Tên nước: Cộng hòa Pháp
Người Celtes sinh sống ở đây từ thế kỷ 5 trước Công nguyên, tự xưng mình là người Gaulois. Theo thời gian, các bộ lạc Franken thuộc tộc người germanen cứ di chuyển theo dọc sông Rhine (Rhein), rồi hình thành vương quốc Frank (Frankreich) rộng lớn (tương đương diện tích nước Pháp ngày nay). Năm 843, Pháp chính thức là một quốc gia độc lập. Frankreich có nghĩa: vương quốc của người Franken. Từ „Pháp“ là dịch âm Hán).
Diện tích: 551.458 km2
Dân số: 59.128.187 người
Quốc khánh 14 tháng Bảy (Ngày Bastille)
Quốc ca: Marseillaise (Nhạc và lời Rouget de Liste) bản dịch của Nguyễn Kim Dân
1. Tiến lên, những người con của Tổ quốc, hãy mau vùng dậy, ngày quang vinh đang chờ đón bạn! Bạn hãy nhìn xem bạo chúa đang đối đầu với chúng ta, chúng giương lên lá cờ đẫm máu. Có nghe thấy chăng? Bọn lính hung tàn đang gầm gừ trên đất nước chúng ta, chúng đã tiến đến bên bạn, giết chết vợ và con cái bạn.
2. Một lũ quốc tặc và quốc vương bán nướcđều mang lòng dạ ma quỷ. Thử hỏi những gông cùm chết tiệt này, là để cùm ai? (2 lần). Hỡi người Pháp, chính là cùm chúng ta đấy! Sự sỉ nhục tột cùng khiến người ta phẫn nộ! Điều đó chịu được thì còn cái gì không chịu được? Muốn đẩy nhân loại trở về thời kỳ nô lệ! Đứng dậy vũ trang hỡi đồng bào, tổ chức tốt đội ngũ! Tiến lên! Tiến lên! Lấy máu bẩn thỉu để làm phân bón cho ruộng đồng.
Điệp khúc: Đứng dậy vũ trang, hỡi đồng bào, tổ chức tốt đội ngũ! Tiến lên! Tiến lên! Lấy máu bẩn thỉu để làm phân bón cho ruộng đồng.
3. Cái gì? Bọn quỷ sứ ngoại bang kia lại xưng bá trên quê hương chúng ta! Sao? Chúng ta những chiến sĩ cao quý lại bị bọn lính đánh thuê kia đánh ư? Lại bị bọn lính đánh thuê kia đánh ư? Chẳng lẽ chúng ta phải bó tay chịu trói, khuất phục trước gót của chúng? Chẳng lẽ vận mệnh của chúng ta lại do bạo quân bỉ ổi cai quản? Đứng dậy vũ trang hỡi đồng bào, tổ chức tốt đội ngũ! Tiến lên! Tiến lên! Lấy máu bẩn thỉu để làm phân bón cho ruộng đồng.
4. Hãy run lên đi hỡi bọn bạo quan, bọn gian tặc bán nướcbầy chó lũ sói vô liêm sỉ! Hãy run lên đi! Âm mưu bán nước cuối cùng phải chịu báo ứng! Cuối cùng phải chịu báo ứng! Cả nước đều là chiến sĩ xung trận, lớp trước ngã tiếp sau đã có chiến sĩ trẻ. Nước Pháp không ngừng sing ra người mới, lúc nào cũng sẵn sàng quên mình diệt địch. Nước Pháp không ngừng sing ra người mới, lúc nào cũng sẵn sàng quên mình diệt địch! Đứng dậy vũ trang hỡi đồng bào, tổ chức tốt đội ngũ! Tiến lên! Tiến lên! Lấy máu bẩn thỉu để làm phân bón cho ruộng đồng.
5. Người Pháp, những chiến sĩ khoan dung, biết phải đấu tranh như thế nào! Khoan thứ những vật hy sinh đáng thương, họ hối hận đã đánh chúng ta, họ hối hận đã đánh chúng ta! Nhưng bạo quân khát máu và đồng đảng của Bonille (sĩ quan phái Bảo hoàng), bọn hổ báo sài lang này lạnh lùng xé nát ngực Mẹ (Tổ quốc). Đứng dậy vũ trang, hỡi đồng bào, tổ chức tốt đội ngũ! Tiến lên! Tiến lên! Lấy máu bẩn thỉu để làm phân bón cho ruộng đồng
Quốc kỳ
do ba sọc màu xanh lam, trắng, đỏ hình chữ nhật bằng nhau hợp thành. Đó là ba màu truyền thống của nước Pháp: biểu tượng phá ngục Bastille (14.7.1789) là màu xanh lam và màu đỏ. Màu trắng là biểu tượng của vương triều Bourbon (chiếc mũ màu trắng). Lá cờ ba màu xanh lam, trắng, đỏ được đội tự vệ quốc dân dùng trong Đại cách mạng năm 1789. Hiến pháp nước Pháp qui định lá cờ Đại cách mạng Pháp năm 1789 là quốc kỳ nước Cộng hòa Pháp.
Quốc huy
Nước Pháp không có quốc huy chính thức, nhưng lấy biểu trưng của Cách mạng 1789 làm biểu tượng quốc gia: Trên nền hình bầu dục đứng có bó gậy là biểu tượng của quyền uy; hai bên bó gậy là cành cây ôliu, cành cây cao su – biểu tượng cho sức sống mãnh liệt; trên dải lụa quấn quanh bó gậy là dòng chữ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Đường viền quanh bầu dục là dải lụa huân chương của đoàn quân La Mã cổ - biểu tượng chiến thắng
Thủ đô: Paris
Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Pháp
Tôn giáo: Thiên Chúa giáo La Mã
Tiền tệ: Đồng Franc Pháp
Phương châm quốc gia: Tự do, Bình đẳng, Bác Ái
LÃNG DU TRONG VĂN HỌC PHÁP
13 năm lưu diễn là thời gian để Molière (1622-1673) học hỏi ở Trường đời, là vốn sống đầy sinh động cho việc sáng tác khi bước lên vũ đài sân khấu Pháp. Molière đã đưa kịch hề dân gian bắt chước kịch hề của Italia thành hài kịch mang tính dân tộc Pháp, mở đường, định hướng cho sân khấu Pháp phát triển. Cái cười của Molière trên sân khấu Paris từ năm 1658 tới khi ông qua đời năm 1763, mang tính xã hội, có đủ cung bậc từ vui nhộn đến dí dỏm, từ chế giễu đến cay độc. Kịch của ông đi sâu vào tâm lý nhân vật, miêu tả chân thực cuộc sống, là tiếng nói của lương tri thời đại và của nhân dân. Molière là nhà văn tiêu biểu của văn học cổ điển chủ nghĩa Pháp, cha đẻ của hài kịch Pháp -một nhà viết hài kịch nổi tiếng trên văn đàn sân khấu thế giới. Nhà phê bình văn học Sainte-Beuve nhận xét:
- Nếu tổ chức đại hội các nhà văn lớn từ cổ chí kim trên trên toàn thế giới thì người đại diện duy nhất cho văn học Pháp phải là Molière.
Ba trăn năm nay, hài kịch của Molière luôn có trong chương trình diễn của các đoàn kịch nổi tiếng ở châu Âu.
Bỏ tất cả để được chạy theo đam mê sân khấu
Mẹ mất năm 10 tuổi, cậu bé Jean-Baptiste sống với ông ngoại Cressé. Ông ngoại rất đam mê sân khấu, thường dẫn cháu ngoại đi xem kịch ở quảng trường gần cầu Pont-Neuf. Niềm đam mê sân khấu hình thành trong đầu cậu bé từ đó. Năm 21 tuổi (1643), Molière cùng với anh em Béjart thành lập đội kịch “Illustre Theâtre” (Trứ danh), đội kịch hoạt động được 2 năm thì vỡ nợ. Molière bị tống giam vì không có tiền trả nợ. Bố Molière phải bỏ tiền chuộc. Nhân đó ông nhắc con trai cả về chuyện thừa kế:
Cha muốn con sửa đổi, muốn con thừa kế gia sản nhà ta, sau này phát tài, làm quan to…
Thưa cha, xin cha đừng buồn. Chức vụ cao quý của cha trong cung đình, gia sản lớn của gia đình sẽ có người thừa kế, nhưng không phải là con.
Ai sẽ thừa kế?
Em trai con
Vậy con làm gì?
Con vẫn đi diễn kịch, vì con rất thích.
Với phương châm “Castigat ridendo mores” (sửa chữa phong hóa bằng tiếng cười). Molière cống hiến trọn đời cho nghệ thuật sân khấu. Hài kịch của ông châm biếm, chế giễu thói hư tật xấu của tầng lớp thị dân (mới hình thành và đang phát triển) trong đời sống xã hội Pháp thế kỷ 17, dưới thời vua Louis XIV (Louis Grand).
TỪ TRUYỆN DON JUAN DÂN GIAN TÂY BAN NHA ĐẾN DON JUAN CỦA MOLIÈRE TRONG VĂN HỌC PHÁP
Don Juan là nhân vật dân gian (truyền miệng) Tây Ban Nha, nhân vật này xuất hiện lần đầu (thành văn) trong kịch El burlado de Sevilla y convidado de piedra của Tirso de Molina (công diễn năm 1613, in thành sách năm 1630). Don Juan là người vô thần, dám phỉ báng Chúa, thích phiêu lưu trong chuyện tình ái, có tài quyến rũ, lừa đảo phụ nữ mọi đẳng cấp: nữ công tước, thiếu nữ quý tộc, cô gái đánh cá, cô gái nông thôn. Don Juan bị trời trừng phạt, đày xuống địa ngục.
Kịch “Don Juan” dân gian Tây Ban Nha là hề kịch tính cách (kịch vui dân gian) về một Don Juan (có bản năng *Tính Đực mạnh mẽ ) có tài quyến rũ phụ nữ.
Năm 1665, nhà văn người Pháp Molière viết hài kịch “Don Juan” từ chất liệu của văn học dân gian Tây Ban Nha. Hài kịch của Molière viết bằng văn xuôi, có 5 hồi, công diễn lần đầu ngày 5.11.1665. Don Juan là một nhà quý tộc, quyến rũ Elvire bỏ tu viện theo mình. Đối với Don Juan: “Hạnh phúc ở cuộc đời này là quyến rũ được tất cả đàn bà mà không yêu một ai cả!”. Don Juan bỏ rơi Elvire, chạy theo những cuộc phiêu lưu tình ái khác. Don Juan và người đầy tớ Sganarelle bị đắm thuyền. Anh nông dân Pierrot đã cứu vớt hai chủ tớ. Thoát nạn, hoàn hồn, Don Juan lại tán tỉnh ngay vợ chưa cưới của Pierrot là Charlotte và tán luôn cả cô gái Mathurine. Để trả thù cho em gái Elvire, Don Carlos lùng bắt Don Juan. Chủ tớ chạy trốn vào rừng. Trong rừng, Don Juan thuyết giảng cho đầy tớ biết rằng, mình chẳng tin Chúa, cũng chẳng tin địa ngục, thiên đường, điều tin duy nhất là: hai với hai là bốn… Tình cờ, Don Juan cứu Don Carlos khỏi tay bọn cướp chặn đường trong rừng. Cảm mến Don Juan nên Don Carlos bỏ ý định trả thù. Hai thầy tớ tiếp tục lên đường. Khi đi qua mộ quận công mà chính Don Juan đã giết sáu tháng trước đây, Don Juan mời bức tượng đá của quận công đến nhà dùng cơm tối. Don Juan bị sét đánh chết khi bắt tay tượng đá.
Nhân vật “Don Juan” trong hài kịch của Molière có đầy đủ những cá tính của một con người thời Molière sống: không những vô thần, thích lừa phỉnh phụ nữ, mà còn là một đứa con hư, một tay lừa bịp thích gây tội ác. Hắn nổi tiếng với câu: “Ta, ta chỉ tin hai với hai là bốn và bốn với bốn là tám” và câu nói rất đặc trưng của chủ nghĩa tư bản: “Cho ngươi (người ăn xin) đồng Louis vàng này vì tình yêu thương con người”.
Cặp bài trùng trong hài kịch là Don Juan (tượng trưng cho quý tộc đang hết thời nhưng tham tàn, phóng đãng: tiền, tình, tội lỗi) và tên đầy tớ dốt nát, ngốc nghếch nhưng bẻm mép. Chủ chết, hắn chẳng nghĩ gì ngoài tiền công:
- Ôi tiền công của tôi! Tiền công của tôi!
Lời kể lể sướt mướt của Sganarelle cứ như lời kết tội Don Juan:
Ai thấy hắn chết cũng thỏa nguyện! Chúa bị phỉ báng, pháp luật bị xúc phạm, các cô gái bị cám dỗ, các gia đình bị bôi nhọ, các bậc cha mẹ bị xúc phạm, các bà vợ bị ô nhục, các ông chồng bị đẩy đến bước đường cùng. Ai ai cũng vừa lòng, chỉ có một mình tôi là khốn khổ.
Nhân vật Don Juan của Tây Ban Nha chu du *Italia, Đức, Anh và nhiều nước khác nhưng không trở về quê cũ Tây Ban Nha. Don Juan “sống và thành đạt” trên đất Pháp qua bàn tay thiên tài của Molière. Hài kịch “Don Juan” vẽ lên bức tranh nước Pháp thế kỷ 17 khi giai cấp quý tộc suy vi nhưng vẫn còn nắm bộ máy thống trị phong kiến (nhà quý tộc Don Juan có thể sống phóng đãng). Giai cấp tư sản trưởng thành trong lòng phong kiến. Thế cân bằng chính trị đối lập đã xuất hiện (thế quân bình chính trị). Với Pháp lệnh Nant (Edit de Nantes) của vua Henri ban hành năm 1598, nước Pháp thế kỷ 17 là giai đọan ổn định nên kinh tế, thương mại phát triển. Thế kỷ 17 cũng được gọi là thế kỷ của cổ điển chủ nghĩa (tỷ lệ cân đối, toàn mỹ tổng thể) trong văn học Pháp.
*/ Theo quan niệm phồn thực dân gian thì đó là bảo vật để duy trì và phát triển nòi giống vì ngày xưa tỷ lệ chết của trẻ con rất cao – hữu sinh vô dưỡng= đẻ mà không nuôi được.
Sau một trận thua, binh sĩ chết nhiều. Napoleon nói với các tướng lĩnh: “Chỉ sau một đêm carnerval (hội hóa trang) ở Paris là nước Pháp có một thế hệ mới.
*/ Dựa theo chất liệu Don Juan TBN, nhà văn người Italia G.A. Cicogignini viết hài kịch Il convitato di pietra năm 1650.
Năm 1787, nhà soạn nhạc người Đức W. A. Mozart viết vở opera Don Giovanni dựa theo cốt truyện dân gian Don Juan của Tây Ban Nha.
Cũng dựa theo cốt truyện dân gian Don Juan của Tây Ban Nha nhà văn người Đức E. T. A. Hoffmann đã viết truyện ngắn Don Juan năm 1813.
Tương tự, nhà văn người Anh George Gordon Noel Lord Byron đã viết trường ca hài hước Don Juan vào thời gian 1819-1824.
LÃNG DU TRONG TRIẾT HỌC PHÁP
Nhà văn, nhà triết học Pháp Francois Marie Arouet Voltaire (1694-1778) viết nhiều thể loại như bi kịch Oedipe, tiểu thuyết Zadig hay Số mệnh, Candide hay Chủ nghĩa lạc quan, lịch sử triết học Tiểu luận về đạo đức và tinh thần của các dân tộc. Tham gia biên soạn bộ Bách khoa toàn thư. Các tác phẩm của ông phản ánh đúng tinh thần câu nói của ông:” Nghề nghiệp của tôi là nói những gì tôi nghĩ.”
Nên phân biệt rõ
Một vị khách thích tính hiếu khách của Voltaire nên ngỏ lời muốn ở thêm mấy ngày nữa. Voltaire thản nhiên đáp:
- Ông nên phân biệt rõ giữa ông và Đông Kisốt. Đông Kisốt cho quán trọ nào cũng là lâu đài, còn ông thì lại cho lâu đài là quán trọ.
Chúa chỉ có trong tưởng tượng
Ngay khi còn trẻ, Voltaire đã đam mê văn học, trong khi đó người anh chỉ thích tranh luận về tôn giáo. Nhưng suốt đời mình, Voltaire luôn luôn quan tâm tới nhà thờ và tôn giáo với tinh thần phê phán. Ông nói:
- Tôi kính Chúa và tin rằng thực sự có Chúa.
Trong một lần khác, Voltaire nói với Diderot:
- Giả sử không có Chúa, thì chúng ta cũng phải tưởng tượng ra một vị Chúa cho chúng ta.
Diderot đáp:
- Thì chúng ta đã làm điều đó rồi còn gì.
Chỉ chào nhau thôi
Voltaire không phải là hoàn toàn vô thần. Ông đấu tranh không biết mệt mỏi cho quyền con người và lòng khoan dung tôn giáo. Có lần ông gặp và chào một linh mục ở ngoài phố. Ông dừng bước và đứng chào linh mục kia. Một người bạn chứng kiến cảnh ấy liền hỏi ông:
- Thế là ông đã làm lành với Chúa rồi.
Voltaire giải thích:
- Chúng tôi chỉ chào nhau, nhưng không nói chuyện với nhau.
Giả – thật như nhau!?
Ở Pháp muốn bắt hay muốn đày ai biệt xứ thì phải có Lettre de cachet. Nhưng rồi giấy này cũng bị làm giả. Có lần Voltaire hỏi bộ trưởng cảnh sát, liệu người làm giả giấy ấy bị phạt như thế nào. Bộ trưởng đáp:
- Bị treo cổ!
Voltaire nói:
- Phải treo cổ những kẻ làm giả Lettres de cachet là đúng. Một ngày kia có lẽ người ta sẽ treo cổ cả những người viết Lettres de cachet.
Jean Jacques Rousseau (1712-1778) là nhà văn, nhà triết học Pháp của phong trào Ánh sáng thế kỷ XVIII. Ông là người có ảnh hưởng lớn đến cách mạng tư sản, văn học và triết học châu Âu. Ông sinh ở Genf Thụy Sĩ và mất ở Ermenonville Pháp.
Rousseau nổi tiếng với luận văn lên án văn minh “Sự phát triển của khoa học và nghệ thuật có góp phần làm cho phong tục thuần khiết hay không (Si le rétablissment des sciens et des arts a contribue à épurer les Moeurs, 1750).
Triết lý dân chủ
Rousseau cho rằng quyền tối thượng thuộc về người dân, tất cả quyền lực khác phụ thuộc vào quyền tối thượng ấy. Hình thức chính quyền lý tưởng nhất chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các công chức do dân chúng bầu ra. Ông bảo:
- Ý nguyện chung được thể hiện trong họat động chính trị của mỗi công dân khi anh ta thành tâm và tự nguyện, không chịu bất kỳ một áp lực nào, đưa ra quyết định độc lập của mình bằng lá phiếu.
Theo ông thì:
- Quyền hành có thể chuyển giao, nhưng ý nguyện thì không. Chính phủ chỉ là người đại diện của quần chúng, họat động và thực thi ý nguyện chung.
Jean-Paul Sarte (1905-1980) là nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp. Ông tán thành quan điểm duy vật lịch sử trong chủ nghĩa Mác. Ông ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ.
Triết học và văn học
Sự nghiệp của Sarte là một hiện tượng. Ông là triết gia lớn, nhưng đồng thời là nhà văn lớn. “Lâu đài triết học” (tác phẩm Hữu thể và vô thể) của ông ít ai với tới được ( rất ít người hiểu được ý ông muốn nói trong tác phẩm này). Những tác phẩm văn học của Sarte là “triết hiện sinh đã xuống đường, xâm nhập vào văn học, đời sống của giới trẻ” (lời Trần Thái Đỉnh). Giới trẻ say mê, bị cuốn hút bởi tư tưởng mới mẻ của Sarte trong những tác phẩm văn học của ông, đặc biệt là tiểu thuyết Buồn nôn. Giới trẻ Việt Nam biết triết hiện sinh qua “phong trào hiện sinh”, qua văn chương hiện sinh và lối sống hiện sinh. Điều đó có nghĩa là mới nhìn thấy cái bóng của triết hiện sinh, chứ chưa nhìn thấy hình nhân của triết hiện sinh, vì văn diễn đạt (hình tượng) vấn đề bằng ngôn từ có tính hình tượng, nhưng triết diễn đạt khái quát (bản chất) vấn đề bằng ngôn từ mang tính định nghiã . Các triết gia hiện sinh đều nhìn nhận, con người là chủ thể hiện sinh và đều nhấn mạnh đến quyền tự do bẩm sinh của con người. Theo Sarte:
- Con người không có bản tính thiên phú, mỗi cá nhân phát triển tính cách riêng thông qua những chọn lựa và quyết định trong đời.
LỜI BÌNH: Pháp và Đức như cặp song sinh, bên tung bên hứng. Rõ nét nhất là trên lĩnh vực triết học, văn học. Pháp có Voltaire, Rousseau, Sarte.v.v
Francois Marie Arouet Voltaire là đại diện tiêu biểu nhất của thời kỳ Ánh sáng Pháp.
Voltaire đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đặt nền tảng cho cả cách mạng Mỹ lẫn cách mạng Pháp. Các trước tác của ông đóng góp một cách xuất sắc vào kho tàng kiến thức của nhân loại. Tên tuổi ông gắn liền với tinh thần của thời đại, vì vậy người ta gọi thế kỷ 18 ở châu Âu là Thế kỷ Voltaire.
Rousseau nổi tiếng với luận văn lên án văn minh “Sự phát triển của khoa học và nghệ thuật có góp phần làm cho phong tục thuần khiết hay không (Si le rétablissment des sciens et des arts a contribue à épurer les Moeurs, 1750).
Sarte nói: “Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản” (L’ Existentialisme et un Humanisme, 1946), có nghĩa là con người phải “nhập cuộc” và “nhận trách nhiệm”.
Theo Sarte,con người (hiện sinh / hiện hữu) luôn cảm thấy lo lắng và phiền não. Nó tự chọn lấy bản chất (yếu tính) cho mình. Con người không thể chối bỏ trách nhiệm bằng cách khước từ hành động, bởi lẽ anh ta luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống, luôn phải đối mặt với những quyết định trong đời.
Nước Đức có Fichte, Kant , Hegel, Heiddegger.v.v. Có thời lối sống Pháp là mốt thời thượng của tầng lớp trên ở Đức. Người Đức ngưỡng mộ máu nghệ sĩ của người Pháp. Trong khi Florenz, Venice của Italia chỉ là nơi dung dưỡng, học hỏi của các tài năng thì kinh đô ánh sáng Paris là vườn ươm nghệ thuật của thế giới trên lĩnh vực âm nhạc, hội họa, triết học.
Nam tước Đức Paul Heinrich Baron von Holbach sinh năm 1723 ở Edesheim vùng Pfalz của Đức sang Paris sống và trở thành nhà triết học duy vật và nhà vô thần Pháp và mất năm 1789 ở Paris. Holbach cho rằng, chủ nghĩa duy tâm là một ảo tưởng huyễn hoặc trái với lẽ phải thông thường. Theo ông, sự ra đời của tôn giáo là do sự ngu dốt, sự sợ hãi của một số người này và sự lừa bịp của một số người khác. Ông nhận định, con đường giải phóng con người là giáo dục.
Bạn của mọi người
Nhà triết học Ánh sáng Pháp Diderot là bạn thân của Holbach, ông thường đến trò chuyện với nhiều nhà khoa học ở nhà Mạnh Thường Quân - nam tước Holbach. Diderot có nhận xét:
- Tụ tập ở đây là những người trung thực và tháo vát nhất thủ đô Paris. Ở đây, người ta bàn luận các vấn đề lịch sử, chính trị, tài chính, văn học triết học. Mọi người tôn trọng nhau và tham gia vào các cuộc tranh luận với tinh thần cởi mở. Chủ nhân của ngôi nhà biết cách sử dụng toàn bộ gia sản của mình và là một công dân quốc tế đích thực.
Heinrich Heine là nhà thơ lớn của dân tộc Đức. Thơ của ông được các nhạc sĩ nổi tiếng Schubert và Schumann phổ nhạc và được quần chúng ưa thích. Từ năm 1825, ông sống bằng ngòi bút: làm thơ. Tháng 5.1831, ông sang sống ở Paris để tránh sự o ép của bọn thống trị phản động Phổ.
Frederic Chopin là nhạc sĩ thiên tài Ba Lan, một nhạc sĩ chân thành và cảm động. Ba nhạc sĩ tạo nên phong cách piano thế kỷ XIX là Chopin, Schumann, Liszt. Âm nhạc của Chopin quyến rũ bởi vẻ đẹp giai điệu, làm ta cảm phục bởi vẻ duyên dáng tao nhã, nó diễn đạt những sắc thái tế nhị, những rung động của tâm hồn. Các giai điệu trong Ballade, Nocturne, Mazurca, Polonaise, Scherzo, Concerto của Chopin tuôn chảy tự nhiên, mềm mại thấm đượm tính chất trữ tình của âm nhạc dân gian Ba Lan. Chopin cũng chọn Paris là nơi sống của mình
Chọn Paris làm đất nuôi dưỡng , phát triển tài năng của mình còn có thi sĩ người Nga, họa sĩ người Tây Ban Nha.v.v.
LÃNG DU TRONG HỘI HỌA, ĐIÊU KHẮC PHÁP
Auguste Rodin (1840-1917) là nhà điêu khắc Pháp, đồng thời là một trong những nghệ sĩ châu Âu vĩ đại nhất có ảnh hưởng sâu sắc ở thời đại mình.
Khoái cảm
Rodin đứng ngắm nhìn tượng thần ái tình, rồi lấy tay sờ tượng, vuốt tay theo đường nét thân hình tượng, rồi nói:
- Mọi người nói, khoái cảm hứng tình chỉ có trong tình yêu. Nhưng theo tôi, nó có cả trong lúc ở bên bức tượng, bên bông hoa đẹp...
Đơn giản thôi mà!
Nghe họa sĩ Rafaelli kể:“ Rodin có thể làm được tất cả.” Quý bà kia tò mò hỏi Rodin:
- Ông có thể cho biết bí quyết của điêu khắc!
Rodin trả lời:
- Chuyện đó đơn giản thôi mà. Lấy một khối Marmor (đá cẩm thạch), rồi dùng đục đục bỏ những phần dư thừa.
Đặc điểm tranh của Auguste Renoir (1841-1919) là việc sử dụng thành thạo những màu tươi, sáng. Các đề tài ở tranh ông vui tươi vô tư lự, đó là những em bé xinh xắn, hoa, những phụ nữ yêu kiều có sự quyến rũ tức thì. Renoir là hoạ sĩ Ấn tượng được yêu mến bởi những bức tranh “Lise dưới bóng ô” (1868); “Mẹ con bà Charpentier” (1878); “Các thiếu nữ chơi piano” (1892); “Người phụ nữ tắm đang lau chân” (1905) v.v.
Dễ thương!
Renoir không mấy suôn sẻ lúc khởi đầu sự nghiệp, bốn lần không được phòng triển lãm trưng bày. Thời kỳ gọi là “chua chát” ấy chấm dứt vào năm 1888. Tuy cuộc đời như vậy, nhưng tranh dễ thương của Renoir trực tiếp mang niềm vui cho chúng ta. Ông nói:
- Tại sao nghệ thuật lại không dễ thương, vui mắt? Cuộc đời đã có khá nhiều chuyện phiền lòng.
Tôn thờ...
Renoir vẽ nhiều về đề tài phi thời gian: tranh khoả thân thiếu nữ ngoài trời, ông là một trong những hoạ sĩ tôn thờ hình hài của người phụ nữ. Ông bảo:
- Không bao giờ tôi nghĩ là đã hoàn tất một bức khoả thân trước khi tôi nghĩ là có thể cấu nó một cái.
Edouard Manet (1832-1883) giao du với Degas và nhiều nghệ sĩ lớn cùng thời. Manet là một họa sĩ nhiều mầu sắc. Ông được Baudelaire, Zola ngưỡng mộ và bênh vực.
Manet vẽ, Renoir vẽ…
Edouard Manet rất thân với gia đình họa sĩ Claude Monet- người trẻ hơn ông 8 tuổi. Lần Manet tới để vẽ gia đình Monet thì Renoir cũng tới để vẽ. Tối hôm đó Manet nói với Monet:
- Anh thân với Renoir, anh nên khuyên Renoir chuyển nghề đi. Cứ nhìn những gì anh bạn Renoir ấy vẽ thì rõ ràng nó chẳng dính líu gì đến hội họa.
Tìm người mẫu- bệnh nghề... nghiệp
Khi đã luống tuổi, vợ Manet phát phì. Manet vẫn yêu thương, nhưng không thể lấy hình ảnh vợ làm mẫu. Có lần ông bị vợ bắt quả tang đang mải theo một phụ nữ mảnh khảnh duyên dáng. Bà vợ chạy theo ông chồng và nói:
- Giờ thì bắt quả tang nhé!
Họa sĩ cười giảng hòa:
- Anh mải theo phụ nữ ấy mà cứ tưởng đó là hình ảnh của em!?
Tiền nào của ấy
Khi Manet đã nổi danh, có một thương gia sưu tầm tranh đến gặp Manet và muốn để họa sĩ vẽ chân dung mình với một bó măng tây. Thương gia ra giá hết sức thấp. Manet cười mỉm:
- Với giá ấy thì chỉ có một cái măng tây trong tay.
Thương gia đáp:
- Một cái măng tây cũng được.
Họa sĩ vẽ chân dung thương gia với một cái măng tây trong tay. Bức chân dung ấy được trưng bày trong triển lãm tranh của Manet năm 1928 (gần 50 năm sau khi Manet qua đời).
Như các họa sĩ Ấn tượng khác, Edgar Degas (1834-1917) thích những cảnh gợi ý cái ngẫu nhiên, tự phát, không tính trước. Giống như họ, ông cũng chịu ảnh hưởng của kỹ thuật nhiếp ảnh mới mẻ (thời bấy giờ) và tranh in mầu Nhật Bản.
Người đẹp vì lụa
Degas cũng hay vẽ tranh phụ nữ khoả thân, trong buổi dự đám cưới một trong những người mẫu của ông, Degas nói:
- Cô ấy đẹp thật. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn cô ta với quần áo. Tôi phải công nhận là quần áo rất hợp với người.
Người hiểu tranh nói gì
Một nhà văn định viết về Degas, họa sĩ nói:
- Ông định viết gì về tôi? Ông tưởng, những người không xem tranh lại có thể hiểu được tranh hay sao. Tôi có nói chuyện với những người dân bình thường về tranh. Họ chẳng hiểu tôi muốn nói gì. Còn những người hiểu tranh tôi, họ chỉ nói:
- Hừm, ha, hô…
Họa sĩ và tranh của mình
Chính mắt Degas chứng kiến cảnh bán đấu giá bức tranh Danseuses à la barre với giá 500.000 đồng tiền vàng. Có người hỏi cảm tưởng của ông, họa sĩ nói:
- Cũng giống con ngựa đua được giải, nó chỉ nghĩ tới lúa mạch.
Có người hỏi Degas tại sao không treo tranh ở trong nhà. Họa sĩ nói:
- Ông biết tranh của Degas bán tới nửa triệu. Một họa sĩ nghèo như tôi thì làm sao mà mua nổi để treo trong nhà.
Sức tưởng tượng và khả năng làm việc của Pablo Picasso (1881-1973) cao nên ông có thể cùng lúc làm việc với nhiều chủ đề và theo nhiều phong cách khác nhau. Những tác phẩm nổi tiếng của ông là Các cô nàng ở Avignon (1906), Mẹ và con (1921), Guernica (1937), Nhà xác (1945). Ở Paris và Barcelona có Bảo tàng Picasso. Tranh của Picasso có mặt ở nhiều bảo tàng trên thế giới.
Bản lĩnh nghề nghiệp
Cảm xúc của Picasso đa dạng như tài năng kỹ thuật. Tranh của ông có lúc bi thảm, có lúc vui tươi, lúc phơi bày tính tàn ác và điên rồ của đồng loại, lúc ca tụng lạc thú tình yêu một cách say mê. Tác phẩm của ông thấm đậm tình yêu cuộc sống. Về mình, ông nói:
- Nhiều phong cách mà tôi đã sử dụng trong kỹ thuật sáng tác không nên được coi là một tiến triển, hay như bước tiến tới một lý tưởng chưa từng có của hội họa. Khi tôi tìm thấy một điều gì đó cần diễn đạt, tôi làm điều đó không nghĩ tới quá khứ hay tương lai. Nếu những đề tài tôi muốn diễn đạt gợi ra những cách diễn đạt khác, tôi không ngần ngại chọn chúng.
Tranh chân dung !?
Có một bà người nước ngoài sang Paris để cho Picasso vẽ chân dung. Khi bà kia mang tranh về nước, ở cửa khẩu hải quan không biết nên xử lý như thế nào nên cho mời một họa sĩ tới. Ngắm xong, hoạ sĩ nói đó không phải là tranh chân dung, mà là tranh vẽ một cái máy. Hải quan cho mời một kỹ sư tới. Ngắm đi ngắm lại hồi lâu, viên kỹ sư bảo:
Tôi chẳng biết đó có thể gọi là chân dung hay không. Nhưng hình như đó chỉ là tranh vẽ một cái máy. Nhưng có điều chắc chắn là máy này không chạy được.
Con mắt ?
Một thiếu phụ đứng ngắm tranh vẽ lập thể của Picasso. Bà nhún vai khi ngắm một vệt tròn trên tranh và hỏi hoạ sĩ:
- Có phải đó là con mắt không?
Picasso lắc đầu nói:
- Đó là cái đồng hồ.
Hội họa là như thế!
Trong thời kỳ vẽ tranh lập thể, Picasso treo trên tường đủ mọi thứ ông lượm được: hộp đàn violin, nắp thùng phuy, sắt vụn đủ loại , giấy báo v.v.
Một ngày nào đó, ý tưởng một bức tranh hình thành trong đầu, Picasso lấy mọi thứ xuống. Hoạ sĩ gò, gõ búa liên tục làm hàng xóm điên đầu. Cảnh sát tới yêu cầu hoạ sĩ ngưng tay, không được làm ồn. Picasso thản nhiên bảo:
- Ông muốn gì nào? Hội họa là như thế đó!
LỜI BÌNH: Về hội họa, Pháp đứng sau Italia, Hà Lan, Đức, nhưng nơi ươm những tài năng hội họa của thế giới không phải là Italia, Hà Lan, Đức, mà là Paris hoa lệ của nước Pháp, vì người Pháp hào hoa phong nhã, bao dung, cởi mở với tinh thần mở cửa đón mời hoa thơm dị thảo khắp bốn phương trời cùng nhau hội tụ về Paris, cùng nhau ganh tài. Rodin đã đi trước thời đại đang trì trệ với điêu khắc”thuần tuý”. Các tác phẩm của Rodin mang tính tượng trưng và văn học nên có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của nghệ thuật hiện đại. Ông đưa nghệ thuật thành phương tiện biểu hiện mạnh mẽ cảm xúc con người.
Pablo Picasso là hoạ sĩ người Pháp gốc Tây Ban Nha- là nghệ sĩ nổi danh và đa tài của hội hoạ thế kỷ 20. Ông đã thống trị sự phát triển các nghệ thuật thị giác trong gần hết nửa đầu thế kỷ 20.
Edgar Degas là một trong những thành viên ưu tú của trường phái Ấn tượng, một trong những nghệ sĩ lớn ở thế kỷ 19. Nếu không sống ở “vườn ươm Paris” liệu Picasso lấy đâu ra cảm hứng mà sáng tác, mà phát triển hết tài năng của mình để trở nên nổi tiếng thế giới. Không gian cần và đủ để sống và sáng tác quan trọng biết bao với người nghệ sĩ!
Auguste Renoir là họa sĩ trường phái Ấn tượng. Chủ nghĩa ấn tượng (Impressionismus) là một khuynh hướng nghệ thuật ở châu Âu có ảnh hưởng sâu rộng từ khi xuất hiện tới tận ngày nay. Nó xuất hiện đầu tiên trong ngành hội họa với ấn tượng sâu sắc trong giây lát về cảnh mặt trời mọc trong bức tranh Mặt trời mọc của họa sĩ Pháp Monet (1840-1926). Từ hội họa, chủ nghĩa ấn tượng lan sang văn học, âm nhạc. Văn sĩ, nhạc sĩ khuynh hướng ấn tượng chủ nghĩa luôn tìm cách diễn tả ấn tượng của mình, diễn tả những rung cảm tâm hồn cùng sắc thái của nó trong một khoảnh khắc nào đó.
Edouard Manet là thành viên được kính trọng và ngưỡng mộ của nhóm nghệ sĩ “Ấn tượng trẻ”, trong đó có Monet, Renoir, Bazille, Sisley, Cézanne. Ông được coi là một trong những người sáng lập nghệ thuật hiện đại.
(còn tiếp)
Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản. |