tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
23.02.2011
Dương Nghiễm Mậu
Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có tạp chí Sáng Tạo

1


Sau năm 1975 cho tới những năm đầu thế kỷ 21, ở nước ngoài cũng như ở trong nước đã có những tác giả viết hoặc lên tiếng về văn học Miền Nam Việt Nam 1954 – 1975 như Võ Phiến, Thụy Khuê, Trần Văn Nam, Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Hưng Quốc... Người thì viết về toàn cảnh sinh hoạt, người viết về các tác giả, người viết về thơ Tự do, người viết về tiểu thuyết hoặc những đề tài thu hẹp khác. Những bài viết này thường nhắc đến sự có mặt của Tạp chí Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương biên tập. Đã có những đánh giá ban đầu về chỗ đứng của Tạp chí Sáng Tạo. Bài viết này không hướng vào Tạp chí Sáng Tạo mà nhắm làm rõ nét một số tác giả chính của tạp chí này trước khi nó ra đời, cùng lúc tìm hiểu về những mối liên hệ của mỗi cá nhân trong một thời điểm đặc biệt của lịch sử Việt Nam.


 


2


Theo những bài viết và những trang tiểu sử ngắn đã được in ra lúc sinh thời, chúng ta được biết: Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh tại Vinh ( Nghệ An) ngày 13 tháng 3 năm 1936 học bậc tiểu học tại Gia Định, ra Hà Nội đầu năm 1949 học bậc trung học. Năm 1952 dạy học tại trường Minh Tân (thị xã Hà Đông). Đăng những truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Thanh Niên (Hà Nội).


Năm 1954 di cư vào Nam. Hoạt động trong Hội sinh viên, cùng Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Quốc Sỹ chủ trương nguyệt san Lửa Việt (Sài Gòn). Năm 1955 cùng các bạn làm tuần báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các và Tuần báo Người Việt.


Tuần báo Người Việt giới thiệu dưới đây là Tuần báo Người Việt bộ  mới chỉ ra được bốn số vào cuối năm 1955.


Tuần báo Người Việt bộ mới phát hành ngày thứ năm hàng tuần :


- Số 1 ra ngày 27 tháng 08 năm 1955 có 36 trang


- Số 2 ra ngày 15 tháng 09 năm 1955 có 42 trang


- Số 3 ra ngày 01 tháng 10 năm 1955 có 42 trang


- Số 4 ra số đặc biệt với  chủ đề SÁNG  TẠO có 66 trang và có quảng cáo cho số 5 xuất bản vào thượng tuần tháng chạp dương lịch nhưng không thấy ra


Người Việt bộ mới in cỡ 20cm  x  27 cm, bìa hai màu, Duy Liêm vẽ bìa và minh họa. Bìa một, trong một khung vuông có in tám chữ cỡ lớn đậm nét: DIỄN  ĐÀN  TIỀN PHONG  ĐẤU TRANH  VĂN  HÓA, tám chữ này cho thấy phần nào nội dung mà tờ báo hướng tới. Người Việt bộ mới hiện diện ở nửa sau của năm 1955 là một tập hợp đầu tiên giữa Thanh Tâm Tuyền với những người bạn: Mai Thảo, Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại.


Thời điểm tuần báo Người Việt có mặt là một năm sau hiệp định Geneve: chia Việt Nam làm hai ở vĩ tuyến 17, lấy sông Hiền Lương làm ranh giới. Miền Bắc đã và sẽ có một chính quyền theo đường lối của cộng sản đệ tam. Miền Nam đang thành hình một chính quyền của những người không cộng sản, hướng tới dân chủ. Nền Cộng Hòa được khai sinh, chấm dứt hẳn chế độ phong kiến. Vì thế những chuyển đổi trong xã hội tại miền Nam khác với miền Bắc. Báo chí cũ vẫn tiếp tục xuất bản, nhưng nay có thêm nhiều báo mới của những cây bút di cư và những người  bỏ hàng ngũ bên kia trở về. Ở Sài Gòn, báo chí có một đời sống rất sinh động. Những báo chuyên về văn nghệ có: Tờ  Văn Nghệ Tự Do với các cây viết: Nguyễn Hoạt, Như Phong, Bùi Xuân Uyên, Triều Đẩu, Tam Lang... Tờ Quan  Điểm với các cây bút: Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Vương Văn Quảng... Tại Huế, thủ phủ của miền Trung, có tờ Mùa Lúa Mới của Đỗ Tấn, Võ Phiến... Nguyệt san Văn Nghệ Mới của Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Trần Lê Nguyễn (I)... Những diễn đàn này, với những thể hiện khác nhau cho thấy sự lựa chọn của họ. Tờ Người Việt đặt những vấn đề như: Phải bảo vệ nền độc lập văn hóa, Thực chất văn nghệ Cộng Sản, Chủ nghĩa Mác với văn nghệ Việt Nam. Nguyễn Văn Xuân trên tờ Văn Nghệ Mới trình bày một luận thuyết dài: Để xây dựng một nền văn nghệ dân chủ tiến bộ.


Tuần báo Người Việt bộ mới có những cây bút chính là: Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Quốc Sỹ, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại, Mai Thảo... Những sáng tác của họ chiếm phần lớn số trang của tờ báo. Nhưng là một diễn đàn tiền phong đấu tranh văn hóa nên tờ báo không thể không lên tiếng về những vấn đề thiết thân của xã hội đương thời. Sau đây là bản liệt kê những bài viết về các lãnh vực giáo dục, xã hội, văn hóa chính trị (Con số ghi ở sau đầu đề bài viết là số báo Người Việt)


- Hòa bình và Hội nghị Geneve (số1)


- Phải bảo vệ nền độc lập văn hóa (số1)


- Những sự kiện lịch sử (số1)


- Góp ý kiến về công cuộc tổ chức Trường Đại học Văn Khoa Việt Nam (số1)


- Đặt vấn đề mục đích của giáo dục (số 2)


- Vấn đề giai cấp xã hội (số2)


- Hiện trạng xã hội và kinh tế Việt Nam (số2)


- Hiến pháp luật giản yếu (số2)


- Vấn đề giai cấp (số3)


- Nhân sinh quan của người Việt (số4)


- Kinh tế nhu yếu (số4)


Phần nhỏ trang báo trong bốn số Người Việt còn có những mục linh tinh :


- Điểm sách báo , Điểm phim , Đãi lọc , Tâm tình , Lượm lặt bốn phương , Phê bình...


- Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện của Thiết Bản Đạo Nhân (Trần Việt Hoài)


- Những tâm trạng bi thương, phóng sự của Trọng Lang.                   


- Dịch  thuật : Trong bốn số báo Người Việt đã giới thiệu truyện ngắn và thơ có chọn lọc phù hợp với nội dung tờ báo. Người Sông Thương (Nguyễn Sỹ Tế) giới thiệu truyện ngắn Niềm Im Lặng Của Biển Cả của Vercors. Chiến Hữu giới thiệu Quê Hương của Majorie Honès.Về thơ đã giới thiệu thi phẩm của: Walt Whitman, Paul Eluard, Garcia  Lorca, Pablo Néruda, Tristan  Tzara.


Trong lãnh vực văn học nghệ thuật có những bài chính sau đây :


- Thực  chất văn nghệ cộng sản (1)


- Đặt đúng vấn đề thơ Tự Do (2)


- Những sự kiện mới của văn hóa (3)


- Góp phần xây dựng văn nghệ (3)


- Nửa thế kỷ văn nghệ tôi đòi (4)


- Văn nghệ và cách mạng (4)


- Chủ nghĩa Mác với văn nghệ Việt Nam (4)


Chỉ đọc qua những đầu đề chúng ta cũng thấy ý hướng của các tác giả. Bài: Thực chất của văn nghệ cộng sản, Đỗ Thạch Liên viết: “Đi vào cái sống nhờ cậy, dựa trên kinh tế, để vào sâu trong cái chết hủy diệt, văn nghệ cộng sản chối từ vai trò sáng tạo của nó. Văn nghệ có những liên hệ khắng khít với bên ngoài nhưng cũng có cuộc sống biệt lập của nó với một bản thể phong phú và nhiệm vụ riêng biệt. Bản thể đó là sự rung cảm đòi sáng tạo, hay cách mạng cũng vậy. Nhiệm vụ đó là góp một phần trong sự tạo thành con người, một phần chính yếu chứ không phụ thuộc như lý luận mắc xít. Văn nghệ nào tách rời với bản thể và quên nhiệm vụ là đi vào đường tàn lụi. Văn nghệ tàn lụi lôi theo sự đổ vỡ của con người.”


Trong bài: Những sự kiện mới của văn hóa, Đỗ Thạch Liên viết: “Nhà văn Bernanos trong một buổi nói chuyện với đám sinh viên Ba Tây đã can đảm thú nhận những lỗi lầm hư hỏng của thế hệ đã qua khiến cho những thế hệ sau gặp bao nhiêu khó khăn gai góc, rồi ông nhân danh một người thuộc thế hệ cũ xin lỗi những thế hệ sau (....) Cũng trong buổi nói chuyện kể trên, Bernanos nói rằng: trọng trách của những thế hệ sắp tới là dành lại Tự Do.”


Trong bài viết: Góp phần xây dựng văn nghệ, Âu Âu Thành Đô đã nhìn lại những sự kiện trên thế giới từ khi chủ nghĩa Mắc-xít xuất hiện ,tác giả nhận định : “...chủ nghĩa Mác đã rèn luyện môn đồ thành con người chỉ biết suy nghĩ (luận) theo có một chiều (duy vật biện chứng ),chỉ biết có hành động (luật) theo có một hướng (độc tài vô sản) nên con người đó phải thui chột hết tình cảm...Mà con người đã không rung động thì làm gì còn có tính chất con người nữa ?(...) Mà một chủ nghĩa đã không dựng trên nền tảng tình cảm thì không tài nào đi sâu vào lòng người được ?”


Trong bài viết: Văn nghệ và cách mạng, Đỗ Thạch Liên viết: “…Để văn nghệ có thể hoạt động đắc lực với nhiệm vụ lớn của nó tất nhiên phải có những điều kiện thuận lợi để phát triển. Điều kiện căn bản cần thiết nhất vẫn là Tự Do Cởi Mở (...) A. Einstein nói rất đúng: Tất cả mọi sự sáng tạo vĩ đại đều là công trình của cá nhân trong tự do.”


Nguyễn Sỹ Tế nhìn lại lịch sử với bài viết Nửa thế kỷ văn nghệ tôi đòi. Tác giả viết: “Tôi có ý nói nửa thế kỷ văn nghệ tôi đòi mà không nói 80 nô lệ như  người ta thường nói là vì riêng về địa hạt văn nghệ, chúng ta có thể bỏ lại phần nửa thế kỷ trước. Trong nửa thế kỷ đó, cuộc thống trị của thực dân đang ở vào giai đoạn bình định chưa bước sang giai đoạn khai thác với đầy đủ hệ thống giây xích của nó. Sau đó tác giả lướt qua những chính sách của thực dân Pháp: Chính sách chia để trị: Nam thuộc địa, Bắc Trung bảo hộ. Đàn áp nhân dân. Chính sách ngu dân, hạn chế phổ biến văn hóa phẩm trong cả nước.”


Trên đây, qua mấy trích dẫn trong một số bài viết, chúng ta đã thấy quan điểm tổng quát của tuần báo Người Việt được trình bày trên diễn đàn.        


Vào thời điểm 1955 , Thanh Tâm Tuyền và những người bạn còn rất trẻ mới bắt đầu khởi hành trên con đường sáng tác của mình, nhưng trên diễn đàn của họ lại có hai tên tuổi đã thành  danh từ thời tiền chiến: Trọng Lang và Nguyễn Đức Quỳnh.


Ngoài ra, còn có những tác giả khác như: Minh Đạo, Lam Sơn, Tuệ Mai ,Hoàng Hoa, Tố Lữ, Phan Đông Hồ, Hoàng Linh, Nguyễn Văn Cẩn, Việt Hải, Duy Sinh, Lục An Châu, Việt San Xã Việt, Đoàn Thoại Sơn, Âu Âu Thành Đô, Tâm Thu, Chiến Hữu, Duy Năng, Hương Việt Hương, Trần Việt Hoài, Đỗ Thạch Liên, Ninh Sơn... Tên những tác giả này có thể là tên của tác giả khác vì sau này nhiều bút danh không còn thấy xuất hiện. Dưới đây là phần tìm hiểu những sáng tác của Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trên bốn số báo Người Việt.


Trước khi đăng những sáng tác trên báo Người Việt , Thanh Tâm Tuyền đã viết trên báo Thanh Niên, báo Lửa Việt, báo Dân Chủ và báo Người Việt bộ cũ. Về những sáng tác đầu đời này, chúng ta chưa thể tiếp cận. Trong 4 số báo Người Việt Thanh Tâm Tuyền đã cho in thơ, truyện ngắn, ký, kịch.


 


 


THANH TÂM TUYỀN VÀ THƠ TỰ DO


 


Về thơ, có lẽ để khẳng định đây là thơ tự do nên những trang thơ đều ghi ở trên: Thơ Tự Do, có tất cả 4 bài:


- Phiên khúc 20 (1)


- Mắt biếc (3)


- Bài thơ chữ số (4)


- Thành phố (4)


Bốn bài thơ này đều được in lại trong tập thơ Tôi không còn cô độc do Người Việt xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn. Riêng bài Phiên khúc 20 khi in trên Người Việt có bị kiểm duyệt  6 hàng từ câu thứ 6 cùng với câu thứ 16, nhưng khi in vào tập thơ những câu thơ bị kiểm duyệt không thấy được phục hồi và còn một  chi tiết nhỏ: khi in trên báo, mỗi đầu câu thơ khi xuống hàng đều viết chữ hoa. Sau đây xin trích dẫn phần mở đầu của bài Phiên khúc 20 và bài Bài thơ chữ số.


 


PHIÊN KHÚC 20


Tặng những người đã ngã xuống cho phiên khúc 20


Ta vừa hai mươi tuổi


Nhân loại cũng hai mươi


Ôi nhân loại hai mươi


Thóc gặt dư ăn


Bột xay thừa nặn bánh


(kiểm duyệt bỏ 6 giòng )


Ta kêu lên hờn căm


Khi quá thể chúng cắt tình ruột thịt


Hỡi mẹ hiền nhìn mẹ rưng rưng


Yêu chẳng được yêu khóc không giám khóc


(kiểm duyệt)


Hôm nay ta xông ra ngoài phố


(...)


BÀI THƠ CHỮ SỐ


Tặng M.T.


Bát ty : 14-7


89


Mùa thu tháng 8


19-45


Phẫn nộ bưng bưng , nắm tay khăng khít


19-12-46


Con số những người đã chết hiện thành


Nhục nhã 20-7-54


Và 17


Như kia 38


Khắc sâu tâm khảm


Những dãy số vô nghĩa đến đớn đau


80


13


27-6-30


2.000.000


Còn những lượng không sao nói được


Vỡ Bát ty


Trang tự do tuyên ngôn quyền người hớn hở


Tung xích cùm


Tổ quốc thân yêu cười vui lạ


Trả bằng hơi thở trái tim


Nhận mình làm số không


Người mến thương thành vô lượng


Đất nước đẹp bao la


Hãy nhớ 10 năm


 


Đừng lầm lỡ 45


Tin từ bây giờ 55 hy vọng


Mất hôm nay


Hànội kinh hoàng


Lực lượng ngày mai dấy lên


Ghi tình yêu không chữ số.


 


Bốn bài thơ trên Người Việt chắc chắn là trong số những bài thơ đầu tiên của Thanh Tâm Tuyền được phổ biến tới quần chúng và để người đọc tiếp cận được thơ của mình, ngay trong số báo thứ 2 Người Việt bộ mới, Thanh Tâm Tuyền đã cho in bài: Đặt đúng vấn đề thơ tự do. Tác giả mở đầu bài viết: “Cho đến hôm nay vấn đề thơ tự do ở Việt Nam vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa. Trong khi vấn đề này ở ngoại quốc hầu như không còn ý nghĩa. Thi sỹ nước ngoài khi viết không bao giờ nghĩ rằng mình đương viết một bài thơ tự do, chỉ gọi gọn là thơ mà thôi (...) Thơ tự do là một thực tại nghệ thuật không ai chối cãi được điều đó. Muốn hay không thơ tự do đã thành hình theo nhu cầu của nghệ thuật và xã hội. Không thể chối nhận sự thực khách quan này.”


Sau đó tác giả lướt qua những ý kiến về thơ mới, thơ cũ, về hình thức của thơ, vấn đề bình cũ rượu mới, cái ta trong thơ cũ và cái tôi trong thơ mới cùng  quá trình sinh thành của thơ tự do. Tác giả trình bày: “Vậy trên những sự kiện xã hội nào nhu cầu nghệ thuật đòi hỏi “thể thơ tự do” ? Thơ cũ đứng ở cái ta bàng bạc trên ngoại cảnh vũ trụ. Thơ mới vào sâu cái tôi riêng lẻ cá nhân, khép kín. Thơ tự do bước thêm nữa thoát ra khỏi cái tôi chật hẹp nhưng không đến cái ta mông lung, mà là cái chúng ta cụ thể làm giàu thêm cái tôi không khép kín và cái ta mơ hồ (...) Qua những tác phẩm đã ra đời, ta có thể  phân biệt được hai nguyên tố cơ bản.


1 - Hiệu lực màu nhiệm của tiếng ( Pouvoir magique des mots)


2 - Ý thơ (Idée poétique)


(...)


Tóm lại những nguyên tố cơ bản cấu tạo thơ tự do là muốn vật chất hóa bài thơ, một bài thơ tự do sẽ được sáng tạo cũng như thưởng ngoạn giống như một pho tượng, một bức họa, một bản nhạc (...)


Bản vị - ý tưởng cùng tiết điệu – của bài thơ tự do không đặt trên mỗi câu mà đặt trên từng từ khúc (strophe) đã được khuôn định sẵn để gò ép cảm hứng mà là thứ từ khúc ấn định theo nguồn cảm hứng.


 


Nếu ta đọc một câu:


-Một mảnh tình riêng ta với ta


hay - Người đâu gặp gỡ làm chi


Ta biết ngay đó là câu thơ. Bản vị của thơ ngày trước là câu thơ. Nhưng nếu chúng ta chỉ đọc “Thềm cũ”, Hà nội “Ơi núi rừng” (II) thì thật hoàn toàn vô nghĩa. Phải trả chúng vào sự cấu tạo riêng biệt của bài thơ.


Mỗi từ khúc là sự liên hợp những ý thơ những hình ảnh – những phần tử này có sự biệt lập tương đối được nối liền khắng khít bằng một ý tưởng thống nhất của từ khúc.


(...)


Có một câu hỏi cũng cần trả lời nốt: Liệu thơ tự do có hoàn thành được nhiệm vụ mình thỏa mãn được nhu cầu nghệ thuật thời đại không?


Điều đó không thành vấn đề: nó đã sinh ra và nó cứ sống đến khi nào nó chết. Lịch sử phán đoán sau. Có hoàn tất được nhiệm vụ không còn tùy ở những người sáng tạo và thưởng ngoạn nghĩa là những người đòi nó ra đời. Nói thế chứ, ít nhất, ta cũng đừng quên những: Whitman Lorca, Eluard, Neruda.”


Ở trên chúng ta đã nói đến những bài thơ tự do đầu tiên của Thanh Tâm Tuyền và bài viết về thơ tự do của ông trên báo Người Việt năm 1955.  Sau đó, trên con đường sáng tác thơ, Thanh Tâm Tuyền đã cho in: Tôi không còn cô độc (1956) Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy (1964) Thơ ở đâu xa (in tại Mỹ năm 1990). Thơ của ông còn nhiều trên các báo và trong di cảo chưa được xuất bản. Sau năm 1955, hơn một lần Thanh Tâm Tuyền còn lên tiếng về thơ như bài viết: Nỗi buồn trong thơ hôm nay (Sáng Tạo số 31 tháng 9 năm 1959), Nói chuyện về thơ bây giờ (Sáng Tạo số 3 bộ mới, tháng 8 năm 1960). Cuộc đời của Thanh Tâm Tuyền như gắn kết với thơ. khi ở trong tù , lúc ra nước ngoài ông vẫn không ngừng sáng tác.


 


THANH  TÂM  TUYỀN  VỚI  BÚT KÝ  : ĐỒN  BA- MÍT


 


Ngay trong  số 1 tờ Người Việt, Thanh Tâm Tuyền cho in Bút ký chuyến đi vào sâu đất nước: Đồn Ba Mít, ông mở đầu bài ký:


“Đi thật  là vội vã bất ngờ, hành lý của tôi vỏn vẹn niềm tin yêu mãnh liệt. Hãy phả đầy hồn niềm tin yêu mãnh liệt ấy mà đọc những dòng này. Người khe khắt sẽ cho những hình ảnh, những ấn tượng tôi chụp lại dưới đây quá chủ quan. Tôi không chối, còn tự hào về cái chủ quan của mình (...) Và tôi viết.


Chiếc xe “díp” lăn vào con đường đất hẹp hai bên cỏ xanh cao  ngất. Nói là đường bởi vì bánh xe lăn được trên đó, thực ra chỉ có hai vệt mòn dài làm bởi bánh xe còn ở giữa vẫn là cỏ. Chúng tôi đi như thế mất mười năm phút. Nắng cao rộng.


Rồi xe chui vào khoảng dâm mát dằng dặc (...) Làng ở đây không quây tròn mà kéo dài hai bên. Những gian nhà, lều thì đúng hơn, lui vào sâu dưới bóng cây, chỉ trước mặt cây còn quang đãng một chút vì tay người sửa sang... Người ta bỏ dở công việc đón chúng tôi một cách thầm lặng hoan hỉ. Những cụ già ngả nón chào chúng tôi làm chúng tôi phải đáp lễ luôn...Chúng tôi tạt vào đồn Ba Xe... Các đồn ở đây sơ sài hơn ngoài Bắc. Đồn cũng xây cất hớ hênh dễ dãi tỏ cho có mặt mà thôi (...)


Tôi tỉnh dậy, ánh nắng xuống khỏi mái rung rinh. Mọi người đã bắt đầu làm việc. Những màu đen thô sơ của đồng ruộng lẫn với màu vàng kệch của quân đội, cả những tấm lưng cháy nắng. Dân chúng đến phụ lực buổi nay khá đông. Trước đây quân đội viễn chinh Pháp không dám đóng đồn ở vùng này. Dân chúng sống trong sự áp bức bóc lột ghê gớm.


- Cây cam nhà tôi bán được ba trăm, thằng tư Đầy nó thu hai trăm – một ông cụ đã nói với tôi khi tôi gặp cụ bên chợ - bây giờ quân đội ta về dễ chịu, mùa này tha hồ mà ăn trái cây. Thóc gặt một trăm dạ chúng thu hai mươi. Bởi vậy quân đội lập đồn chúng tôi hoan nghênh và tình nguyện giúp sức. Buổi đông thì bảy, tám mươi người, vắng thì ba bốn mươi người.


- Cây cau làm cột cờ kia là của nhà tôi - anh nông dân ngửng đầu nhìn chót vót há cả miệng – nó cao những 14 thước, tôi phải cưa bớt đi.


Quân đội xin một cây cau, dân chúng cho ba, xin một cây tre dân chúng cho mười (...)


Trong cuốn sổ tay tôi đã ghi lại về chuyến đi này một ý nghĩ: muốn yêu một cái rộng lớn trừu tượng phải  bắt đầu yêu từ những cái nhỏ bé cụ thể.”


Trên đây là lược trích bút ký Đồn Ba Mít in hai kỳ trên báo Người Việt số 1 và số 2 ghi lại chuyến đi tới một vùng nông thôn ở vào thời điểm miền Nam đang khởi đầu công cuộc bình định và xây dựng sau khi đất nước bị chia đôi.


 


TRUYỆN  NGẮN :  NGƯỜI  BỆNH  GIỮA  MÙA  XUÂN


 


Nhân vật chính trong truyện Người bệnh giữa mùa xuân là một vị chủ tịch sống trong một dinh thự giữa một thành phố đang đổi thay. Vị chủ tịch  bỗng lâm bệnh, ông thấy như cái chết đang tới gần, ông xuống phố, nhận ra những sự thật và ông quay trở về. Dưới đây là lược  trích  truyện Người bệnh giữa mùa xuân:


“Mùa đông đã qua đi từ lâu và bấy giờ người ta đang ở giữa mùa xuân. Thành phố không vui vẻ thêm chút nào, trái lại càng ảm đạm. Dân chúng lặng lẽ rời bỏ thành phố ngày một nhiều (...) Bây giờ cảnh vật không người chết rũ. Buổi chiều nay chết lịm trong im vắng. Gió len qua bờ cây rì rào. Đứng trên từng gác cao của dinh thự vị chủ tịch của cái chính phủ hiện cai quản thành phố nhìn qua  cửa sổ thu tất cả sự chết chóc vào trong thân thể mình. Vì nhìn trên người ông già mầm hủy hoại đang nhú lên...Ông ngả người xuống nệm, người nhẹ lâng lâng và ông chợt thở dài.


Tiếng gõ cửa rụt rè. Ông khó chịu lên tiếng:


- Cứ vào.


- Thưa đồng chí chủ tịch, đồng chí bí thư trung ương đảng muốn được vào thăm chủ tịch.


- Tôi đã bảo không ai được vào cả - ông đập tay xuống giường kêu to – không một ai được vào nghe chưa? Để cho tôi yên một mình.


Ông kêu to quá và nước mắt tự nhiên dàn dụa. Ông mệt muốn đứt hơi (...) Cùng lúc ông đưa tay vuốt má chùi những giọt nước mắt, nhận thấy da mình nhăn nheo ghê rợn. Và ông rùng mình ngây ngất với cảm giác ve vuốt trìu mến.Thế là được thể giác quan và trí nhớ của ông mở rộng để đón một lượt những xúc cảm và hình ảnh xô bồ. Hình ảnh thưở ấu thơ mẹ và chị săn sóc khi ông ốm, tiếng chân rón rén ở sau lưng, bàn tay ấm áp đặt lên trán sâm sấp mồ hôi. Rồi ông bỗng thèm khát âu yếm, muốn gần đàn bà.(...)Ông choàng thêm áo và do ngõ cửa bí mật dành riêng, ông rời dinh thự xuống phố (...) Ông bỗng bắt gặp một cặp trai gái tình tự sau gốc cây khuất bóng, nhìn dáng điệu ông nhận ra ngay đó là một cán bộ: - A, ông kêu nhỏ trong cổ. Và tự nhiên ông hổ thẹn như một đứa trẻ con trước cảnh ấy. Ông vội vã rảo bước. Qua một căn nhà làm trụ sở họp khu phố, cửa đóng kín, tiếng rào rào đưa ra. Ông ghé mắt nhìn vào và trông thấy ảnh mình treo trên tường giữa phòng (...) Hình dung lại cảnh tượng ông mới thấy là nó giả tạo quá (...) Đường phố vắng ngắt. Mùi tật bệnh thốc lên mũi, ông lợm giọng. Người ông giấy lên, ruột như bị lộn ngược: - Thất bại... Ông nhắm mắt nhanh và khuỵu vào bờ tường ngất bặt. Khi vị chủ tịch tỉnh lại ông thấy mình nằm trên chiếc chõng trong một căn nhà lá. Ngoài trời mưa lớn và vẫn là đêm (...) Ý nghĩ ông ngừng lại ngay, ông nín thở hé mắt. Hai vợ chồng chủ nhà vừa vào, ông định được ngay thành phần giai cấp của họ: lao động thành thị.


- Thế nào, các con xong xuôi chứ...


- Chúng nó đi tàu sáng nay với bác cả rồi (... )- Đây này, lúc tôi về ngang trên phố gặp ông cụ này ngất ở hè đường. Thương hại tôi chở về đây. Chắc cụ trốn ở khu tư ra đói quá mà bơ vơ...Vị chủ tịch nhắm nghiền mắt. Hai vợ chồng đến bên giường. Hơi thở ấm của người đàn bà sát da mặt người ốm. Nhịp thở bỗng gấp hơn. Vị chủ tịch vẫn nằm yên. Tiếng chân hấp tấp xa ra đầu nhà. Tiếng thì thầm:


- Nhà nó không để ý gì à ?


- Gì ?


- Chủ tịch... u nó để đấy cho tôi...


- Mình – tiếng chị vợ thất thanh – mình định làm gì?


- Làm gì à? Giết nó đi trả thù cho mình với bao nhiêu người nữa chứ.


- Mình, nhỡ không phải thì sao? Không lẽ ông ta lại nằm ngoài đường. Vô lý (10).


(...) Bàn tay ấm đặt lên trán. Ông nhớ mẹ và chị tha thiết. Bàn tay ấy xoa dầu vào thái dương ông. Ông nằm im muốn chết (...) Người đàn bà lấy áo mưa đắp cho ông. Mưa ngoài trời trên mái lá:


- Cụ đi với chúng con nhé - người vợ ghé sát tai vị chủ tịch – vào Nam ấy mà (...) Vị chủ tịch nắm lấy tay người đàn bà và khóc, khóc nức nở như trẻ nít (...)


Ngày thứ ba, vị chủ tịch lén bỏ trốn vợ chồng ân nhân về dinh thự khi đã khỏe mạnh. Và ngay buổi tối hôm ấy cặp vợ chồng lao động tốt bụng bị bắt tại nhà trong khi chưa kịp rời thành phố sang bên kia. Những đứa con đã đi trước không bao giờ gặp lại bố mẹ yêu quý nữa.


Vị chủ tịch thề không bao giờ xuống thành phố nữa và mùa xuân trôi qua bình thản trên phố phường câm nín hơi thở.”


 


Ở trên là lược trích truyện ngắn  Người bệnh giữa mùa xuân in trên báo Người Việt số 2. Ngoài thơ, Thanh Tâm Tuyền còn sáng tác nhiều tác phẩm văn xuôi thuộc nhiều thể loại. Ông đã cho in: Bếp lửa (truyện dài -1957), Khuôn mặt (truyện ngắn-1964), Cát lầy (truyện dài -1966), Dọc đường (truyện ngắn -1966), Mù khơi (truyện dài-1970), Tiếng động (truyện dài-1970), Tạp ghi (phiếm luận -1970).


Ngoài ra ông còn viết nhiều đoản văn, truyện dài trên các báo chưa được in thành sách. Sau năm 1975 người ta không còn thấy văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền.


 


THANH TÂM TUYỀN VÀ KỊCH: BỨC  HỌA


 


“Kịch 1 màn - các vai: Liên, Huy, Thu


Không gian và thời gian: một buổi tối mùa đông trên căn gác nhỏ giữa thành phố Hà Nội sau ngày quân đội Việt Minh chiếm đóng.


Bài trí: Hai cái ghế bành cũ, một vài tấm ảnh cắt ở báo Tây dán trên tường. Hành lý gọn gàng xếp ở một góc. Cửa sổ mở ra một mái ngói.


Màn kéo lên; Huy đứng trước giá vẽ. Liên ngồi trên tay ghế. Thu ngủ trong lòng ghế. Nhịp cười trong trẻo thanh thoát vọng từ hậu trường rồi bị bịt nghẽn.


HUY (sửng sốt ) - Cô Liên...


LIÊN  - Dạ


HUY - Tôi nhớ ra rồi...


LIÊN  - Anh nhớ cái gì?


HUY - Tôi nhớ ra rồi. trở về Hà Nội gặp cô không chút gì thay đổi nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu thiếu một cái gì  cần thiết lắm.


LIÊN - Một chút gì cần thiết lắm, tiếng cười phải không anh?


 HUY - Đúng đấy cô ạ. Ngày trước cô hay cười ròn rã và vui lắm. Phải , tôi nhớ chắc chắn như thế. Sao bây giờ cô không cười. Không khí này làm cô nghẹn ngào? (...)


HUY - Ấy, cô cứ cười nữa đi, tôi nhớ ra tất cả, mười năm, mười năm...


LIÊN - Mười năm? có quan hệ gì tới tiếng cười của tôi?


HUY - Mười năm, có lẽ hơn một chút. Tôi đã vẽ dở cho cô bức chân dung. Ngày ấy cô còn đi học và cặp tóc, Tôi cũng kê giá vẽ ở chỗ này, Nhưng cô không phải ngồi ở chỗ ấy. Cô ngồi gần cửa sổ kề bàn học của anh Thắng. Ngoài trời xanh lơ mùa xuân. Cô cười...(...)


HUY - Vâng xin cô ngồi xuống, hơi nghiêng một chút... Tôi cố vẽ cho xong đêm nay để mai sớm cô đi (...) Mười năm tôi không làm sao hoàn thành nổi một tác phẩm. Bức nào nửa vời tôi cũng hủy đi...


LIÊN - Có , anh có hoàn thành được một bức...


HUY - Bức nào? Sao tôi lại không nhớ?


LIÊN - Thế mà tôi nhớ. Sau trận Đông Khê - Thất Khê, anh Thắng chết...


HUY - Phải, anh Thắng chết, Thắng chết, xác chết nằm trên người tôi.


LIÊN - Vì thế anh phát điên trở về hậu phương tĩnh dưỡng...


HUY - Tôi nhớ... Tôi nhớ... Làm sao?


LIÊN - Anh Hoàng từ khu bốn ra thăm anh và từ biệt anh vào thành. Bữa ấy anh ngồi bưng mặt khóc. Anh gọi tên anh Thắng. Nước mắt ròng ròng anh lấy viết chì vẽ khuôn mặt tôi


HUY - Vẽ cô? Sao cô biết?


LIÊN - Anh Hoàng về kể lại và trao cho tôi bức vẽ...


HUY - Bức vẽ nữa


LIÊN - Anh vẽ tôi một mắt và có râu xồm...(...)


HUY - Tại sao cô lại nghĩ đến tôi, đến tác phẩm của tôi?


LIÊN - Vì anh Thắng đã chết, vì anh Hoàng ở trong kia, vì tác phẩm có hình bóng tôi, tác phẩm chung của anh Thắng, anh Hoàng, anh và tôi. Tôi không muốn tác phẩm bỏ dở. Chính ra tôi ở lại gặp anh để giúp tác phẩm này. Tôi đoán biết trước anh trở về Hà Nội với với tác phẩm ấy trong tâm tư. Cần có tôi cho nó thành hình. Anh hiểu rõ vì sao tôi còn nán lại đón anh chứ?(...)


(Tiếng còi tàu vang trong đêm khuya)


THU - Mai ta đi tàu ấy phải không chị?


LIÊN - Ừ


HUY - Có phải đó là chuyến tàu phiêu lưu?


LIÊN - Không phải, đấy là chuyến tàu đưa kẻ phiêu lưu về quê hương (...)”


Trên đây là lược trích vở kịch một màn in trên tuần  báo Người Việt số 4. Về kịch: năm 1965 Thanh Tâm Tuyền cho xuất bản tập kịch Ba Chị Em, kịch của ông chưa từng được đưa lên sân khấu.


Trên báo Người Việt, Thanh Tâm Tuyền còn ký những bút hiệu khác, bút hiệu Cô Tâm Thu cho phần dịch thuật và trả lời thư bạn đọc, ông đã dịch thơ của Lorca, Tristan, Tzara, Eluar, Whitman sang Việt ngữ.


Chúng ta đã điểm qua những tác  phẩm  của Thanh Tâm Tuyền in trong 4 số báo Người Việt. Với những sáng tác và những quan điểm đã đưa ra tự nó đã phác thảo một chân dung Thanh Tâm Tuyền ngay từ lúc lên đường của mình. Từ 1955 tới khi từ trần ngày 22 tháng 3 năm 2006 tại tiểu bang Minnesota - Mỹ, Thanh Tâm Tuyền đã liên tục sáng tác, và chính những sáng tác ấy đã khắc họa đậm nét chân dung một nhà thơ tiền phong, một nhà văn hôm nay. Ông đã sống như bao con người Việt khác, chính đời sống của ông và những tác phẩm đã xác quyết: không có tự do thì không có sáng tạo. Người làm văn nghệ không thể không: ghi lại, phản ảnh, làm chứng cho thời đại mình sống, hơn thế nữa phải nói lên: những  ước vọng và bước về phía trước.


 


3.


MAI THẢO  -  ĐÊM GIÃ TỪ HÀ-NỘI    GÓC   ĐƯỜNG  TỰ DO


 


Trên bốn số tuần báo Người Việt bộ mới, không phải chỉ có Thanh Tâm Tuyền mà còn nhiều người bạn đồng hành khác, trước hết là những sáng tác của Mai Thảo:


- Đêm giã từ Hà Nội - truyện ngắn (1 )


- Một chiều qua Cửu Long  (2)


- Đồn phòng ngự 21 - ký (3)


- Góc đường Tự Do - truyện ngắn (4)


Chúng ta hãy đi theo Mai Thảo bước vào Đêm giã từ Hà-Nội:


“Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhòa dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhòa nhạt anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà-Nội. Của anh  nữa.


Dưới những hàng mái cong trũng ngập đầy lá mùa kia, đang xẩy ra  những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán biết được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt: anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một bờ vĩ tuyến bên kia. Bên ấy có những hình ảnh của chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy có những hình chiến lũy, những hàng rào giây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người. Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà-Nội, thở nhịp thở của Hà-Nội, đau niềm đau của Hà-Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia (...)


Buổi chiều, hồi 5 giờ gặp Thu ở cuối nhà Thủy Tạ, anh đã nhắc Thu đến một ngả đường. Đúng hơn đến một chuyến đi. Anh lại nhắc cả Thu đến một hạn định: Hôm nay là ngày cuối cùng người ta được tự do rời khỏi Hà Nội (...)


Cái ý nghĩ cuối cùng của Phượng, gửi đến Thu. Anh nhìn sang bên kia đường. Vẫn không thấy gì. Có lẽ  Thu đã ở lại. Phượng nhìn đồng hồ: chiếc kim dạ quang chỉ đúng 12 giờ đêm. Phượng cúi xuống nhấc va ly, bước đi.


Sau lưng anh bỗng có tiếng gọi nhỏ: “Anh” !


Phượng quay lại. Đôi mắt anh sáng lên trong tối. Từ bên kia bờ đường, từ bên kia Hà-Nội, một bóng người bé nhỏ đang vượt lòng đường đi sang bên anh. Thu. Bóng Thu siêu siêu vội vã. Một thoáng Thu đã đứng bên cạnh anh. Đôi mắt Thu còn ngấn lệ. Phượng đỡ lấy va-ly Thu.


Tiếng Thu vang lên trong đêm Hà-Nội:


- Em được đi rồi. Cả thầy mẹ em cũng đi, nhưng đi sau - và kéo tay Phượng - Chúng mình đi đi thôi anh ạ (...)


Phượng đưa Thu đi. Những ánh đèn xanh biếc của Hà Nội nghiêng theo những bước chân bắt đầu rời khỏi Hà-Nội. Bóng Phượng, bóng Thu nhòa dần. Rồi mất hẳn. Họ đã đi vào tương lai.(…)” 


Trên đây là tóm lược truyện ngắn Đêm giã từ Hà-Nội, ở trên đầu truyện tác giả có viết một câu ngắn: “Phượng nhìn xuống vực thẳm, Hà Nội ở dưới ấy.” Cuối truyện Mai Thảo ghi: ”Hà Nội – 100 ngày, sau hiệp định Genève.” Trong truyện chúng ta gặp Phượng và Thu với niềm đau phải giã từ Hà-Nội. Truyện đầy ắp một không gian Hà-Nội. Nhưng với truyện ngắn thứ hai còn dang dở trên báo Người Việt số 4 , không gian của truyện đã là Sài Gòn và là gặp gỡ của hai người tưởng đã chia xa ở hai thế giới. Đó là truyện ngắn : Góc đường tự do.


“Người thiếu nữ nghiêng nón, bước xuống lề đường. Chiếc bóng dài thon để về phía trước người đang đi tới. Những tảng nắng nhòa nhòa trên những nếp áo. Nhị nghĩ đến người thiếu nữ 16 trong một họa phẩm của Tô Ngọc Vân. Bỗng anh kêu lên:


- Hương !


Người thiếu nữ đứng sững lại giữa lòng đường. Ít nhiều tảng nắng dạt khỏi tà áo. Mới đầu chỉ là hai con mắt rất to rất đen nhìn về phía anh. Thăm thẳm ánh lên một thoáng ngạc nhiên bỡ ngỡ (...) Người thiếu nữ bỏ nón. Nắng gội chan hòa trên mái tóc Hương. Sự hiển hiện này chấp chới bằng nắng.


- Anh Nhị !


Thời gian của Nhị và của Hương bấy giờ là 8 giờ sáng. Không gian của hai người là góc đường Tự Do (...)


- Hương vào đây từ bao giờ?


- Em vào từ tháng chín năm ngoái


- Em ở đâu?


- Phan Thiết anh ạ.


- Bây giờ cơ mà?


- Vẫn Phan Thiết anh ạ.


Hai người yên lặng nhìn nhau. Thêm một phút trao gửi đằm thắm. Đủ rồi. Họ cùng mỉm cười (...) Đến lượt Hương đưa mắt nhìn anh. Nhị đoán được câu hỏi. Anh trả lời:


- Anh vào đây được mười ba tháng rồi. Trong đợt di cư đầu tiên. Anh vẫn ở Sài Gòn. Sống bình thường. Có một số bạn hữu cũng ở đây: Nam, Thư, Ngự, Hương còn nhớ các anh ấy chứ. Họ vẫn hỏi thăm đến Hương luôn. Anh bảo Hương đã ở lại Hà-Nội. Nhưng chẳng ai chịu tin cả. Nhị ngừng lại, không nói nữa. Hương chợt bắt gặp trong mắt anh một thoáng tối buồn rầu.(...) Cuộc sống của Hà-Nội, của hậu phương, của cuộc di chuyển rộng lớn, cuộc sống lửa đạn của thời đại mấy năm nay hình như không thuộc về những người đàn bà như Hương nữa (...)”


 


MỘT CHIỀU QUA CỬU LONG 


 


Tác phẩm văn xuôi khi in trên Người Việt số 2: Một chiều qua Cửu Long, không ghi là truyện ngắn hay tùy bút ,nhưng nó nằm  trong tập truyện: Đêm giã từ Hà Nội (1956) và sau này trong tập Mưa núi (1970). Mai Thảo viết về một mảng đời sống của vùng đất mới, nơi tác giả lần đầu đặt chân tới, đó là sinh hoạt  ban đêm của  một bến sông trên dòng Cửu Long:


“Tôi thức giấc vì một tiếng động nhỏ nhẹ trong đêm tối: Trước mặt tôi là Cửu Long. Tiếng động dâng lên từ phía ấy. Thêm một tiếng động nữa. Rồi những âm thanh khởi đầu lẻ tẻ trở nên một sự xao động rì rào.


Buổi chợ đêm đã bắt đầu dâng lên. Xanh biếc, phảng phất. Chợ đi dần thành những bước thủy triều (...) Chỗ này người ta đã đốt lửa thật sáng đón thuyền về. Những chiếc đầu đoàn đã ghé bến. Có tiếng hỏi:


- Nhiều không (15)


Dưới nước đáp lên: nhiều.


- Gì thế?


- Toàn trê thôi.


Tôi sán lại, nhìn xuống một lòng ghe nhỏ thấp thoáng dưới ánh đuốc cháy. Cả lòng khoang đầy nước. Mặt nước sóng sánh ánh lửa. Nhiều sóng quá. Nhiều sóng quá. Những ngọn sóng của ngã ba, của giữa dòng về tới lòng thuyền rồi mà vẫn chảy lênh láng. Hình như nước vẫn còn sóng. Và những con sóng vẫn còn chảy. Mỗi khoang vẫn còn là một đời Cửu Long (...) Người đàn bà còn đứng ở chỗ cũ. Tôi đến hỏi chuyện. Chị cho tôi biết thêm là năm nào mùa cá cũng khởi đầu từ tháng sáu tháng bảy. Mãi đến tháng tư tháng năm mới hết. Tháng giêng tháng hai là giữa mùa (...) Tôi chỉ tay bảo chị:


- Chợ đêm nay đông ghê!- Chị trề môi:


- Đông ma gì, mới đầu mùa mà. Cá chưa đủ tháng, chúng tôi đánh cá cầm chừng thôi. Đợi cá đủ tháng vừa được nhiều, cá lại khỏe mới đưa đi xa được (...)


Tôi nhìn lên. Trời sáng rồi. Chợ Cửu Long tàn dần trong bình minh.”


 


ĐỒN  PHÒNG  NGỰ  SỐ  21


 


Tác phẩm văn xuôi Đồn phòng ngự số 21 in trong báo Người Việt số 3 được ghi ở trên là tùy bút, nhưng ở ngay đoạn đầu người đọc đã  gặp một nhân vật có tên là Vững. Tác giả viết về sinh hoạt của Vững và tiểu đội của anh trong những ngày đầu từ trên cao nguyên xuống xây dựng đồn:


“Đồn tiếp viện này vừa được thiết lập trên cây số 21. Ba mặt núi đá, cây cỏ hoang dậm. Phía trước đồn, con đường trải nhựa băng qua, lúc nào cũng vắng bóng người đi. Thường thường mãi đến tận chiều mới có một vài chiếc xe đò cũ, chở gỗ, lá từ vùng cao nguyên đổ xuống Sàigòn. Bên kia đường, một lối đi nhỏ khuất khúc chạy thẳng vào một cánh rừng già. Đầu con đường, một tấm biển gỗ, chữ viết đậm nét: “Coupe Lê văn Viễn”. Chiều hôm qua, Vững đã chặt đổ gục tấm biển đó (...) Anh binh nhì Vững nhìn xuống tấm biển nằm dưới mặt đất. Sự gẫy đổ này đánh dấu cho một thời oanh liệt tàn lụi (...) Căng lều nghỉ ngơi, phân chia công tác hai ngày. Đến ngày thứ ba , cả trung đội bắt tay vào việc. Tiểu đội Vững đào giếng (...) Hôm nay,Vững mở một chiến dịch mới trong vùng lòng chảo cháy nắng cũng giống như những chiến dịch mà những bạn anh đang mở ra ở các vùng mới tiếp thu: Bình Định, Cà Mâu... Những chiến dịch Hòa Bình mở ra khắp các vùng giải phóng trong nhịp điệu kiến thiết xây dựng. Một người bạn ngừng tay cuốc, bảo Vững:


- Này cậu , khá rồi đấy nhỉ?


- Khá cái gì?


- Cậu không thấy nhát cuốc chúng mình đi sâu hơn ban nãy à? Đất ở dưới mềm nhiều rồi. Chắc có nước.


Vững cười: Có mê đi chứ! Chả lẽ lại phải chịu xin nước tiếp tế à (...)


Anh quay trở vào. Từ bao giờ đêm rừng đã đầy lên. Dưới chân anh, một tiếng sỏi đá lăn động trong bóng tối. Gió núi hiền hòa. Anh nhìn lên. Sao rừng muôn vạn lấp lánh. Anh nghĩ tới(16) những bản xóm, đến những người thổ dân hiền lành. Anh nghĩ đến quê hương xóm làng. Đến đồng lúa hạt thóc. Đất nước sẽ được bảo vệ. Cứ điểm sẽ được bảo vệ. Vì những con người mang nặng tình đất nước, tình cứ điểm. Vì những con người sống chết với đất nước, cứ điểm. Sống chết với quê hương.”


Chúng ta vừa lướt  qua những trang văn của Mai Thảo được in trên bốn số báo Người Việt. Mai Thảo đã từng có mặt tại đại hội văn nghệ liên khu tại làng Quần Tín, tỉnh Thanh Hóa vào mùa hè năm 1948 (III). Sau năm 1954 ông di cư vào Nam và đã có tùy bút in trên báo Đời Mới của Trần Văn Ân và Nguyễn Đức Quỳnh  trước  khi  Đêm giã từ Hà Nội xuất hiện trên số 1 tuần báo Người Việt.


Tháng 10 năm 1956 tạp chí Sáng Tạo ra số 1 do Mai Thảo chủ trương biên tập. Ngay nơi trang 1 của tạp chí, Mai Thảo viết : “Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam.” Tạp chí Sáng Tạo ra tới số 31, tháng 9 năm 1959 thì tạm ngưng. Mãi tới tháng 7 năm 1960, Sáng Tạo ra số 1 bộ mới – Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật Hôm Nay - với Mai Thảo đứng tên chủ nhiệm. Sáng Tạo bộ mới ra tới số 7 tháng 9 năm 1961 thì đình bản.


Sáng Tạo chết, Mai Thảo làm báo Điện Ảnh của Quốc Phong, báo Màn Ảnh của Mai Châu. Làm chủ bút tuần báo Nghệ Thuật. Cuối năm 1971 về làm báo Văn của Nguyễn Đình Vượng trong khi Trần Phong Giao ra tờ Giao Điểm. Không chỉ làm báo văn học nghệ thuật, Mai Thảo còn viết truyện dài cho các nhật báo. Ông là người hiếm hoi trong văn giới có thể sống bằng ngòi bút của mình.


Sau 30 tháng 4 năm 1975 Mai Thảo chạy thoát khỏi cuộc truy bắt, ông vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ năm 1978, tại đây ông tiếp tục làm báo, viết văn. Mai Thảo  tên thật là  Nguyễn Đăng Quí, sinh ngày 08 tháng 06 năm 1927 tại Nam Định, mất ngày 10 tháng 01 năm 1998 tại California, Hoa Kỳ.  Ông còn ký bút hiệu Nguyễn Đăng và khi làm thơ ký tên Nhị. Ông đã cho in nhiều tác phẩm, bản kê những tác phẩm của ông dưới đây là chưa đầy đủ: Đêm giã từ Hà Nội (truyện ngắn – 1956), Tháng giêng cỏ non (truyện ngắn-1957), Viên đạn đồng chữ nổi (truyện dài-1966), Dòng sông rực rỡ (truyện ngắn -1968), Người thầy học cũ (truyện ngắn-1969), Chuyến tàu trên sông Hồng (truyện ngắn-1969), Mưa núi (truyện ngắn 1970). Khi nhắc đến Mai Thảo, người ta nói đến Mai Thảo của Đêm Giã Từ Hà Nội và Mai Thảo của Tạp chí Sáng Tạo.


(còn tiếp)


Nguồn: hopluu.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »