phăng phắc, giờ đây cả hoàng cung trào lên như sóng dội bởi tiếng reo hò hoan hô và những tràng vỗ tay.


Nữ hoàng Anh hai tay nắm lại và giơ cao: “Thật tuyệt trần ! Thật siêu phàm!”


   Buổi thử tài ấy đã làm cho danh tiếng của Mozart vang dội khắp London. Một nhạc sĩ đương thời đã viết: “Cậu bé Mozart đúng là một thần đồng âm nhạc, tôi thật sự yêu quí con người ấy tới mức không bút nào tả hết tình yêu ấy. Nhưng cậu bé này sẽ làm cho người đời quên mất chúng ta.”


  Trên cơ sở  kế tục truyền thống âm nhạc cổ điển, Anton Bruckner (1824-1896)   sáng tác khí nhạc và thanh nhạc. Nhạc của ông giầu mầu sắc lãng mạn. Bản giao hưởng  “Kính dâng Chúa yêu quý”  là bản giao hưởng thứ chín, đồng thời là bản giao hưởng cuối cùng. Về nhạc nhà thờ của Bruckner, Furtwãngler nói: 


-  Bruckner đã đưa cái thánh thiện vào trong đời sống của chúng ta bằng những âm thanh của tâm hồn.


Chẳng cần thay đổi nếp sống


   Bruckner sống hết sức giản dị, nhưng lại là một người hết sức nhút nhát. Mặc dù là giáo sư nhạc viện Viên và đã là một nhạc sĩ nổi tiếng nhưng ông chỉ mặc một bộ com-lê xuềnh xoàng. Ông ít chú ý tới vẻ bên ngoài. Một người bạn hỏi ông với giọng châm biếm:


-  Thế ông thợ mộc nào cắt may com-lê cho ông ?


   Ông trả lời hết sức nghiêm túc:


-   Tôi ăn mặc giản dị, nhưng lịch thiệp. Nghệ sĩ chơi đàn Orgel (organ)  phải mặc quần ống rộng để chân được thoải mái (khi đạp pedan).


 


Nếu chỉ... vì tôi...


    Bruckner sống độc thân suốt đời. Ông hết sức nhát gái nên lúng túng mỗi khi ngồi cạnh phụ nữ. Có lần ông ngồi cạnh một quý bà. Đã ăn xong món xúp mà ông chẳng nói lấy nửa lời với quý bà ngồi bên. Quý bà nói:


-   Tôi ăn mặc đẹp và vinh dự được ngồi bên cạnh nhạc sĩ nổi tiếng như ông, sao chẳng thấy ông nói gì cả.


    Brucker giật mình hốt hoảng với giọng cà lăm:


-   Trời ơi, nếu chỉ...vì tôi thì bà… chẳng cần mặc gì cả!


Tưởng tượng khi sáng tác


   Bạn bè hỏi Bruckner tại sao ông không lấy vợ. Ông nghiêm nghị trả lời:


-  Làm gì có thời gian. Tôi đang mải sáng tác bản giao hưởng thứ tư.


    Ngồi bên đàn piano để viết tổng phổ cho bản giao hưởng thứ tư, Bruckner vừa viết vừa nói:


-   Một cuộc đi săn trong rừng. Một con hươu đang chạy, rồi lại một con hoẵng. Cánh thợ săn ngồi xuống nghỉ ngơi. Họ giở món bê rán ra…


Không còn hơi hướng Wagner


   Bruckner hết sức ngưỡng mộ Wagner. Bruckner ít nhiều chịu ảnh hưởng của Wagner. Có lần ông đưa cho một người bạn xem bản nhạc cho đàn piano. Thấy bạn nhăn mặt, ông hỏi:


-   Giống nhạc của Wagner phải không ?


    Ông lấy lại bản nhạc và ngồi sửa hàng tiếng đồng hồ. Ông bảo:


-    Thế chứ, giờ thì không còn hơi hướng Wagner nữa.


 Những gì Johann Strauss cha khởi xướng ở Viên thì ba con trai của ông Johann Strauss (con, 1825-1899), Joseph và Eduard Strauss tiếp tục và hoàn thiện, làm cho nhạc Walzer trở thành phổ biến  và đưa nó tới tột đỉnh. Vì vậy người đời gọi dòng họ Strauss là triều đại Strauss trong âm nhạc. Trong ba người con thì Johann là nổi tiếng nhất. Triều đại Strauss kết thúc với sự ra đi của Johann Strauss (con) vào năm 1899.         


Nhạc và kịch bản


Johann Strauss soạn nhạc cho vở ca vũ hài kịch  Một đêm ở Venedig,  nhưng ông chỉ dựa trên lời cho ca sĩ chứ không đọc toàn bộ kịch bản. Đến khi tổng duyệt, ông nhận thấy nhạc không ăn khớp với kịch bản. Ông hỏi soạn giả vở ca vũ hài kịch:


-   Tại sao vở này chỉ có một hồi?   Công chúng đã quen cảnh xem ca vũ hài kịch ba hồi cơ mà.


  Ở nơi công chúng đã nghe quen nhạc (bảy nốt) của Beethoven và Schubert như thành phố Viên thì nhạc 12 nốt trở nên xa lạ. Thế nhưng Arnold  Schõnberg  (1874-1951) đã thu phục được công chúng bằng nhạc 12 nốt với những bản nhạc thính phòng, nhạc cho dàn đồng ca (Gurrelieder), nhạc cho kịch (Drama), nhạc thính phòng (Kammersinfonie)  và nhạc cho ca vũ kịch (Oper)  v.v.


Qúa ư là…


   Mặc dù Bertolt Brecht cũng đang mở đường cho sự phát triển mới trên lĩnh vực kịch nói. Có lần nhạc sĩ Hanns Eisler (bạn của Bertolt Brecht và là học trò của nhạc sĩ Arnold Schõnberg) chơi những bản nhạc (12 nốt) cho Brecht nghe. Nghe xong, Brecht bĩu môi nói:


-   Tôi thấy nhạc này quá ư  là giầu âm điệu


 


 


Ai  hơn ai !


 


   Thomas Mann có ám chỉ phê phán nhạc và lý thuyết nhạc của Schõnberg  trong tiểu thuyết  Dr. Faustus của mình. Bực tức về chuyện đó, Schõnberg nói lớn:


-   Thời gian sẽ minh chứng cho việc ai hơn ai!


 Nhạc trưởng người Áo Gustav Mahler (1860-1911) - nhạc sĩ hậu lãng mạn  chỉ phổ nhạc cho thơ trong tập thơ “Chiếc tù và kỳ diệu của chú bé” của nhà thơ lãng mạn Clemens Brentano  và sáng tác giao hưởng, không có concerto cho piano, không có nhạc kịch. Những nhạc phẩm tiêu biểu của Gustav Mahler là 10 bản giao hưởng.


 


                             Âm nhạc cũng trả lời


  Mười bản giao hưởng của Gustav Mahler vẽ lên bức tranh toàn cảnh xã hội thời đại ông. A. M. Maler nhận xét:


-   Gustav Mahler sáng tác âm nhạc cho câu hỏi của nhà văn Nga Dostojewski  :“ Làm sao tôi có thể là người có hạnh phúc, nếu ở nơi nào đó có người khác vẫn còn đau khổ?”


  Người đương thời nhận xét:


-   Ca khúc trở nên linh hồn và thể chất của những giao hưởng của Mahler. Giao hưởng là mối đồng cảm với những đau khổ của loài người dưới ách bóc lột  của một số ít người.


                        Cảnh quan và bản giao hưởng số 3


   Gustav Mahler viết bản giao hưởng số 3 ở thái ấp của ông bên bờ hồ Attersee. Cảnh đẹp nơi đây được tô điểm bởi các loài hoa, bởi tiếng chim hót, bởi bầu trời mây bay. Người nghe cảm nhận được cảnh đẹp đó qua giọng hát và nhạc trong bản giao hưởng. Có lần nhạc trưởng Bruno Walter tới thăm thái ấp ở Attersee. Ông hết sức ngạc nhiên về cảnh đẹp nơi đây. Mahler bảo:


-  Ông chẳng cần phải ngắm nhìn,  tất cả những cái đó đều có trong bản giao hưởng số 3  của tôi.


LỜI BÌNH:  Nói tới âm nhạc người ta phải nói tới Viên (Wien) thủ đô nước Áo. Khắp thành phố Viên tràn ngập  âm thanh và hương vị ngọt-đắng của cà phê. Nơi nào cũng có quán cà phê để người dân ngồi uống cà phê, thưởng thức những khúc nhạc bất hủ của nhạc sĩ thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart, của triều đại Strauss. Thời đại hoàng kim của thể loại ca vũ hài kịch kết thúc với sự ra đi của  Johann Strauss  năm 1899. Viên vẫn giữ được truyền thống âm nhạc của mình. Viên vẫn là kinh đô âm nhạc của thế giới, vẫn có những nhạc sĩ nổi tiếng thế giới, nhưng " ít ai trong số các nhạc sĩ có thể tư duy bằng âm thanh với sự rõ ràng, giản dị và có sức hấp dẫn đến thế. Hiếm có ai trong các nghệ sĩ đã kết hợp tính dễ hiểu, "dễ tiếp xúc" với tính chân thật và sự sâu sắc của cuộc sống trong những nhạc phẩm của mình như Mozart."


Âm nhạc Mozart đã tạo nên một thời kỳ trong lịch sử âm nhạc. Sau những giao hưởng của Mozart là những tác phẩm  hoành tráng của Beethoven, kế tiếp là những tác phẩm lớn để lại dấu ấn trong lịch sử âm nhạc của các nhạc sĩ chủ nghĩa lãng mạn.


Ô nhiễm môi trường làm dòng sông Donau (Danuýpt) nhuốm màu đen. Dân thành Viên nói đùa:”Sông Donau không còn trong xanh, nhưng bầu trời thành Viên vẫn trong xanh (nhái bản nhạc Danuýpt xanh của Johann Strauss – blaue Donau).


 


LÃNG DU TRONG VĂN HỌC ÁO


           Vào năm 1890 ở Viên hình thành nhóm văn nghệ sĩ  “Viên trẻ”, mà đại diện tiêu biểu  của nhóm là Hugo von Hoffmanstal và Arthur Schnitzler (1862-1931).


      Cái hấp dẫn của chủ nghĩa ấn tượng ở Arthur Schnitzler là bằng các tác phẩm “Múa vòng tròn, Cái hài của sự quyến rũ, Tiểu thư Else,  Con đường đi tới tự do” v.v., ông  phản ánh hiện trạng suy đồi (lọan luân trong tình dục, dối trá, đa cảm, buồn chán, cô đơn) của giới tư sản thượng lưu ở Viên thông qua những quan sát tâm lý tinh tế về những chuyển động nhỏ thầm kín trong tâm hồn và trong sự việc qua độc thoại và đối thoại.


Dũng cảm lên nào!


       So với Hofmannsthal thì Schnitzler có vẻ ít nói hơn, ông nói chuyện rất lịch thiệp và đầy trí tuệ. Ông có thói quen, cứ 22 giờ là đi ngủ. Khi nào thấy khách còn nói, mà đã đến giờ theo lệ đi ngủ của ông, ông nói:    "Dũng cảm lên nào!" và đi vào phòng ngủ.


Còn sớm…


        Có lần mới chập tối mà Schnitzler đã ngáp ngắn ngáp dài. Một người bạn thân của ông nói:


-  Bác sĩ ơi, còn sớm mà sao ông đã có bộ mặt của lúc 22 giờ.


Phải đúng lúc


         Các nhà văn thành phố Viên thường hay đến trang trại Salzkammer trong những ngày hè. Có lần  Schnitzler cùng với Hofmannsthal, Hofmann và Herzl rủ nhau đi tàu trên hồ Altaussee. Khi tàu vừa nhổ neo,  Herzl móc từ trong túi bản thảo một vở hài kịch đọc cho các bạn nghe, Schnitzler nói:


-     Hay thật, đợi đúng lúc tàu nhổ neo mới đọc.  


                                 


 


 


                                     


      Hugo von Hoffmannsthal (1874-1929) và   Arthur Schnitzler là hai đại diện của  Chủ nghĩa ấn tượng (Impressionismus) trường phái Viên tre  (Junges Wien).


    Thần đồng văn , thơ Hugo von Hoffmannsthal có những bút danh như   Theophil  Morren,  Loris  Melikow.


     Hoffmannsthal  được thừa hưởng ở mẹ dòng máu văn hóa nghệ thuật Ý, ở gia đình mình không những một cuộc sống vật chất đầy đủ, mà còn được thụ hưởng một nền học vấn văn hóa đa dạng và uyên thâm, ông là người giao du rộng với những  nhà văn hóa lớn đương thời với tư cách là một người Áo


     Khi  còn là cậu học trò16 tuổi, Hofmannsthal đã xuất bản tập thơ đầu tiên với bút danh Loris  Melikow. Ông thực sự nổi tiếng với Tuyển tập thơ (Ausgewaehlte Gedichte, 1903) và  kịch thơ Qúa khứ (Gestern, 1891),  Cái chết của Tizian,  Thằng điên và cái chết (Der Tod des Tizian,  Der Tor und der Tod, 1893). Thơ và kịch thơ của Hofmannstal đượm nỗi buồn nhân tình thế thái, lời thơ đẹp và giàu nhạc tính. Nếu trong giai đọan đầu nhà thơ xa lánh hiện thực cuộc sống thì trong giai đọan sáng tác thứ hai ông trở về với truyền thống Thiên chúa giáo-văn hóa nghệ thuật của Viên  và tạo một nền sân khấu tôn giáo với những vở kịch   Elektra (1904),   Oedipus và con sư tử đầu nữ  nhân (Oedipus und die Sphinx, 1905). Hofmannsthal tìm cách dung hòa lối sống cũ vơí những mâu thuẫn trong xã hội hiện đại trong bi kịch   Cái tháp   (Der Turm, 1925), theo Motiv barock, cuộc sống xuất hiện trong kịch như một giấc mộng.


   Hoffmannsthal đa tài, ông còn viết   Truyện cổ tích của đêm thứ 672     (Das Mãrchen der 672. Nacht). Với nghệ thuật ngôn từ điêu luyện, với lời kịch rất giàu nhạc tính, ông đã làm cho ca kịch  Kỵ mã hoa hồng (Rosenkavalier,1911),    Adriadne ở Naxos     (Adriadne auf Naxos,1912),  Arabella hay là Vũ hội đua xe ngựa     (Arabella oder der Fiakerball,1933)  và các hài kịch Người khó tính (Der Schwierige, 1921), Người liêm khiết (Der Unbestechliche,1923) của nhạc sĩ  Richard Strauss thu được tiếng vang lớn trong công chúng thời bấy giờ cũng như trong công chúng ngày nay. Ngòai ra ông còn có công trong việc xuất bản và bình luận các tác phẩm văn học cổ điển.


 


                                            


Kịch gia cổ điển-lãng mạn của nước Ao  Franz Grillparzer  (1791-1872)  sinh ngày 15.1.1791 ở thành phố Viên nước Áo và mất ngày 21.1.1872 ở Viên. Cha là Wenzel Grillparzer, một luật sư theo khuynh hướng Ánh sáng, mẹ là Anna Marie Sonnleithner, một phụ nữ có tâm hồn nhạc sĩ, hơi bệnh họan.và trong cơn mộng tưởng huyền hoặc tôn giáo đã tự tử năm 1819.


         Sáng tác của Grillparzer  kết hợp mấy khuynh hướng:  Ánh sáng, cổ điển (nhân đạo duy tâm)  lãng mạn (nhấn mạnh tình cảm). Grillparzer tự gắn gần gũi với lớp người đi trước như Lessing, Kant,  Schiller, nhưng ông lại có cái hứng khởi của văn học lãng mạn, ông gắn bó chặt chẽ với truyền thống thiên chúa giáo thời Barock của thành phố của các hòang đế:  Viên, nhưng ông cũng vẫn giữ được  những đường nét của kịch dân gian trong kịch của mình, những sáng tác của ông đồng thời sử dụng cả chất liệu lịch sử và cổ Hy Lạp-La Mã. Những cái đó tạo nên cho nước Áo một nhận thức rất rõ về nền giáo dục nhân đạo mang sắc thái cổ điển-lãng mạn. Bi kịch trong tác phẩm của Grillparzer  ở chỗ những nhân vật không giải quyết được những mâu thuẫn xã hội-đạo lý, phân vân giữa phản đối và thỏa hiệp, giữa ý muốn tham gia xây dựng  cuộc đời và sự chịu đựng ,  rút lui trước những thế lực, và hòan cảnh dã man, nghiệt ngã; quyết định không rõ ràng và hành động lúng túng, cá nhân luôn tự thấy tội lỗi. Tác phẩm Sapho (1818)  bi kịch về tình yêu (của nhà thơ nữ cổ Hy Lạp  Sapho): số phận không phải từ ngòai ập tới, số mệnh có  ngay trong tố chất bẩm sinh trong  tâm hồn mỗi người. Grillparzer đích thực là một nhà tâm lý , ông biết rất rõ hướng phát triển tất yếu của tâm lý nhân vật. Hạnh phúc và tàn cuộc của vua Ottocar (Kõnig Ottokars  Glũck und Ende,  1825) là  bi kịch lên án chính sách  xâm lược và gây chiến , đặc biệt liên hệ đến hòang đế Pháp  Napoléon, bi kịch  lịch sử này phản ánh chủ nghĩa yêu nước của dòng họ Habsburg. Grillparzer đã đứng về phía của chủ nghĩa tự do nhân đạo, yêu nước. Sóng bể và sóng tình (Des Meeres und der Liebe Wellen, 1831)  câu chuyện tình yêu bi thương của Hero và Leander ở Hy Lạp được tác giả dùng làm chất liệu cho kịch (Schiller cũng dùng chất liệu này trong tác phẩm của mình). Bi kịch trữ tình nêu lên mâu thuẫn giữa quyền  cá nhân được yêu đương  và lựa chọn người yêu  với xã hội có giai cấp  và những qui luật nghiệt ngã của nó. Cuộc đời,  giấc mộng  (Der Traum ein Leben, 1834), đây không những chỉ là kịch mà còn là một câu chuyện cổ tích. Kịch kể về chàng thanh niên Rustan , chàng sống  một cuộc đời sôi nổi, sau nhận thấy hạnh phúc chỉ có trong an phận. Libussa  (Libussa,  viết xong năm1848)  thông qua câu chuyện huyền thọai về sự hình thành của thành phố Praha(Brentano cũng sử dụng chất liệu này trong tác phẩm của mình), thông qua các  diễn tiến giữa đàn ông và đàn bà, giữa tình yêu và lý trí, giữa tình cảm và pháp luật, giữa hiến dâng và tính nam nhi , tác giả đả kích sự "tiến bộ" của xã hội tư bản, nêu lên những mâu thuẫn xã hội ngày một tăng và đặt hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Người nhạc sĩ rong nghèo khổ   (Armer Spielmann, 1848)  truyện đề cao giá trị tuyệt đối của đạo đức với những cảnh tả sự sâu lắng trong tâm hồn người nghệ sĩ nghèo. Sau một số vở kịch được công chúng hoan nghênh,vở kịch Vô phúc cho kẻ nào nói dối   (Weh dem,der lũgt, 1838) đã  gây thất vọng lớn nơi Grillparzer. Vở hài kịch về chàng đầu bếp Leo bị công chúng hiểu nhầm ý nghĩa và không tán thành. Grillparzer chán nản. Bệnh họan và đau buồn trong cuộc sống riêng khiến cho tinh thần sa sút một cách nghiêm trọng. Mặc dù được tặng danh vị  Công dân danh dự thành phố Viên,  nhưng những năm cuối đời Grillparzer vẫn sống trong cô đơn.


 


 


                                                          


Nữ thi sĩ người   Áo  Ingeborg Bachmann (1926-1973)  học triết học (1945-19500 ở Graz, Innsbruck, Wien và bảo vệ tiến sĩ về Heideggers. 1950 bà sống ở Paris. 1951-1953 bà là biên tập viên đài phát thanh Rot-Weiss-Rot ở Viên, từ 1953 bà là nhà văn chuyên nghiệp và là thành viên nhóm 47  (Gruppe 47). 1953 bà chuyển về sống ở Rom/ Ý, 1957 bà lại sống ở Mũnchen / Đức. 1958-1962 bà sống chung với Max Frisch ở Zũrich / Thụy Sĩ và ở Rom / Ý. 1955 bà đi du lịch Mỹ. 1959-1960 bà là giáo sư thỉnh giảng môn thi ca ở ĐHTH Frankfurt.


    Bachmann nổi tiếng qua hai tập thơ Thời gian đã bấm được (Die gestundete Zeit, 1953) và Tiếng kêu của con gấu lớn (Anrufung des Grossen Bãren, 1956). Tập Thời gian đã bấm được viết theo thể thơ tự do, không vần điệu, tập Tiếng kêu của con gấu lớn viết theo âm điệu thơ truyền thống. Thơ bà rất độc đáo trong cách chọn chữ và giàu nhạc điệu. Cách biểu hiện rất hiện đại: cứng và táo bạo, trừu tượng nhưng đầy trí tuệ.


    Ngoài thơ, Bachmann còn có tập truyện Năm thứ ba mươi (Das dreissigste Jahr, 1961) và tập tiểu luận Những vấn đề của thi ca đương thời (Probleme zeitgenõssicher Dichtung, 1959).


    Những sáng tác của Bachmann có khuynh hướng nhân đạo tư sản.


        Nhà văn, nhà thơ  Stefan Zweig (1881-1942)  là con trai một nhà tư sản công nghiệp. Ông học Triết học, Ngữ văn Đức và ngữ văn  các ngôn ngữ Roman  (Germanistik und Romanistik) ở Berlin và Viên. 1928 ông sang dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh đại văn hào Nga  L. Tolstoi. Từ 1935 ông sống ở  Anh. Ông sống mấy tháng  của năm 1940 ở New York, rồi sau đó sang Petropoli (Brasilien). . Zweig là một nhà văn, nhà viết tiểu sử danh nhân, nhà viết luận văn, nhà thơ, kịch gia nổi tiếng thế giới, ông có vốn văn hóa rất rộng, ông đã đưa phân tâm học của Freud  vào những sáng tác của mình  nhằm phân tích sâu sắc tâm lý của những nhân vật.


Những tác phẩm tiêu biểu của ông là  Cuộc đời ba nhà thơ (Drei Dichter Ihres Lebens, 1919): về cuộc đời và sự nghiệp của Casanova, Stendal, Tolstoi, Ba nhà văn bậc thầy  (Drei Meister, 1928): chân dung văn học về Balzac, Dickens, Dostojeskij. *Amok  (1922), *Tình cảm lẫn lộn  ( Verwirrung der Gefũhle, 1926), Joseph  Fouché  (1929), Marie  Antoinette  (1932), Maria Stuart (1935), Nóng lòng (Ungeduld des Herzens, 1945). Thế giới những ngày qua  (Die Welt von gestern, 1946). Stefan Zweig tóm tắt quan niệm  của mình về văn học nghệ thuật bằng câu nói sau: 


         Cái sáng tạo là cái có giá trị nhất trong những cái có giá trị, cái có ý nghĩa nhất trong những cái có ý nghĩa.


Nữ thi sĩ, nhà văn, nhà viết kịch Elfried Jelinek   xuất thân trong một gia đình quý tộc ở Viên (Wien). Từ nhỏ bà theo học piano tại nhạc viện Viên thủ đô nước Áo. Jelinek học sân khấu, nghệ thuật, âm nhạc ở Đại học tổng hợp Viên. Elfriede Jelinek làm thơ rất sớm, khi 21 tuổi (1967)  bà đã xuất bản tập thơ đầu tay Lisas Schatten. Trong những năm tháng sinh viên bà tham gia các phong trào sinh viên  lan rộng khắp châu Âu trong thập kỷ 70  thế kỷ XX và viết tiểu thuyết trào phúng  Chúng ta là những con mồi, bé ơi  (Wir sind Lockvõgel, Baby, 1970). Tuy nhiên tên tuổi Jelinek chỉ được chú ý vào những năm 80 thế kỷ XX với các tiểu thuyết  Nữ nghệ sĩ đàn dương cầm  (Die Klavierspielerin, 1983),   Hứng tình  (Lust, 1989),  Phụ nữ – những người tình  (Die Liebhaberinnen, 1975), với truyện ngắn   Ôi thật là man rợ, ôi hãy tự vệ trước cái đó  (Oh Wildnis, oh Schutz vor ihr, 1985), với những vở kịch Clara S. (1982),  Bệnh họan hay là  những người phụ nữ thời hiện đại  (Krankheit oder Moderne Frauen, 1987). Những tác phẩm khác của Jelinek là  tiểu thuyết  Sự thèm khát (Gier, 2000);  tập kịch  Ở núi Alpen  (In den Alpen, 2002); kịch Xứ Bambi (Bambiland, 2003);  kịch  Cái chết và cô gái  (Der Tod und das Mãdchen, 2003).


 


LỜI BÌNH:   Nói đến văn học Áo là nói đến văn học vùng nói tiếng Đức. Những nhà văn được nhắc tới ở đây là những nhà văn tiêu biểu của văn học Áo.


Hugo von Hoffmanstal là nhà văn Áo có đóng góp với tư cách là một người Áo và là một công dân châu Âu, đồng thời cũng là người tìm cách bảo vệ truyền thống văn hóa phong phú bằng lối diễn đạt sáng tạo. Sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của Hofmannsthal đánh dấu sự kết thúc của nền văn hóa học vấn Đức. Quê hương tinh thần của ông là thời Trung cổ  và nghệ thuật Barock  (das Mittelalter und das Barock), là Venedig, là Florenz, là Tây Ban Nha  (Spanien), là Văn hóa cổ đại (Antike), là Đông phương (der Orient). Hofmannsthal đã làm sống lại vẻ đẹp và khí thế của nhiều nền văn hóa cổ trong những sáng tác của mình, cái đó xuất hiện như kỷ niệm đẹp khó quên của quá khứ.


Arthur Schnitzler  phản ánh hiện trạng suy đồi (lọan luân trong tình dục, dối trá, đa cảm, buồn chán, cô đơn) của giới tư sản thượng lưu ở Viên thông qua những quan sát tâm lý tinh tế về những chuyển động nhỏ thầm kín trong tâm hồn và trong sự việc qua độc thoại và đối thoại.


 Sáng tác của Grillparzer  kết hợp mấy khuynh hướng:  Ánh sáng, cổ điển (nhân đạo duy tâm)  lãng mạn (nhấn mạnh tình cảm). Grillparzer tự gắn gần gũi với lớp người đi trước như Lessing, Kant,  Schiller, nhưng ông lại có cái hứng khởi của văn học lãng mạn, ông gắn bó chặt chẽ với truyền thống thiên chúa giáo thời Barock của thành phố của các hòang đế:  Viên, nhưng ông cũng vẫn giữ được  những đường nét của kịch dân gian trong kịch của mình, những sáng tác của ông đồng thời sử dụng cả chất liệu lịch sử và cổ Hy Lạp-La Mã. Những cái đó tạo nên cho nước Áo một nhận thức rất rõ về nền giáo dục nhân đạo mang sắc thái cổ điển-lãng mạn.


Elfried Jelinek không phải là nhà văn lớn. Bà là nhà văn lớn tiếng nói lên nỗi đau thời hiện đại:


 một thế giới tàn nhẫn của bạo lực và quy phục, của kẻ đi săn và con mồi trong thương mại tình dục, phản ánh thân phận phụ nữ trong xã hội tiêu dùng.


Elfriede Jelinek là một trong nữ văn hào đương đại nhiều ảnh hưởng trong vấn đề phụ nữ ở Áo. Bà là người phụ nữ thứ 10  nhận giải trong lịch sử giải Nobel văn chương có từ năm 1901. Cùng với việc trao giải, hội đồng xét giải muốn cảnh báo chúng ta nỗi đau nhân thế đang cần “phương thuốc” chữa trị.


 Nhà văn lớn của văn học Đức thế kỷ 20  Stefan Zweig là một người châu Âu có học vấn uyên thâm, nhưng đồng thời cũng là đứa con đẻ của chủ nghĩa nhân đạo tư sản có thời kỳ phát  triển rực rỡ nay đang trên đà suy tàn. Nuối tiếc thời hòang kim của văn học tư sản, cảnh cô đơn của kẻ không quê hương,  sống lưu lạc nơi đất khách quê người, sự hoang mang cực độ trước cái Ác thắng cái Thiện (sự hòanh hành của chủ nghĩa phát xít trên thế giới)  đã đưa tới cái chết tự nguyện (tự tử) năm 1942 của vợ chồng Stefan Zweig. Zweig là một nhà văn, nhà viết tiểu sử danh nhân, nhà viết luận văn, nhà thơ, kịch gia nổi tiếng thế giới, ông có vốn văn hóa rất rộng, ông đã đưa phân tâm học của Freud  vào những sáng tác của mình  nhằm phân tích sâu sắc tâm lý của những nhân vật.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »