tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
29.04.2011
Lê Sơn Phương Ngọc
Tổng đốc Võ Duy Ninh (3)

Còn người Nhật thì ngược lại, khi chạm trán với pháo thuyền Mỹ trên vịnh Tokyo, phe canh tân của họ thắng thế trong việc định hướng đường lối. Họ đã không còn bám vào cái quan điểm nhà Nho cao ngạo cứng nhắc ấy mà biết cầu thị, thấy được điểm yếu của mình. Trước mắt họ hòa hoãn, cử một đoàn chuyên gia đi khắp thế giới suốt mấy năm trời khảo sát và tổng kết. Sau đó họ cử sinh viên ưu tú của họ đi học công nghệ ưu thế của từng nước, và đội ngũ sinh viên ấy đã được tiếp cận cái cơ bản của nền văn minh châu Âu để trở về xây dựng nền công nghiệp nước Nhật và thực sự họ đã thành công. Trong vòng nửa thế kỷ sau, vào những năm 1904-1905, họ đã có thể đánh thắng hạm đội nước Nga Sa hoàng tại eo biển Đối Mã.


Võ Duy Ninh vừa mới được thăng Tòng tứ phẩm vào năm 1846, nay được thăng từ Tòng tứ phẩm lên Chánh tứ phẩm vào năm 1847. Được thăng một phẩm trong vòng một năm là quá nhanh, có lẽ vì sự mẫn cán, và có lẽ qua thử thách ở bộ Binh một năm, triều đình Huế nhận thấy khả năng quân sự ở Võ Duy Ninh nên thăng chức nhanh cho ông và bổ nhiệm làm việc ở địa phương, theo kiểu mà ngày nay ta gọi là luân chuyển cán bộ. Ông được bổ làm Án sát tỉnh Hưng Yên:


“Tháng 5 năm Đinh Mùi, Thiệu Trị năm thứ 7 [1847], thự Lang trung bộ Binh Võ Duy Ninh được thăng làm An sát (Chánh tứ phẩm) tỉnh Hưng Yên, để cùng với Đỗ Khắc Thư hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ”.


       (Đại Nam thực luc, tập 6, tr. 1024)


Việc bổ nhiệm một chức quan cao cấp ngày xưa cũng không đơn giản. Muốn thăng chức một người nào đó trong chương trình đào tạo thì phải xem xét, vị nào đang giữ chưc có phẩm hàm tương đương đến tuổi về hưu hay được thuyên chuyển, hoặc bị nghỉ  việc thì trám ngay vào đó. Võ Duy Ninh được bổ nhiệm làm An sát tỉnh Hưng Yên mà còn thêm câu: “cùng với Tuần phủ Đỗ Khắc Thư, hộ lý ấn quan phòng phòng thủ.” Ta có thể hiểu là Võ Duy Ninh tuy làm An sát nhưng lo việc phòng thủ là chính. Hưng Yên nằm bên bờ sông Hồng, phía đông Hà Nội, một cửa ngõ trọng yếu bảo vệ Hà Nội, ngăn quân giặc từ phía biển, mà kẻ địch đáng phải lo hơn cả là đội pháo thuyền của Pháp. Điều đó có nghĩa là Võ Duy Ninh vẫn chuyên lo về quân sự của một tỉnh trọng yếu trong thế đối đầu với pháo thuyền của Pháp.


Bộ Lại và bộ Binh dâng sớ đại kế kỳ 3 năm (theo Chu Lễ cứ 3 năm có một kỳ xét thưởng phạt gọi là đại kế), vua ban thưởng bọn Trương Đăng Quế, Lê Di gồm 27 người, trong đó có Võ Duy Ninh.


“Quan Thị lang (chánh Tam phẩm) Nội các là Võ Duy Ninh… biết sửa mình thanh liêm, cần mẫn, trị dân không có sai sót gì đều được thưởng cho mỗi viên một tấm khánh bằng vàng tía hạng lớn, có chữ “liêm, bình, cần, cán”.


            (Đại Nam thực luc, tập 7, tr. 280)


Võ Duy Ninh làm An sát Hưng Yên cùng các quan tỉnh này lo việc bố trí đồn lũy chống pháo thuyền Pháp đang qua lại ngoài biển Đông chưa biết chúng đánh vào đâu và vào lúc nào. Có lẽ việc bố phòng đã hoàn tất, mà không thấy pháo thuyền Pháp động tĩnh gì, hoặc có ý tấn công Hà Nội bằng pháo thuyền, nên Võ Duy Ninh lại được điều về làm việc tại Triều đình, làm ở Nội các.


Nội các tức văn phòng triều đình. Văn phòng này gồm một số viên quan thật lão luyện và thân cận nhà vua nhất. Nội các cũng là nơi xử lý những vấn đề mang tầm quốc gia và ban bố các quyết sách của triều đình.


Làm việc ở Nội các được tiếp cận những vấn đề quốc gia đại sự từ quốc phòng đến hành chính trị an. Võ Duy Ninh được giao quyền hạn lớn, có khi ông được giao làm quan Thanh tra của triều đình như vụ việc xảy ra ở tỉnh Bình Thuận năm 1854 và ở Phú Yên  năm 1857.


Tháng 9 năm Giáp Dần, Tự Đức năm thứ 7 [1854], quan thự Hình khoa Cấp sự trung Nguyễn Thái dò được việc là có một chiếc thuyền nước Thanh đậu lâu ở cửa biển Thị Nại, trong thuyền chở đầy gạo và ngầm đem người Tây dương, mà tỉnh thần Bình Định dung túng cho thuyền ấy chở đi. Thái đem việc ấy hặc tâu.


“Vua sai Thị lang (chánh Tam phẩm) Nội các thần Võ Duy Ninh đến tra xét việc ấy. Sau bản án dâng lên, thì Hộ đốc là Vương Hữu Quang cùng Lãnh binh là Lê Nguy đều phạm tội trái lệ cấm và tha kẻ phạm. Hữu Quang bị tội đồ, Nguy bị cách chức về làm dân”.


             (Đại Nam thực luc, tập 7, tr. 342).


Võ Duy Ninh còn làm thanh tra tỉnh Phú Yên. Tháng giêng năm Đinh Tỵ, Tự Đức năm thứ 10 [1857], nhân vì trước đây Nguyễn Đăng Uẩn, thự Tổng đốc Bình Phú làm sớ đem việc viên Quản đạo Phú Yên là Lê Hữu Hương thay đổi án ăn cướp tâu lên tham hặc (tỉnh tham hặc bậy, bịa đặt để vu cáo khép tội Lại Văn Huệ), Lê Hữu Hương bẩm bộ Hình bảo tỉnh nghe lời một bên mà vu hãm cho mình. Quan bộ Hình là các viên Nguyễn Đồng Khoa, Nguyễn Duy Tự tâu nói: “Án ấy tình hình có nhiều chỗ đáng ngờ, quan tỉnh ấy không chịu tra xét đến cùng, vội xin cách chức viên Quản đạo là chưa thỏa đáng”.


“Vua bèn chuẩn cho Quản đạo Lê Hữu Hương được giải chức, triệt về tỉnh ấy đợi xét rồi sai viên Khâm sai là Võ Duy Ninh đi tra xét. Sau cùng Nguyễn Đăng Uẩn phải tội bị xử phạt 100 trượng phát lưu”.


               (Đại Nam thực luc, tập 7, tr. 490).                                                                                


Võ Duy Ninh làm việc bên cạnh nhà vua ở Nội các, chứng tỏ là người công tâm đáng tin cậy, nên đến kỳ lại được thăng chức


 “Tháng giêng năm At Mão, Tự Đức năm thứ 8 [1855], cho quan Thị lang sung làm việc Nội các là Võ Duy Ninh thăng chức thự Hữu Tham tri (tòng nhị phẩm) bộ Lại”.


         (Đại Nam thực luc, tập 7, tr. 355)


Kể từ Chánh tứ phẩm năm 1847 đến năm 1855, Võ Duy Ninh được thăng Tòng nhị phẩm. Thăng 4 bậc trong vòng 12 năm, mỗi bậc chỉ 3 năm là mức tăng bình thường của nhiều vị quan trong triều đình phong kiến.


Làm việc ở Nội các được thăng chức đều đặn như thế, phải là những người làm việc nghiêm túc, mẫn cán và công việc đem lại hiệu quả.


Đến bây giờ, Võ Duy Ninh thực sự là một quan võ của triều đình. Kể từ năm 1846, lần đầu tham gia công tác quân sự, đến năm 1855, chín năm, triều đình còn cử Võ Duy Ninh tiếp tục tham gia làm tham mưu trưởng trong việc đánh dẹp người man ở rừng núi Trường Sơn.


Tháng 5 năm này (Ất Mão-1855), Tổng đốc Nam- Ngãi là Trần Tri tâu: “Dân man ở Quảng Ngãi cư trú những nơi có địa thế rộng, xa, đường núi nhiều ngả, xin phái thêm biền binh hội lại để đánh dẹp”. Vua dụ bộ Binh phái thêm Hiệp quản Thị vệ Tuyển phong là Nguyễn Hợp đem 500 viên danh biền binh vệ ấy và 300 viên danh biền binh vệ Quảng Nam hiện đang giữ cửa biển Đà Nẵng, đi ngay đến nơi đó, cho đủ sai phái.


“Phong cho Tổng đốc Trần Tri làm Tổng thống quân vụ (Tư lệnh chiến dịch), Hữu Tham tri (tòng nhị phẩm) bộ Lại là Võ Duy Ninh sung chức Tán lý (Tham mưu trưởng chiến dịch).


              (Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 377).


Tháng 7 năm Bính Thìn, Tự Đức năm thứ 9 [1856], bộ Lại và bộ Binh tâu dâng danh sách 3 năm xét công, vua dụ thưởng 16 người. Trong đó có Tham tri Võ Duy Ninh, Trần Tiễn Thành…


Tháng 2 năm này, Đinh Tỵ [1857], cho 5 quan chức còn giữ chức phó (thự) lên thực thụ là Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Cáp, Tổng đốc Hải Yên Nguyễn Trạch, Tổng đốc Định-Biên Phạm Thế Hiển, Hữu Tham tri bộ Lại Võ Duy Ninh, Tả Tham tri bộ Hộ Ngô Bỉnh Đức.


Tháng 10 năm 1858, vua Tự Đức ra lệnh cho các tỉnh Nam Bắc đặt pháo đài đồn canh ở các chỗ quan yếu, chia đặt súng và khí giới để thời thường phòng bị kiểm soát.


Để tăng cường cho Quân thứ Quảng Nam, ở Mặt trận Đà Nẵng, vua Tự Đức điều động Tổng đốc Định-Biên là Phạm Thế Hiển đi Quảng Nam, cử Võ Duy Ninh vào thay Phạm Thế Hiển làm Tổng đốc Định- Biên.


Vào năm Kỷ Vị, tức niên hiệu Tự Đức năm thứ 12 [1859], quân Pháp xăm lăng nước ta. Chúng đánh vào Đà Nẵng bị đại quân triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy cản bước, không tiến được. Chúng nhân lúc quân ta tập trung cho mặt trận Đà Nẵng, bí mật rút đại bộ phận quân chủ lực vào đánh chiếm thành Gia Định, tàn sát nhân dân rất nhiều. Quân ta kháng cự không nổi. Đã biết bao nhiêu anh em binh sĩ bỏ mình trên bãi chiến trường, hy sinh vì nước. Nhưng oanh liệt nhất là cái chết của một võ tướng cao cấp, Hộ đốc thành Gia Định Võ Duy Ninh. Cái chết của Võ Duy Ninh cũng như cái chết của Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương khi để mất thành Hà Nội mà chính sử đã trân trọng ghi lại. Sử gia Nguyễn Thiệu Lâu viết:


Sử ghi chi tiết như sau:


“Quan Hộ đốc (Chánh nhị phẩm) Võ Duy Ninh chạy giấy các tỉnh hội binh cứu viện thành Gia Định.


Là một võ tướng mà phải phi giấy cho các tỉnh đem quân đến cứu Gia Định, rồi phải tự tử, hẳn các trận đánh ác liệt biết dường nào”.


     (Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục,


       tr.561, 563)
TRẬN QUYẾT ĐẤU CUỐI CÙNG


Trước khi tấn công Gia Định- Biên Hòa, quân Pháp tấn công Đà Nẵng suốt gần 5 tháng ròng rã, từ tháng 9-1858, đến hết tháng 1-1859. Khi Genouilly nắm được tình hình triều đình Huế tập trung binh lực phòng giữ Đà Nẵng, tất phải bị hở sườn các nơi khác. Thế là bất thình lình Genouilly kéo đại bộ phận quân Pháp chớp nhoáng vào tấn công thành Gia Định. Sau 7 ngày đánh chiếm các đồn bảo phòng thủ của quân ta từ Vũng Tàu, quân Pháp chiếm được thành Gia Định. Chiếm xong thành Gia Định, quân Pháp cho nổ mìn phá tan thành Gia Định, để lại một bộ phận trú đóng ở bảo Hữu Bình, Genouilly kéo rốc quân chủ lực ra Đà Nẵng đánh tiếp suốt 8 tháng nữa, đến tháng 12-1859 thì đề nghị thương thuyết. Đến tháng 3-1860 mới rút hết quân Pháp ra khỏi Đà Nẵng.


Như thế là trong thời gian 19 tháng (Từ tháng 9-1858 đến tháng 3-1860), chủ lực quân Pháp ở Đà Nẵng hết 16 tháng, ở Gia Định 3 tháng. Chúng nghi binh rất giỏi, khi kéo vào Gia Định, chúng vẫn cho đội quân ở Đà Nẵng tấn công đồn bảo của ta, làm như đại quân vẫn ở Đà Nẵng. Rồi khi chiếm được thành Gia Định, chúng ở lại hơn 2 tháng ổn định tình hình, để lại một bộ phận nhỏ chốt giữ bảo Hữu Bình cầm cự với nghĩa quân, Genouilly lại kéo rốc đại quân ra Đà Nẵng đánh tiếp.


Vì thế, chúng ta nên xem trận Gia Định chỉ là một động thái chiến thuật nằm trong chiến dịch Đà Nẵng của quân Pháp, chứ không phải là một chiến dịch riêng rẽ, biệt lập. Thế cho nên khi nghiên cứu trận Gia Định-Biên Hòa, chúng ta nên nghiên cứu toàn bộ chiến dịch Đà Nẵng.


Về cơ bản người ta đều biết rằng trận Đà Nẵng ta thắng, trận Gia Định-Biên Hòa ta thua. Nhưng thật sự, người Pháp xem toàn bộ chiến dịch Đà Nẵng của họ kéo dài 19 tháng (bao gồm trận đánh chiếm thành Gia Định) bị thất bại hoàn toàn. Trận Gia Định chỉ là miếng cắn trộm, để làm nghi binh của Tư lệnh Genouilly, hòng kéo dãn lực lượng phòng thủ Đà Nẵng để tiếp tục đánh chiếm cho được Đà Nẵng theo kế hoạch. Nhưng chúng cũng lại thất bại. Liên quân Pháp - Y Pha Nho nhân cơ hội quân ta tập trung nhân tài vật lực dồn sức phòng ngự Đà Nẵng, đã bất ngờ đánh vào chỗ có địa hình khác hẳn với Đà Nẵng, có thể phát huy được thế mạnh pháo thuyền của mình nên rút phần lớn lực lượng chính quy tấn công Gia Định. Khi đã hạ xong thành Gia Định, buộc ta phải căng lực lượng đối phó thì chúng lại tiếp tục tấn công Đà Nẵng với mong muốn chiếm cho được thành Đà Nẵng, như dự định của Chính phủ Pháp. Nhưng chúng đã thất bại và viên hổ tướng hàng đầu của Pháp trên đất Trung Hoa đã phải bị cách chức ngay tại mặt trận Đà Nẵng. Chuẩn Đô đốc Page được giao quyền chỉ huy đoàn quân viễn chinh, đã tổ chức rút quân Pháp chạy ra khỏi Đà Nẵng.


Tóm lại là với pháo thuyền hiện đại, ngang dọc trên biển, giữ được bí mật quân sự tuyệt hảo, quân Pháp chủ động tấn công chỗ này, chỗ nọ, khiến quân ta phải rải mỏng lực lượng ra đối phó. Nhưng cho đến lúc này chúng đã không thành công trong mưu đồ đánh thắng quân đội Triều Nguyễn.


CHIẾN DỊCH ĐÀ NẴNG


Theo kế hoạch ban đầu, Chính phủ Pháp giao nhiệm vụ cho Đô đốc Rigault de Genouilly, người chỉ huy đại quân Pháp trong liên minh Anh-Pháp đánh thắng quân Trung Hoa, buộc triều đình Mãn Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân:


“Ngày 16-3-1858, Rigault de Genouilly rời Canton kéo quân lên Bắc Trung Quốc. Ngày 20-5-1958, Rigault de Genouilly hội quân với quân Anh, đánh chiếm các đồn bảo từ Takou, đến cửa sông Peiho. Mở được con dường dẫn tới thủ đô Bắc kinh, buộc chính quyền Trung Hoa ký Hiệp ước Thiên Tân vào ngày 26, 27-6-1858 với nước Anh và nước Pháp”.


   (Georges Taboulet, La Geste Francaise en


                            Indochine,)


Rigault de Genouilly là một viên hổ tướng hàng đầu của nước Pháp thời bấy giờ, ông được lệnh mang đại quân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, một tòa thành quan trọng ven biển. Cũng theo kế hoạch trên, sau khi chiếm được Đà Nẵng thì củng cố vững chắc căn cứ Đà Nẵng làm bàn đạp  tiến đánh kinh đô Huế.


Genouilly mang quân Pháp từ Trung Hoa, kêu thêm viện binh Tây Ban Nha đang trú đóng ở Manila – Philippine, hợp quân ngoài khơi vịnh  Đà Nẵng thành 14 pháo thuyền, cùng tấn công thành Đà Nẵng. Đây là đoàn pháo thuyền mạnh nhất của Pháp thời bấy giờ. Đánh suốt hai tháng, không chiếm được thành Đà Nẵng, tức không hoàn thành nhiệm vụ, Genouily phải đuổi Đức cha Pellerin, con chiên Tạ Minh Phụng đi khỏi Đà Nẵng, vì những người này một mực khuyên Genouilly đánh chiếm cho được Đà Nẵng hoặc mang quân ra đánh miền bắc Việt Nam, nơi có nhiều giáo dân.


Tại sao Genouilly không đánh Huế hoặc Hà Nội, như ông ta nói vì các nơi ấy đều ở sâu trong đất liền, pháo thuyền Pháp khó phát huy thế mạnh của nó. Ngay như Đà Nẵng nằm sát biển mà đánh còn khó. Ông nảy ý đánh chiếm thành Sài Gòn, đơn giản là vì thành Sài Gòn nằm sát sông lớn Sài Gòn, pháo thuyền có thể đến sát chân thành tấn công trực tiếp.


Chiếm được thành Sài Gòn, Genouilly phá tan thành Sài Gòn, cho một bộ phận nhỏ ở lại cố thủ tại bảo Hữu Bình ở hạ lưu, rồi đưa đại quân trở lại Đà Nẵng tấn công tiếp, mong muốn sẽ chiếm được thành Đà Nẵng đúng theo chỉ đạo của Chính phủ Pháp.


Theo tổng kết của quân đội Pháp, chiến dịch Đà Nẵng 19 tháng đã hoàn toàn thất bại. Genouilly bị cách chức, Đô đốc Page lên thay ngay tại đại bản doanh quân Pháp tại Đà Nẵng.


Vì vậy, theo sử Pháp thì chỉ có một chiến dịch Đà Nẵng (từ tháng 9-1858 đến tháng 3-1860, ngày người lính Pháp cuối cùng rời Đà Nẵng). Chiến trường Gia Định-Biên Hòa là một động thái quân sự nằm ngoài chương trình của chiến dịch ấy, nhằm tìm kiếm một chiến thắng để gỡ gạc cho một chiến dịch đã được vạch ra từ trước và có nguy cơ thất bại  khi đối đầu với sức mạnh chủ lực của quân ta ở  Đà Nẵng.


TRANG BỊ HỎA LỰC TRONG CHIẾN DỊCH ĐÀ NẴNG - GIA ĐỊNH


Như ta đã biết, trước khi chiến tranh xâm lược Việt Nam, nước Pháp đã là một trong bốn nước hàng đầu châu Âu nói riêng và thế giới nói chung. Các cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra ở nước Anh và nước Pháp từ nửa cuối thế kỷ thứ 18. Trước đó, các cuộc cách mạng khoa học công nghệ và khoa học xã hội đã làm cho nền kinh tế châu Âu phát triển với tốc độ cực nhanh.


Từ năm 1849, kỹ sư công binh Pháp đã phát kiến và chế tạo được nòng pháo có đường khương tuyến, xoáy nòng làm tăng độ chính xác và sức mạnh lên gấp bội. Họ liên tục cải tiến để đến cuối những năm 1850  đầu những năm 1860 họ đã có loại pháo bắn ra những viên đạn 4kg, tầm 3.200m, độ chính xác tuyệt đối.


Pháp còn có những tàu chiến ba buồm trang bị hơn 30 khẩu pháo mỗi tàu. Đó là thế hệ tàu chiến của vài mươi năm trước. Đến năm 1849, quân đội Pháp đã có chiến hạm chạy bằng hơi nước và buồm nhanh hơn nhiều, trang bị 100 khẩu pháo mỗi tàu.


Trước năm 1847, quân đội Pháp ráo riết cải tiến súng trường cá nhân, họ đã có loại súng tầm bắn hiệu lực 1.200m, tốc độ bắn nhanh mỗi phút một viên, cho phép bắn chính xác từng mục tiêu. Việc cải tiến súng cá nhân đã làm tăng hỏa lực lên gấp mười lần.


Trong chiến tranh, pháo binh và súng cá nhân dần dần trở thành sức mạnh chủ yếu quyết định từng trận đánh, chính Napoléon  Bonaparte, vị hoàng đế hầu như bách chiến bách thắng ấy khẳng định: “Ngày nay các trận đánh được quyết định bằng hỏa lực chứ không phải bằng xung lực”. Hỏa lực gồm pháo binh và súng cá nhân.


Còn tình hình trang bị và hỏa lực quân ta thì sao?


Vào mùa hạ, tháng tư năm Đinh Mùi (1847), triều đình Huế cho đóng được một chiếc tàu tên Bằng Đoàn chạy buồm gắn được 22 khẩu pháo. Còn pháo thì cũng quá yếu so với pháo của Pháp vì bắn không xa bằng pháo của quân đội Pháp và thiếu tính công phá. Chính Rigault De Genouilly mô tả pháo của ta như sau:


“Hỏa lực của địch không làm thiệt hại chúng ta mảy may nào, cho dù đạn pháo của họ bắn trúng vỏ tàu của ta”.


     (Thái Hồng, Nguyễn Tri Phương, tr. 107)


Còn De Larclause viết:


“Người An Nam đã cố gắng cải tiến rất nhiều, song họ vẫn không thể làm chúng ta lo lắng, vì đường đạn đại bác của họ chỉ đạt đến 1.200m là cùng…”.


    (Thái Hồng, Nguyễn Tri Phương, tr. 107)


Trong các năm 1858-1859, trong chiến dịch Đà Nẵng - Gia Định, thì liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã có hỏa lực vượt trội quân ta. Chính vị Tư lệnh chiến dịch Đà Nẵng- Nguyễn Tri Phương đã phải thốt lên:


“… ta khó chống chọi với họ, việc thủy chiến ta không sánh được với họ, vì họ có súng lớn, súng nhỏ đã giỏi, chúng lại liều chết”.                     


              (Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 636)


 Trong tấn công, chiến thuật cũng đã thay đổi, đội hình mật tập đông quân không còn hiệu lực và trong phòng ngự, mặt trận đơn tuyến không còn thích hợp nữa.


Với tàu sắt tàu đồng chạy bằng máy hơi nước, đồ sộ và linh hoạt, với hỏa lực vượt trội, quân Tây dương không cần đông người vẫn đủ khả năng phát động chiến tranh khắp thế giới. Tại các châu lục, đội quân Tây dương còn mang theo nỗi bức xúc tìm nguyên liệu và thị trường cho nền kinh tế công nghiệp đang phát triển của họ trong khi quân đội ta cũng như của các nước Đông Á chưa được đổi mới, hoặc cải tiến còn ở dạng thô, không đáng kể trong xã hội mà nền kinh tế nông nghiệp còn đóng vai trò chủ yếu.


Tại mặt trận Đà Nẵng, Tư lệnh Nguyễn Tri Phương hiểu ra vấn đề chỉ ở nét cơ bản, mà không thể hiểu vấn đề một cách chi tiết. Ông thấy đánh với quân Tây dương là rất khó và suy tính rằng:


 “Nên liệu số binh lực hiện có, nhân các đồn lũy hiện tại, đặt phục binh để đánh, giữ cho kỹ để đợi, làm kế giằng dai, trù tính cho dân đủ ăn, cấp lương cho quân, theo sự cơ mà làm, mới là kế hoàn toàn”.


              (Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 636)


Phải chăng ông thấy quân Tây dương có hỏa lực quá mạnh, gấp bội so với quân ta, lại liều chết cố đánh. Ông ngạc nhiên là phải! Vì ông chưa thể hiểu bản chất của các đội quân đánh thuê, sản phẩm của nền công nghiệp mà lúc bấy giờ ta chưa biết đến, thâm chí chưa có khái niệm về lãnh vực này. Đội quân đánh giặc có lương cao và được huấn luyện theo lối chuyên nghiệp, chỉ biết chiến đấu cho tốt để nhanh được tăng lương lên chức, rất xa lạ với ta, theo kiểu đội quân nghĩa vụ. Tất nhiên là ta cũng có các đội biền binh, tức quân chính quy, nhưng không thể sánh với đội quân chuyên nghiệp công nghiệp hóa.


(còn tiếp)


Nguồn: Võ Duy Ninh, Tổng đốc đầu tiên tử tiết chống Pháp. Nhóm biên soạn: NguyễnVăn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Văn Thanh.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »