tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
18.05.2011
Lê Sơn Phương Ngọc
Tổng đốc Võ Duy Ninh (6)

TẠI SAO THÀNH GIA ĐỊNH THẤT THỦ NHANH NHƯ THẾ?


Chúng ta không khỏi đặt câu hỏi, tại sao thành Gia Định thất thủ nhanh như thế, trong khi Lê Văn Khôi cố thủ thành Bát quái suốt 2 năm? Vả lại, quân số và dự trữ hậu cần xấp xỉ nhau, trong khi quân chống Pháp là quân chính nghĩa và phía Pháp cũng phải công nhận:


“Người Việt Nam tự vệ mạnh mẽ, đường đạn của họ không kém chính xác, tàu Dragonne bị trúng 3 phát đạn, tàu Avalanche bị trúng 7 phát đạn.”


Điều rõ nhất là pháo thuyền và hỏa lực quá mạnh của quân Pháp như đã bàn đến trên kia, nhưng còn một yếu tố nữa không kém quan trọng là thành Gia Định quá nhỏ so với thành Bát quái.


THÀNH BÁT QUÁI (thành Qui) VÀ THÀNH GIA ĐỊNH (thành Phụng)


Trước năm 1790 đã có một thành đất nhỏ ở làng Tân Khai tên là đồn Nghi Giang hay thành đất Thị Nghè tại vị trí gọi là Đồn Đất ngày nay nằm sát bên sông Thị Nghè. Sau khi chiếm lại được Gia Định, Nguyễn vương cho xây dựng thành Bát quái trên nền thành Nghi Giang cũ mở rộng, theo kiểu bố phòng của Vauban (nhà thiết kế thành trì người Pháp).


Ngày 4-2-1791, bắt đầu đắp thành hình như hoa sen mở ra 8 cửa.


Năm 1830, Lê Văn Duyệt đã củng cố thành Bát Quái thêm chắc chắn, để phòng bất trắc của nạn ngoại xâm. Thành Bát quái chắc chắn thật: Lê Văn Khôi giữ thành đến mấy năm trời chống lại quân triều đình đông tới hàng vạn bắn phá suốt ngày đêm. Sự thật thì đại bác của triều đình yếu.


Minh Mệnh cho là Lê Văn Duyệt có mưu đồ tự lập triều đình riêng qua việc cho xây dựng thành Bát quái kiên cố như thế:


“Đắp thành Phiên An “tiếm” bằng kinh thành Huế, hào thì đào sâu hơn. Nếu bảo là thành cao hào sâu để phòng giặc Xiêm, thì đường bể phải phòng ở Hà Tiên, đường bộ phải phòng ở Chân Lạp… Thế là rõ ràng phòng triều đình, chứ không phải phòng ngoại hoạn”.


  (Nguyễn Đình Đầu, Địa chí thành phố


   Hồ Chí Minh, tr. 211)


Rồi chính ông Nguyễn Đình Đầu bình luận:


“Chứng tỏ Minh Mệnh chưa có tầm nhìn xa của Lê Văn Duyệt trong công việc bảo vệ phần đất mới ở cực Nam của nước nhà, càng không hiểu sức chịu đựng của một thành quách Trung cổ trước vũ khí mới, lại khư khư rằng thành quách ở kinh đô Huế phải to lớn hơn mọi thành quách ở địa phương, bất kể mục đích của thành quách đó. Minh Mệnh ra lệnh phá thành Bát quái (cũng gọi là thành Qui), để xây thành Gia Định mới (còn gọi là thành Phụng).  


        (Nguyễn Đình Đầu, Địa chí


         thành phố Hồ Chí Minh, tr. 211)


ĐỐI CHIẾU           


             Thành Bát Quái  Thành Gia Định


 - Chu vi ngoài:        3820m              1960m                              


 - Mỗi cạnh dài:         956m                 490m                                   


 - Hào thành sâu:       6,8m                3,19m                                   


 - Hào thành rộng:   75,525m           52,07m                             


 - Tường thành cao:   6,334m           4,7m                                  


 - Chân tường dày:  36,554m           25,0m       


 - Diện tích:                72ha                24ha


Thành Gia Định chỉ xấp xỉ góc ba thành Bát quái, không tương xứng với vị trí đầu sóng ngọn gió của Nam bộ. Thực tế là quân Pháp với mìn thời bấy giờ đã có thể đánh thủng tường thành Đông và tràn vào chiếm thành. Hai mươi ngày sau đó, chúng đã dùng 18 khối mìn cho nổ tung tường thành và hệ thống pháo đài thành Gia Định một cách dễ dàng.


Thành Gia Định cũng như thành Đà Nẵng, kể cả thành Hà Nội được triều Nguyễn bố trí là một thành cấp tỉnh, Nhưng thực tế, Đà Nẵng, Gia Định, Hà Nội là yết hầu quốc gia. Không giữ được ba nơi ấy thì không giữ được nước. Tầm nhìn này không được triều Nguyễn quán triệt vì phần lớn họ bị nội loạn chi phối nên chỉ tính đến nội loạn, còn nạn ngoại xâm thì họ chỉ tính chủ yếu đến từ nước Xiêm mà thôi. Mà nước Xiêm mỗi lần vào nước ta đều bị đánh cho xiểng liểng phải tháo chạy tán loạn, nên triều Nguyễn dễ sinh tâm lý coi thường nạn ngoại xâm. Họ đã cho bạt thành Bát quái để xây thành Gia Định bằng góc ba thành cũ. Tương tự, họ đã cho bạt tường thành Hà Nội xuống chỉ còn 3m chiều cao.


Cách đây hơn một thế kỷ, sử gia người Pháp, Ch. Gosselin đã viết:


“Những vị hoàng đế An Nam phải chịu hết trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Nhân dân, quan lại, binh lính xứng đáng có quyền được những người cầm đầu có giá trị hơn thế. Phải công nhận nước Việt này có một sức sống vô cùng mạnh mẽ để có thể chịu đựng và chiến đấu trong bao nhiêu năm dài trong khi thiếu thốn tất cả mọi phương diện để có thể bảo vệ đất nước họ, trong khi triều đình của họ không dự liệu, không chuẩn bị gì hết…”.


            (Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19, tr. 337-338)


Nói chung, triều đình Huế đã tỏ ra bất cập trước những biến động của thời cuộc, đi từ lúng túng về đường lối chính trị đến lúng túng về quân sự. Triều đình Huế khá thành công trong công cuộc đối phó với nội loạn rất nghiêm trọng, còn nạn ngoại xâm họ chỉ tính đến Xiêm mà thôi. Họ hoàn toàn không hiểu biết về tình hình thế giới, nên không có sách lược đối phó ngang tầm. Vì thế, họ hoàn toàn bị bó tay trước các áp lực mang tầm quốc tế như Pháp.


Việc phá thành to xây thành nhỏ có thể đã củng cố việc nội trị thành công, nhưng cũng đã làm miếng mồi dễ nuốt cho chủ nghĩa thực dân công nghiệp phương Tây, có loại mìn phá thành hiệu quả mà cả triều đình chưa ai từng biết đến.


Thế thì tại sao Nguyễn Tri Phương giữ được thành Đà Nẵng vốn cũng là một thành tỉnh lẻ?


Nhờ địa thế vùng đất Đà Nẵng và tư duy quân sự thiên bẩm, tư lệnh Nguyễn Tri Phương đã nghĩ ra chiến thuật đối phó thật tài tình, trong phòng ngự, mặt trận đơn tuyến không còn thích hợp nữa nên ông đã điều phối linh hoạt hơn: “nhân các đồn lũy hiện tại, đặt phục binh để đánh, giữ cho kỹ để đợi”.


Chúng ta nên nhớ là:


- Trong tấn công, chiến thuật cũng đã thay đổi, đội hình mật tập đông quân không còn hiệu lực và trong phòng ngự, mặt trận đơn tuyến không còn thích hợp nữa.


- Quân Tây dương tham gia chiến dịch Đà Nẵng “gồm 14 tàu chiến, với hơn 3.000 quân”. Quân ta theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương thì lính ở Quân thứ (Quảng Nam) chỉ có 2.000 quân mà trên từ An Sơn, dưới đến Nại Hiên, một dải các đồn Giang Châu là chỗ quan yếu, chỗ nào cũng canh giữ thì không còn lính để đánh trận, rút bớt đi thì chỗ canh giữ lại thưa sài.


Hỏa lực đã kém gấp bội lần, mà quân chính qui của ta còn ít hơn địch (chỉ 2/3) thì thế thua đã rõ. Nhưng Nguyễn Tri Phương đã cầm cự được tại chiến trường Đà Nẵng, chính là nhờ địa thế chiến trường Đà Nẵng và thiên tư quân sự của danh tướng này.


NGƯỜI PHÁP TỪNG THẤT BẠI ĐAU ĐỚN TRƯỚC NGƯỜI VIỆT NAM THỜI NGUYỄN


Sau khi Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi, buộc họ phải rút hết quân đội về nước trong nhục nhã, thì thực tế ấy làm nổi rõ lên truyền thống yêu nước đã kết hợp được với thành tựu của thời hiện đại dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo thành năng lực chống ngoại xâm vô tiền khoáng hậu của dân tộc Việt Nam. Dù nhìn dưới bất cứ góc độ nào, mọi sử gia trên toàn thế giới đều đã khẳng định các sự kiện hiển nhiên ấy.


Truyền thống yêu nước không phải phát sinh trong một sớm một chiều mà đã được nhân dân ta nuôi dưỡng từ hàng ngàn năm về trước với những biểu tượng hoành tráng: Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh…


Xin đơn cử một biểu hiện về đặc trưng tinh thần văn hóa Việt ở Nam bộ thời thuộc Pháp. Như ta đã biết, từ khi Nam kỳ lục tỉnh đã trở thành xứ Đông Pháp, thì quan chức người Pháp trực tiếp cầm quyền các cấp chính quyền, nhưng  toàn thể các làng thì như muôn đời nay, người Việt vẫn tự quản. Nói khác đi, toàn thể các tế bào xã hội Việt Nam vẫn giữ được quyền tự trị, đặc biệt là về văn hóa.


«Trong phạm vi làng xã, hình thức thờ cúng thần Thành hoàng làng là những thần bản mệnh. Những vị thần này, cho dù gốc là người trần hoặc một siêu linh thì đều là những người có công với làng với nước. Những vị thần này phải được vua Việt Nam phong tước, thì làng mới thật sự trở thành làng Việt, mới được vinh dự được chính thức là một tế bào của nước Việt Nam. Điều đó phản ánh một tinh thần yêu nước rất cao, một đặc tính của tôn giáo Việt Nam ».


(Lê Sơn, Hội Đình Thông Tây Hội Gò Vấp…, Luận án Tiến sĩ,  tr. 100).              


                   


             Ngôi đình làng Nam bộ lại đóng một vai trò văn hóa xã hội hết sức đặc biệt đối với Nam triều. Trong xứ Đông Pháp mọi người phải tuân thủ luật pháp của nước Pháp, phải trung thành với mẫu quốc Pháp, nhưng:


“Chính quyền thực dân không thể dập tắt được cái tinh thần đình làng Việt Nam hướng về Nam triều, là nhà nước chính thức duy nhất có quyền ban sắc phong cho tất cả các làng trong cả nước, kể cả trong tất cả các làng tại xứ Đông Pháp ấy. Tại đình làng trong cả nước, hàng năm  toàn thể nhân dân đều làm lễ hội làng tại ngôi đình, tức là làm cái việc tỏ lòng trung thành với Nam triều một cách công khai mà chính quyền thực dân không thể kiểm duyệt được, không cấm được như họ kiểm duyệt báo chí, cấm tụ tập đông người...”.


                   (Lê Sơn, Hội Đình Thông Tây Hội Gò Vấp…, Luận án Tiến sĩ,  tr. 100).              


Thậm chí, theo ông Sơn Nam, có làng gởi đơn lên Soái phủ Nam kỳ và Toàn quyền Đông Dương xin sắc phong cho đình làng mình. Sắc phong phải bằng chữ Nho và do triều đình Huế cấp, đóng dấu son đỏ, mới thật sự là sắc phong, mới có giá trị thiêng liêng đối với toàn thể nhân dân trong làng. Các quan Pháp đành phải chuyển ra Huế, đề nghị cấp sắc phong cho cái làng trong chính xứ Đông Pháp của mình trực trị. Chính quyền thuộc địa làm sao có các yếu tố cơ bản ấy nên không thể cấp sắc phong được, vì nếu có cấp thì chẳng được nhân dân kính trọng. Lễ hội đình làng là hoạt động tâm linh như một tôn giáo thật sự, chính quyền thực dân không thể cấm đoán. Thế là trong toàn nước ta, có một nơi duy nhất là đình làng, người ta công khai nhắc nhở lòng yêu nước, qui về biểu tượng của nước là triều đình, và người ta công khai chửi bới quân cướp nước thoải mái trong các tuồng hát xây chầu, do các sĩ phu yêu nước soạn ra, cài vào.


Một sự việc như thế cho thấy, văn hóa yêu nước làng Việt bất biến, dù bao triều đại thay đổi nhau theo dòng thời gian dài lâu.


Ở đây, nghiên cứu chỉ bó gọn trong phạm vi triều Nguyễn, mà là triều Nguyễn cho đến tháng 3 năm 1860, thời kỳ trước hòa ước Nhâm Tuất. Vào thời ấy, nước Việt Nam như thế nào trong con mắt người Pháp? Nói cụ thể, những người Pháp trong thời thực dân viễn chinh bằng pháo thuyền đến đánh nước ta và những người có trách nhiệm cao ở nước Pháp đánh giá Việt Nam thời bấy giờ như thế nào?


Đó là vấn đề mà chúng tôi muốn tìm hiểu.


Chúng ta lần lượt khảo sát những vấn đề như sau:


1. Người Pháp gọi nước Việt Nam thời nhà Nguyễn bằng nhiều tên:


Nước Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn được người Pháp gọi bằng nhiều tên:


- Vietnam.


- L’Annam


- Cochinchine


- La Cour de Hue.


L’Annam là cách gọi khinh miệt, vì nó gợi lại thời kỳ cả ngàn năm nước ta bị Bắc thuộc. Tên này có từ thời Hán chứ không phải chỉ xuất hiện từ thời nhà Đường như nhiều người lầm tưởng (xem Hậu Hán thư- Truyện Mã Viện). Đừng tưởng là ngẫu nhiên mà người Pháp thực dân rất có ý thức về việc này. Trong cuốn địa phương chí “Monography de la Provence de Gia Định – 1902”, viết rằng, ban đầu người Pháp không chịu lấy tên Gia Định đặt cho lỵ sở mới của tỉnh Gia Định, vì họ không muốn người dân Nam bộ nhớ đến tòa thành cũ oai hùng của họ đã bị người Pháp đánh chiếm và phá tan tành. Họ đã lấy tên ngôi làng Bình Hòa, lấy làm lỵ sở để đặt tên cho lỵ sở, nhưng sau đó lập tức gặp quá nhiều rắc rối trong công văn và cả trong những cuộc hội nghị, vì giọng người Pháp gọi tên Việt không chuẩn, cứ lẫn lộn Bình Hòa với Biên Hòa, là tỉnh Biên Hòa. Tương tự, họ không lấy tên ngôi chợ gần đó tên là Bà Chiểu để đặt tên cho lỵ sở, vì sợ có thể lộn với tỉnh Bạc Liêu. Cuối cùng họ đành phải lấy tên lỵ sở là Gia Định, chẳng qua là chuyện bất đắc dĩ mà thôi.


Tonkin, Cochinchine là 2 từ mà các cố đạo Thiên Chúa chỉ xứ Đàng Ngoài và xứ Đàng Trong, tức là chỉ vùng đất nước ta phía Bắc và phía Nam sông Gianh, thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhân dân quá cơ cực, dễ khiến một bộ phân dân nghèo tìm đến với niềm tin mới lạ, khác hẳn với cái cũ. Thiên Chúa giáo bén rễ từ đó.


Nhưng, sau cả trăm năm chấm dứt phân tranh Trịnh - Nguyễn, mà các sách Pháp vẫn cứ vô tư dùng hai từ này, có lẽ vì triều Nguyễn, là hậu duệ của các chúa Nguyễn, nên họ dùng chữ Cochinchine để chỉ nước Việt Nam của triều Nguyễn. Đồng thời, họ gọi Nam kỳ là Basse-Cochinchine và gọi Tây Nam bộ là Bas-Mékong. Về sau này, khi chia cắt nước ta thành 3 miền có chế độ chính trị khác nhau thì Cochinchine mới chính thức chỉ Nam bộ và Tonkin chỉ Bắc bộ, L’Annam chỉ Trung bộ


2. Người Pháp hai lần bị thất bại đau đớn ở nước Việt Nam thời  Nguyễn:


Có người sẽ bảo, triều Nguyễn mạnh sao được khi họ bị quân Pháp đánh cho đại bại, hết Tổng đốc này đến đại tướng nọ phải hy sinh và buộc phải ký các hòa ước bất bình đẳng, khiến nhân dân phải chịu cảnh nước mất nhà tan.


Nhưng hãy bình tĩnh nhìn xem, trên bình diện thế giới, sự đối đầu Đông Tây lúc bấy giờ, thì to lớn như Trung Hoa cũng bị các nước châu Âu xâu xé, kể gì Việt Nam.


Hãy nghe chính người Pháp nói:


“Trong khi chờ vua Xiêm ký Hiệp ước thương mại, Montigny đến Cambodge, rồi ghé Đà Nẵng “Những tiếng nói hòa bình và hòa giải cuối cùng”. Nhưng Montigny, người hiểu rõ về nước Trung Hoa, lại không biết gì về xứ Đông Dương, các pháo thuyền ông đem theo hầu hết là yếu kém, nên khiến cho cuộc đàm phán của ông không đạt kết quả viên mãn. Viên đại diện toàn quyền của nước Pháp bên cạnh Triều đình Huế (1850-1857) đã thất bại hoàn toàn”.


(Georges Taboulet, La Gest Francaise en Indochine, tr. 378)


Đoạn văn trên cho ta hiểu rằng nước Pháp đang ve vãn các quốc gia trên bán đảo Trung – Ấn này và họ đã thành công ở Thái Lan, Cambodge, nhưng họ đã thất bại ở Việt Nam mà họ cho rằng vì Montigny đem theo pháo thuyền yếu kém.


Chúng ta không khỏi tự hỏi, với những pháo thuyền yếu kém ấy tại sao Montigny đã thành công ở Thái Lan và Cambodge?


Tại vì pháo thuyền Montigny yếu kém hay đụng phải một dân tộc không dễ bị anh ve vãn lừa gạt? Chứng cớ thì ngày nay đã quá rõ là thông qua Hiệp ước Tôn giáo và Thương mại, nước Pháp đã lấn sâu vào nội bộ triều đình nước người ta, can thiệp thô bạo vào nhiều việc quốc gia đại sự của nước người ta, thậm chí chiếm luôn nước người ta.


Điều này hé lộ một điều là Triều đình Huế đã không dễ bị lừa. Cho đến lúc này, ta thấy Triều đình Huế là người đại diện xứng đáng cho dân tộc Việt Nam.


Ngày nay, có nhiều người cho rằng triều Nguyễn đã tỏ ra quá cứng rắn nên rước họa vào thân. Đáng lẽ Triều đình phải hòa hoãn với Pháp, để cho họ vào tự do giảng đạo, vào giao thương. Rằng triều Nguyễn phải khôn ngoan hơn, phải thực tế hơn trước quân Pháp có pháo hạm to đùng, chở được cả trăm khẩu pháo bắn chính xác mục tiêu xa trên 3 cây số, trước đội quân đánh thuê chuyên nghiệp trang bị súng cá nhân có đường khương tuyến bắn nhanh chính xác mỗi phút một viên...


Nhưng nếu hoà hoãn với Pháp thì sau đó sẽ là gì nữa?


Chúng tôi cho rằng ai cũng trả lời được câu hỏi trên, vì cái gương của Thái Lan, Cambodge... những nước Đông Nam Á như chúng ta đã từng hòa hoãn với Pháp, rồi sau đó và cho đến ngày nay họ đã như thế nào rồi. Hơn một trăm năm mươi năm sau hoà hoãn họ đã tiến bộ đến đâu rồi? Họ chẳng được gì nhiều cả, không thể được như nước Nhật, và rõ ràng họ không có được những đột phá như Việt Nam.


Chúng ta không đem trường hợp của nước Nhật vào đây vì nước Nhật khác với ta nhiều mặt. Họ có thể tự đổi mới rất nhanh được mà ta không thể làm như họ và nếu có làm như họ, chưa chắc ta thành công.


Chúng ta không thể không đồng ý rằng mỗi dân tộc đều có đặc điểm của riêng mình. Bởi vì mỗi dân tộc có nền văn hóa, có hoàn cảnh và thực lực riêng, điều mà ngày nay người ta nói là thế và lực. Vì thế, không có lời giải chung cho bài toán của từng nước.


Thế có nghĩa là, tính cho đến thời kỳ này, nước Việt Nam khá mạnh.


Điều rõ nhất là triều Nguyễn đã đánh bại ý đồ ve vãn của thực dân phương Tây, qua phái đoàn của Montigny khi đến Việt Nam đã bị thất bại hoàn toàn, buộc Chính phủ Pháp thôi dùng biện pháp chính trị.


«Nhưng Montigny đã hết quyền hạn, vì theo ý kiến của Walewski cần phải tính toán một nước cờ mới...».


(Georges Taboulet, La Geste Francaise en Indochin, tr. 388)


Thế là, viên đại diện toàn quyền của nước Pháp bên cạnh Triều đình Huế (1850-1857) đã bị cách chức vì đã không hoàn thành nhiệm vụ khi đụng phải Việt Nam. Montigny là quan chức cao cấp đầu tiên của nước Pháp phải chịu thất bại khi dính líu đến Việt Nam.


Đòn chính trị không đem lại thắng lợi thì đánh đòn quân sự, đó là lẽ thường tình, một khi ve vãn không xong thì khai chiến.


«Nhà vua quyết định thay thế các phương tiện chính trị, những phương tiện tỏ ra không có hiệu lực, bằng những phương tiện cưỡng đoạt. Trước cả nguồn tin về sự tuẫn đạo của Đức ông Diaz ở Bắc kỳ truyền đến châu Âu, nhà vua đã quyết định can thiệp bằng vũ lực. Quyết định này được xác nhận trong cuộc họp chính phủ tháng 7-1857, chẳng bao lâu dẫn tới hạm đội Rigault de Genouilly đến vịnh Đà Nẵng».


        (Georges Taboulet, La Gest Francaise


                     en Indochine, tr. 378)


Nước Pháp đã cử một đoàn pháo thuyền mạnh nhất của mình thời bấy giờ.


«Viên chỉ huy hạm đội Pháp ở Viễn Đông, Rigault de Genouilly được lệnh phối hợp với một bộ phận quân đội Tây Ban Nha cùng 14 pháo thuyền nổ súng đánh Đà Nẵng».


(Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, tr. 269)                                           


Nên biết rằng tư lệnh quân Pháp ở Viễn Đông, Rigault de Genouilly là một viên hổ tướng của Pháp thời bấy giờ. Rigault de Genouilly nổi tiếng ở chiến trường Crimée, sau khi chiến thắng ở đó thì  De Genouilly được cử về chiến trường Trung Hoa:


 «Đô đốc Rigault de Genouilly vừa mới nổi tiếng trong những đường hào ở Sebastopol, được chỉ định thay thế Đề đốc Guérin kể từ ngày 15-7-1957».


(Georges Taboulet, La Gest Francaise  en Indochine, tr. 415)


Rigault de Genouilly chỉ huy quân Pháp liên minh với quân Anh đánh thắng quân Trung Hoa:


«Chỉ thị ngày 25-9-1857, đến tay Genouilly vào tháng 01-1858, ít lâu sau khi việc lực lương hỗn hợp Anh-Pháp đánh vào Canton (28-29 tháng 12-1857)».


        (Georges Taboulet, La Gest Francaise


       en Indochine, tr. 415 )


Sau khi buộc triều đình Mãn Thanh ký hiệp ước bất bình đẳng Thiên Tân, Rigault de Genouilly được lệnh kéo rốc đại quân đến chiến trường Viêt Nam. Đến vịnh Đà Nẵng, Rigault de Genouilly nhận thêm quân Tây Ban Nha từ Manilla kéo sang, liền mở cuộc đại tấn công vào Đà Nẵng. Chính Rigault de Genouilly báo cáo về Bộ hải quân Pháp:


«Sáng hôm sau, ngày 01-9-1858, sau khi gởi thư cho Chỉ huy các đồn phòng thủ Đà Nẵng bảo phải tuân lệnh đến trình diện trong vòng hai giờ. Nhưng hết thời hạn, ông ta không trả lời, tôi ra lệnh đồng loạt tấn công các đồn bảo gần nơi tàu thả neo, kể cả hai đồn bảo vệ lối vào cửa sông do các kỹ sư người Pháp thiết kế».


(Georges Taboulet, La Gest Francaise en Indochine, tr. 436)


Tại sao đánh chiếm Đà Nẵng mà không phải một nơi nào khác trên nước Việt Nam ? Vì Đà Nẵng là thành phố yết hầu của kinh thành Huế, lại nằm sát biển, thuận tiện cho pháo thuyền Pháp phát huy sức mạnh vô địch của nó trên biển thời bấy giờ. Các hạm đội Anh, Pháp, Tây Ban Nha đang chia nhau làm bá chủ các vùng biển lớn nhỏ trên toàn thế giới. Nước Pháp tính chiếm xong Đà Nẵng, sẽ xây dựng Đà Nẵng thành một bàn đạp lý tưởng cho việc tiến đánh Huế, thống trị toàn cõi Việt Nam và rồi tiến sâu vào nội địa châu Á.


Thư của bá tước Walewski, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp gởi Bộ trưởng Hải quân Pháp nói lên ý đồ ấy rất rõ:


 «Hoàng đế đã quyết định rằng Tổng tư lệnh căn cứ Hải quân Pháp ở Trung Hoa được ủy thác chuẩn bị những lực lượng của chúng ta chống lại Việt Nam và mà điều quan trọng đối với chúng ta là thành lập mối quan hệ với vương quốc ấy.


Cần phải buộc chính phủ Việt Nam dựa vào sự giúp đỡ của nước Pháp chúng ta bằng hiệu lực của một Hiệp ước... Trước hết, ngài Đô đốc sẽ phải đánh chiếm vịnh Đà Nẵng. Quan trọng nhất của địa bàn này, là những xứ sở rất đáng mong muốn tập hợp quanh nó. Trường hợp, đánh chiếm được Đà Nẵng, chắc ngài cũng đồng ý rằng ngài tổng chỉ huy phải lập tức thiết lập ngay quyền của nước Pháp bảo hộ Đà Nẵng, và ông ấy sẽ không để mất quan điểm rằng sự bảo hộ cần phải bao hàm việc quốc gia ấy đặt dưới sự bảo vệ của một cường quốc nước ngoài là nước Pháp. Việc xử lý mang tầm quốc gia giao cho các doanh nhân và các nhà hàng hải, quyền tài phán đối với các viên chức của bên nước bảo hộ thuộc Nhà nước bảo hộ...


Đô đốc Rigault de Genouilly, là người được Hoàng thượng giao cho quyền tự do hành động rất lớn... để những hành động tập trung vào sự củng cố uy thế của nước Pháp đối với xứ Đàng Trong.


... Giả định hoặc cách này hay cách kia, (theo thỏa thuận của ngài Đô đốc), cũng phải kiên quyết chiếm giữ Đà Nẵng».


       (Georges Taboulet, La Geste francaise en Indochin, tr. 416)


Vậy thì, sau chiến dịch Trung Hoa đem lại thành công cho nước Pháp, họ cũng rất chắc bụng sẽ gặt hái thành công ở Việt Nam bằng chương trình đánh chiếm Đà Nẵng. Ở Trung Hoa, quân Pháp liên minh với quân Anh, còn ở Việt Nam, quân Pháp liên minh với quân Tây Ban Nha, dưới quyền chỉ huy của viên tướng đã từng chiến thắng ở Crimée và Trung Hoa.


Thế nhưng, viên hổ tướng ấy, Đô đốc Rigault de Genouilly đã không hoàn thành nhiệm vụ và bị cách chức giữa trận tiền. Đô đốc Page lên thay để chỉ làm một việc duy nhất là nghiên cứu kế hoạch rút chạy khỏi Đà Nẵng.


Như thế thì, tính cho đến thời kỳ đụng độ ở Đà Nẵng, Việt Nam mạnh chứ không yếu. Việt Nam đã là nguyên nhân chính làm mất chức hai nhân vật sáng giá hàng đầu của nườc Pháp thời bấy giờ: Montigny và Rigault de Genouilly.


Lâu nay, ta một mực cho rằng các sử gia phương Tây làm việc có phương pháp khoa học lắm, họ viết lịch sử mang tính khách quan rất cao. Nhưng thực tế không phải như thế.


Trong trường hợp Montigny, sử gia Taboulet đã có những nhận định không công bằng, hay nói tách bạch ra rằng Taboulet đã nhận định không đúng thực chất của vấn đề, hoặc cố tình không dám đối diện với sự thật. Họ cho rằng vì pháo thuyền mà Montigny đưa theo chưa đủ mạnh để khuất phục triều đình Huế. Nhưng họ không thể không biết rằng pháo thuyền trong hạm đội của Rigault de Genouilly thì rất mạnh, nhưng cũng phải thua. Chúng tôi sẽ chứng minh sau đây rằng các sử gia nước Pháp đã bóp méo sự thật, cố tình viết sai sự thật.


Ngay như trong cuộc chiến Đà Nẵng 1858-1860, sử Pháp nói mập mờ về số lính của họ bị quân ta sát hại trong các trận đánh, trong khi họ nói nống quân ta từ 2.000 người lên 10.000 người, họ nói trận nào họ cũng giết được rất nhiều quân Việt, còn quân Pháp chết vì dịch bệnh hơn là chết trận.


Có thật vậy không?


Quân ta đánh giặc rất tự tin. Một bài ca của nhân dân địa phương kể về trận đánh này:


Chiều qua vào lúc giờ thân,


Tam bản rần rần xạc ngược bờ sông


Xạc sâu vào đến đồn trong


Nổ súng đùng đùng quyết chiếm đồn ta


Trong đồn ta bắn pháo ra


Hai cây hỏa hổ bắn đà thiệt hung


Cột buồm nó gãy, tam bản nó tung


Tây phiên hãi hùng nó kê nó xổ


Nó la hô hố, tam bản xẹc lui


Trời đã tối rồi, ta không đánh nữa


(Theo Ngô Văn Minh, báo Đà Nẵng, ngày 24-9-2008)


Trong khi sử của triều Nguyễn, sách Đại Nam thực lục viết rằng: Trong trận quân Tây dương tiến đánh 3 đồn ven biển, Nguyễn Tri Phương phái Chu Phúc Minh ứng cứu đồn Trung, đồn Hạ, phái Nguyễn Duy chỉ huy quân mai phục. Lính Tây dương vây đồn Hạ, phá vỡ đồn Hạ. Các viên Hiệp quản coi đồn Hạ là Nguyễn Tình Lương, Lê Văn Khiêm tử trận, quân Tây dương liền bao vây ba đồn. Chu Phúc Minh chạy vào đồn Phúc Ninh cố thủ. Nguyễn Duy đem quân đến cứu, đánh quyết liệt buộc quân Tây dương phải lui. Hai bên đều bị thiệt hại nặng.


Hai bên đều thiệt hại nặng, tức là bên ta bị thiệt hại nặng và bên địch cũng đã bị thiệt hại nặng. Bên ta thiệt hại có thể kể nhiều thứ: binh lính cùng vũ khí cầm tay, các công sự, các ụ pháo bị phá hủy... còn bên Pháp bị thiệt hại chủ yếu là binh lính và vũ khí cầm tay. Quân Pháp bị thiệt hại nặng có nghĩa là lính Pháp bị ta giết chết nhiều.


Mặt khác, khi đến Đà Nẵng thì quân Pháp đã hết còn bệnh dịch tả. Chính Rigault de Genouilly báo cáo về bộ Hải quân Pháp:


«... Bệnh dịch tả truyền nhiễm mà chúng tôi nhiễm phải từ khi ở Thượng Hải và nó khiến nhiều binh sĩ bị bệnh từ hồi còn ở Yulikan (Hải Nam), đã dứt hẳn khi chúng tôi đến Đà Nẵng».


(Georges Taboulet, La Geste francaise en


   Indochine, tr. 436)


Thế nhưng trong các văn bản về sau, Taboulet vẫn đổ riệt cho bệnh dịch tả làm hao hụt đáng kể lực lượng Pháp ở Đà Nẵng:


Sau mấy tháng tấn công Đà Nẵng, qua hai cuộc thám sát trên sông của Thiếu tá Jauréguiberry, (ngày 06-8 và 21, 22-12-1858), quân số bị hao hụt nhanh chóng dưới tác động của bệnh dịch tả, bệnh lỵ, bệnh sốt và bệnh scorbus.


         (Georges Taboulet, La Geste francaise en Indochine, tr. 436)                  


Thật ra thì họ bị sốt vì hoạt động dưới cái nóng nhiệt đới. Thư của Rigault de Genouilly gởi Bộ trưởng Hải quân Pháp, ngày 21-9-185, cho biết:


«Lúc một giờ chiều, quân lính trở về trại, mệt rã rời, mặc dù không phải mang vác gì, không phải đi bộ 2, 3 tiếng đồng hồ... Hôm sau, trạm quân y đầy nghẹt bệnh nhân sốt. Ngày hôm ấy chúng tôi có 10 binh sĩ tử thương và 40 binh sĩ bị thương tích».


           (Georges Taboulet, La Ges Francaise en Indochine, tr. 450)


Lần này thì họ nói thật. Là tướng Tổng Tư lệnh chiến dịch, trong báo cáo do chính mình ký gởi cấp trên, Rigault de Genouilly tương đối thật thà. Còn những viên thư lại dưới quyền ông cũng như các sử gia Pháp sau này, họ thống nhất với nhau, viết làm sao cho chiến bại của họ bớt tang thương. Quân lê dương viễn chinh bằng pháo thuyền Pháp, phần đông chết đâu chôn đó, và một thi thể khi đã được chôn rồi thì đố ai biết binh sĩ  ấy chết vì đánh trận hay chết vì bệnh dịch tả? Âu cũng là lẽ thường tình!


Với hai chiến thắng chính trị và quân sự nêu trên, cho thấy cho đến lúc bấy giờ, quân đội Việt Nam thời triều Nguyễn thật sự mạnh.


Người Việt Nam chúng ta có quyền tự hào rằng ta đã đánh bại một đội quân đã từng chiến thắng quân đội Nga Sa hoàng và quân đội Trung Hoa vào thời bấy giờ.


Để kết luận bài viết này, chúng tôi rất đồng tình với nhận định sắc sảo của TS. Ngô Văn Minh trong một bài viết ngắn, nhưng súc tích, xin phép trích ra đây:


“Trong con mắt xâm lược của thực dân phương Tây, Đà Nẵng là nơi có vị trí đặc biệt quan trọng không thể bỏ qua, bởi từ đây sẽ dễ dàng cơ động quân thủy bộ ra đánh kinh đô Huế, trung tâm đầu não của chế độ phong kiến Việt. Và chiếm được Đà Nẵng sẽ khống chế được cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng phía Đông Thái Bình Dương. Pháp là nước nuơi tham vọng đánh chiếm Đà Nẵng mạnh mẽ và dai dẳng nhất, từ chỗ tự tiện đưa vào trong Hiệp ước Versailles (1787) điều khoản cắt hải cảng Đà Nẵng làm nhượng địa cho mình, đến hai lần nổ súng khiêu khích trong các năm 1843, 1845, và cuối cùng đến năm 1857 quyết định đánh chiếm Việt Nam bằng vũ lực - vẫn với mục tiêu đầu tiên là Đà Nẵng.


Triều đình Huế đã nâng cao ý thức phòng giữ Đà Nẵng: cho xây dựng mới và tu bổ các pháo đài, tấn bảo, trang bị thêm các vũ khí hạng nặng và tăng quân đồn trú cho cửa biển này. Cho đến năm 1858, đây là nơi có hệ thống phòng thủ lớn nhất, hoàn bị nhất so với các cửa biển khác trong cả nước.


Với một lực lượng tham chiến hùng hậu, gồm lính Âu - Phi, lại thêm 2 đại đội “lính bản xứ” gồm các giáo dân phản động, bọn thổ phỉ  và dân phu Tàu, ngay trong ngày đầu tiên (1-9-1858),  liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã phá hủy hầu hết các vị trí phòng thủ của quân ta dọc cửa biển, khiến cho chúng tin chắc có thể “Đánh nhanh thắng nhanh” để tiến quân ra Huế bắt triều đình Việt Nam đầu hàng. Nhưng thực tế sau đó cho thấy những toan tính của chúng đã vấp phải một ý chí kháng chiến kiên cường của cả Triều đình và quân dân Việt Nam tại mặt trận này.


Về phía Triều đình, Tự Đức đã chỉ đạo khá sát sao mọi kế hoạch chiến đấu tại mặt trận Đà Nẵng: kịp thời cho biền binh vào ứng cứu, liên tiếp cử các tướng giỏi vào chỉ huy, từ Hữu quân Đơ thống Lê Đình Lý, Tham tri Phan Khắc Thận, Hồng lô tự khanh Nguyễn Duy, Thống chế Chu Phúc Minh, đến cả vị tướng tài ba Nguyễn Tri Phương đang làm Kinh lược sứ Nam Kỳ cũng được triệu ra giao trọng trách Tổng thống quân thứ Quảng Nam. Những ai có kế sách hay đều được tin dùng, khen thưởng, không kể thành phần xuất thân là quan lớn hay quan nhỏ, như trường hợp Trần Nhật Hiển chỉ là một đội trưởng nhưng tâu kế sách “Lưới đánh giặc, thuyền đánh giặc, bè đánh giặc và thuật đánh giặc” liền được Tự Đức ban khen và chỉ dụ các tướng lĩnh triển khai thực hiện. Đối với những trường hợp phạm lỗi thì tùy mức độ nặng nhẹ để nghiêm phạt. Tổng đốc Nam Ngãi Trần Hoằng và Tôn Thất Phan, Tôn Thất Cháy để mất hai thành An Hải, Điện Hải liền bị cách chức. Các suất đội Bùi Ngữ, Hồ Văn Đa khiếp sợ khi gặp giặc đều bị chém đầu. Quân lệnh không trừ một ai, ngay cả Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển trong một trận giao chiến để mất các đồn cũng bị giáng chức.


Về phía quân dân thì một lòng kiên quyết chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Kẻ địch phải thừa nhận những người lính Việt Nam là “các chiến binh anh dũng”, họ ẩn mình trong những cái hố chữ phẩm có phên che giữa bãi đất bằng rồi thình lình vọt lên xáp chiến, còn dân chúng thì “tuy sống trong tình trạng bị đe dọa nhưng lúc nào cũng vui vẻ chờ ngày đánh chúng ta [quân Pháp]”. Nhân dân Đà Nẵng thực hiện vườn không nhà trống, cùng với dân các phủ huyện lân cận lập các đội dân dõng, chiến tâm cùng chiến đấu bên cạnh quân Triều đình và tích cực phục vụ chiến trường như xay tải lương, đào hào đắp lũy, lấp sông Vĩnh Điện chặn đường tiến quân của địch. Những quan lại Quảng Nam đang công cán tại các miền đất nước cũng dâng sớ xin được về quê mộ quân đánh giặc. Hưu quan Phạm Gia Vĩnh đang quy dân lập ấp cũng chiêu tập được 1000 người lập đội quân Nghĩa Dũng từ Hà Đông (nam Quảng Nam) kéo ra đánh Pháp. Đến những thầy giáo, nho sinh ở các tỉnh phía Bắc cũng chiêu mộ văn thân, nho sĩ, tráng dân phiên thành quân ngũ ko vo xin “chia lửa với Sơn Trà”. Nhiều trận chiến đấu oanh liệt của quân ta diễn ra tại các đồn Nại Hiên, Hóa Khuê, Cẩm Lệ gây cho địch nhiều tổn thất. Một sĩ quan Pháp phải than thở: “Để làm gì khi gây thiệt hại cho họ vài tấc đất hôm nay thì họ sẽ chiếm lại ngày mai… Nếu tiếp tục thế này, cuộc chiến sẽ kéo dài hàng trăm năm”.


Vậy là, với một lực lượng luôn được tăng viện, tổng cộng lên hơn 3.000 quân, với một tham vọng kết thúc quá trình xâm lược Việt Nam chỉ trong 3 tuần lễ, nhưng thực tế lại bị vây chặt tại mặt trận Đà Nẵng đến 18 tháng 22 ngày, cuối cùng quân xâm lược đành phải chấp nhận cáii kết cục bi đát là bỏ hẳn mặt trận này, Để lại nơi ấy “một tháp hài cốt” lính Tây chết trận.


Ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững Đà Nẵng của quân dân ta không chỉ giới hạn ở phạm vi Đà Nẵng mà quan trọng nhất là qua đó đã giữ được kinh đô Huế, cơ quan đầu não của quốc gia. Đây là lần đầu tiên quân ân ta phải chiến đấu với một kẻ thù mới – thực dân phương Tây với những chiến hạm vượt đại dương được trang bị những vũ khí tinh xảo, có độ bắn chính xác, khả năng sát thương cao, lại được tôi luyện qua các cuộc chiến tranh ở chiến trường châu Au và đ chinh phục nhiều thuộc địa. Hơn nữa, điểm lại lịch sử 87 năm chống Pháp (1858 – 1945) thì đây là chiến thắng lớn nhất, oanh liệt nhất, không có một chiến thắng nào khác sánh bằng.


Thực tế đã cho thấy với chiến trận tại Đà Nẵng, Triều đình Huế biết kiên quyết tổ chức quân dân chiến đấu nên giành được thắng lợi.


Éo le thay, trước tàu đồng súng lớn của liên quân Pháp – Tây Ban Nha, Đà Nẵng vẫn kiên cường đứng vững, thế mà 23 năm sau, cùng cảnh ngộ với các tỉnh thành khác, nơi đây phải trở thành một bộ phận đất thuộc địa bởi hiệp ước Quý Mão do Triều đình Hiệp Hòa ký ngy 25-8-1883, về sau đó là đất “nhượng địa” của Pháp bởi đạo dụ ngày 1-10-1888 của vua Đồng Khánh”.


            (Theo Ngô Văn Minh, báo Đà Nẵng, ngày 24-9-2008).


(còn tiếp)


Nguồn: Võ Duy Ninh, Tổng đốc đầu tiên tử tiết chống Pháp. Nhóm biên soạn: NguyễnVăn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Văn Thanh.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »