Chiến thắng Đà Nẵng 1858-1859, xét trên toàn cục thế giới, đó là một chiến thắng lừng lẫy hơn nhiều như lâu nay chúng ta tưởng. Một cuộc đụng độ chính thức đầu tiên giữa quân ta với quân viễn chinh Pháp, từng chứng tỏ khả năng bách chiến bách thắng từ Crimée đến Thiên Tân. Chúng đánh ta kéo dài gần 19 tháng trời, và cuối cùng ta thắng, thì không thể không công nhận một điều hiển nhiên là ta mạnh hơn họ. Mạnh ở đây là trí tuệ và tinh thần yêu nước vô tiền khoáng hậu của người Việt Nam đã được khơi dậy đầy đủ nhất và rất kịp thời. Sức mạnh này, sau đó triều Nguyễn đã để mất và phải chờ bảy mươi năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã khơi dậy thành công qua hai cuộc kháng chiến thắng Pháp và thắng Mỹ.
Chiến thắng Đà Nẵng 1858-1859 là chiến công của quân dân cả nước ta, nhưng trực tiếp là quân dân Nam Ngãi. Chúng ta hãy nghiêng mình trước những hy sinh, mất mát chắc phải rất lớn trong cuộc chạm trán lần đầu tiên giữa Đông và Tây, trong giai đoạn nền công nghiệp vũ khí cực kỳ chênh lệch mà Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản… đều đã xếp vó quy hàng.
Chúng tôi cho rằng, chiến thắng Đà Nẵng 1858-1860 cần được nghiên cứu sâu hơn trên quan điểm hiện đại, chứ không phải chỉ căn cứ vào những gì đã từng viết. Bởi vì, nước ta bấy giờ chưa được tiếp cận khoa học, nên chưa thể nói hết được những gì mình nghĩ, mình thấy và mình làm. Còn sử Tây thì như chúng tôi đã nêu trên kia, họ không thật sự là thật. Chính triết gia người Pháp hiện đại Michel Foucault trong tham luận “The Archeology of Knowledge” năm 1972 đã viết:
“Tất cả kiến thức đều được nội dung lịch sử của chúng đặt thành vấn đề. Hơn nữa, các biểu tượng và các ý tưởng phê phán phục vụ các mục đích của người có địa vị hùng mạnh nắm quyền thống trị và điều khiển thế giới, từ đó kiểm soát và thống trị trí tuệ xã hội của nhân dân”.
(R. Ron McGee, Richard L. Warms, Anth. Theory, tr. 612)
Chiến thắng Đà Nẵng 1858-1859 là cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân Việt Nam, cần được tiếp tục xem xét đánh giá nhằm trả lại giá trị thực sự của nó và tổ chức kỷ niệm hàng năm ngang tầm với giá trị lịch sử của nó.
Chiến thắng ấy xứng đáng được nhân dân cả nước Việt Nam ăn mừng hàng năm bằng lễ hội hoành tráng nhất của nhân dân ta.
VÕ DUY NINH NHỮNG GÌ CÒN LẠI
Từ năm 1846, Võ Duy Ninh làm việc ở bộ Binh chuyên quản việc quân sự suốt 13 năm, ông tỏ ra có năng lực quân sự, có công trong việc quy hoạch thành lũy chống pháo thuyền Pháp từ Bắc kỳ cho đến Nam kỳ theo ý đồ của triều đình Huế thời bấy giờ, đồng thời ông vẫn được xem là có năng lực trong sự nghiệp giáo dục đào tạo. Võ Duy Ninh được cử là quan duyệt quyển thí sinh thi Hội đã trúng cách. Công việc này rất quan trọng vì cuộc phúc khảo là kiểm tra lại các quyển đã được chấm đỗ và đề xuất các Tiến sĩ tương lai lên nhà vua. Chức vụ này phải là người có thực tài và được tín nhiệm. Nên nhớ là Võ Duy Ninh chỉ đỗ Cử nhân mà thôi. Trương Đăng Quế cũng là Cử nhân, nhưng là Cử nhân trong một khoa thi không có thi Hội, tức là không có ai là Tiến sĩ cả. Đó là trường hợp đặc biệt, Cử nhân được xem ngang với Tiến sĩ. Trường hợp Cử nhân Võ Duy Ninh được cử làm quan duyệt quyển cho các tân Tiến sĩ, quả là một trường hợp đặc biệt. Phải là người uyên bác được nhiều người công nhận là người có thực tài. Sử chép:
“Tháng 4 năm Bính Thìn, Tự Đức năm thứ 9 [1856], phúc thí cho những người thi Hội trúng cách ở điện Khâm Văn. Lấy Cần Chánh điện Đại học sĩ, quản lý công việc bộ Binh là Trương Đăng Quế, thự Văn Minh điện Đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Hộ là Đặng Văn Thiêm sung chức độc quyển, lấy Hữu Tham tri bộ Lễ là Phạm Khôi, thự Hữu Tham tri bộ Lại là Võ Duy Ninh, sung chức Duyệt quyển”.
(Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 440)
Võ Duy Ninh còn để lại tập thơ “Trúc Nghiêm thi tập” bằng chữ Hán. Có lẽ là bằng Hán Nôm, vì thông thường thơ chữ Hán của các cụ có xen chữ Nôm. Đó là những địa danh bằng tiếng Nôm như Cần Giờ, Cây Bứa, Hàng Rượu, Sài Gòn… Những vật dụng như cà ròn, cái nia, cái rựa…
Tiếc thay! Trúc Nghiêm thi tập đã bị thất lạc trong đạn lửa chiến tranh như nhiều tư liệu chữ Hán Nôm khác. Chúng tôi chưa tìm lại được.
Khi thành Gia Định bị thất thủ, các quan có nhiệm vụ ở đó đều bị tội. Trần Tri, Tôn Thất Năng, Vũ Thực đều bị cách chức cho lưu dụng để bắt buộc phải hết sức làm việc sau này. Võ Duy Ninh và Lê Từ tự tử chết theo thành, đều bị tước phẩm hàm.
“Bấy giờ, Đề đốc Trần Tri đem việc Võ Duy Ninh chết vì việc nước tâu lên. Bộ Binh là bọn Trương Đăng Quế đem việc Duy Ninh chết vì việc nước kêu xin. Vua cho truy tước quan hàm của Tuần phủ quyền Hộ Tổng đốc Võ Duy Ninh, giao cho Vĩnh Long hay Định Tường chi ra 100 quan tiền, sức đi tìm xác tạm chôn, đợi khi xong việc bắt thuyền chở về nguyên quán chôn. Lê Từ cũng được truy tước quan hàm, cấp cho 50 quan tiền, sức cho đi tìm xác đợi chở về quê”.
(Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 597)
Vợ ông là bà Đào Thị Thạch cùng người con đầu lịng l V Duy Lập vo Nam tìm mộ ơng. Họ tìm đến thôn Phước Lý - Phước Lộc được người địa phương hướng dẫn tìm được mộ ông, họ bốc mộ và chuyên chở bằng ghe bầu về Quảng Ngi.
Mộ Võ Duy Ninh ban đầu được vợ con an táng tại xã Chánh Lộ. Đến năm 1987, người cháu thừa tự đích tôn là Võ Duy Nhãng cùng gia tộc quyết định cải táng về thôn Xuân An xã Hành Thuận, nằm phía tây thôn nhà Đại An.
Khi bốc mộ, gia đình thấy phía dưới lưng ông có chất bột màu đỏ, do chiếc áo liệm xác ông phn hủy. Có lẽ đó là chiếc áo trận của một viên võ quan cao cấp thời xưa. Còn có thêm một dây đai bằng vàng (hơn một chỉ vàng) đính ở mũ, 4 khuy nút bằng đồng mạ vàng và 4 chiếc nút áo bằng mã não. Các di vật này hiện lưu giữ tại Bảo tàng Quảng Ngãi.
Trần Tri là chức phó của Võ Duy Ninh ở thành Gia Định tâu xin cho những quan chức tử tiết cho thành Gia Định là phải lẽ. Còn Trương Đăng Quế tâu xin cho cấp dưới của mình cũng là phải lẽ. Tuy điều tâu xin không được vua chuẩn y toàn bộ, nhưng cũng đã được thực hiện một phần.
Tháng 6 năm Tân Dậu, Tự Đức năm thứ 14 [1861], Nguyễn Bá Nghi khi làm Khâm sai coi Quân thứ Định – Biên cũng dâng sớ xin truy trả lại quan chức cho tỉnh thần Gia Định tử tiết là Võ Duy Ninh, Lê Từ, gia tặng và ấm thụ cho con cháu họ, thì bị Tự Đức xuống Dụ quở rằng:
“Việc cho tiền, sức tìm xác, là gia ân ở ngoài phép, đã hậu quá rồi… Bá Nghi vì cái tình cùng quê quán với nhau mà có lòng biện hộ, cũng là không phải. Chuẩn phạt lương 6 tháng”.
(Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 724)
Tháng giêng năm Đinh Mão, Tự Đức năm thứ 20 [1867] cho khai phục nguyên Hộ đốc (Chánh Nhị phẩm) Gia Định là Võ Duy Ninh chức hàm Thị độc (Chánh tứ phẩm), An sát (Chánh tứ phẩm) Lê Từ làm Chủ sự (Chánh lục phẩm), đều bị giáng 4 cấp.
“Trước đó đình nghị tâu xin nhiều lần cho họ nhưng vua chưa cho, đến nay vua thương về cũng là chết vì tiết nghĩa nên mới có lệnh ấy”.
(Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 1.043)
Nhưng đình đám nhất là lần rước sắc triều đình năm 1931. Niên hiệu Bảo Đại năm thứ VI, triều đình Huế ban sắc phong công thần cho Võ Duy Ninh, đồng thời cho phép cha ông là Võ Văn Tân được lấy chữ lót Duy thành Võ Duy Tân.
Đám rước năm ấy rất trọng thể, từ tỉnh rước về huyện Nghĩa Hành, rồi đưa về nhà ông Võ Duy Trình, cháu đích tôn gọi Võ Duy Ninh là ông cố nội.
Làng Đại An nôn nao chuẩn bị hàng tháng trời, tích trữ lương thực, thực phẩm dùng trong chiêu đãi, dọn dẹp đường sá, nhà cửa sạch sẽ, sáng sủa, dựng lều trại, sắm cờ xí, diễn tập…
Trên khu vườn gần 4 mẫu đất Trung bộ, ngay phía nam đình làng Đại An, các vị quan chức tỉnh, huyện, làng cùng bà con thân quyến tộc Võ- Đại An và đông đảo dân làng Đại An về dự có đến mấy ngàn người. Võng lọng đầy ngõ, ngựa xe đầy vườn, cờ trống tung bay vang động cả một góc trời. Làng cắt cử 20 tuần phu chuyên việc cắt cỏ và chăm sóc ngựa của khách quý, và mấy mươi dân đinh ngụ cư lo phục vụ cơm nước phục vụ tân khách.
Sắc phong có câu:
“Côi cửu tuyền nhi vô khúc,
thiên nhật diệu lâm”.
(Mừng cho ông nơi tuyền đài xa xôi, từ nay được ánh mặt trời soi thấu, hết còn điều chi uẩn khúc nữa).
Sử gia Nguyễn Thiệu Lâu nói về thế và lực giữa ta và địch, cũng như ông nói đến khí tiết của một viên Tổng đốc hy sinh vì nước đầu tiên của nước ta. Đây là một tổng luận sắc sảo có thể lấy làm phần kết tập sách này:
“Võ Duy Ninh làm chức Hộ đốc thành Gia Định, tháng giêng năm 1859, lính Pháp đánh phá các đồn, đồn Lương Thiện thuộc tỉnh Biên Hòa, đồn Phương Vĩnh, đồn Nhân Nghĩa thuộc tỉnh Gia Định, vào cửa Cần Giơ, chặn sông Phu Giang thuộc tỉnh Biên Hòa, đánh phá đồn Bình Khánh, đồn Phú Mỹ, đồn Hữu Bình thuộc tỉnh Gia Định. Sông Đồng Nai to rộng, tàu chiến của Pháp chạy giữa sông, quân ta chỉ có súng tầm ngắn làm sao có thể ngăn chặn được giặc, nên Pháp có thể đổ bộ lên bất cứ chỗ nào. Quân Pháp tấn công các đồn ngoại vi để bức thành Gia Định, các đồn này đều thất thủ. Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy giấy các tỉnh kêu gọi hội binh cứu thành Gia Định, rồi Võ Duy Ninh tự tử”.
(Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp luc, các tr. 563-564)
Tổng đốc Võ Duy Ninh có 4 người con, 2 trai, 2 gái. Con trai là Võ Duy Lập và Võ Duy Ngọc.
- Võ Duy Lập.
- Võ Duy Ngọc làm chức Tri huyện, sinh Võ Duy Châu, Võ Duy Châu sinh Võ Duy Trình làm Lý trưởng Đại An, Võ Duy Trình sinh Võ Duy Nhãng làm nghề xây dựng, Võ Duy Nhãng sinh Võ Duy Hùng hiện là Bí thư xã Hành Thuận.
Nhà thờ Võ Duy Ninh chính là nhà anh Võ Duy Hùng tại xã Hành Thuận, huyện Nghĩa Hành.
Đường Võ Duy Ninh tại phường 17 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, cách cầu Sài Gòn khoảng 500m. Đường quy hoạch rộng 20m, dài khoảng trên 1km
Văn tế Võ Duy Ninh
(Văn tế này đọc trước bàn thờ ngày giỗ ông)
*Trích từ “Tộc phả Võ tộc Đại An” của Vũ Nguyên
Nhớ Ông
Than ôi!
Thuở ấy, đất bằng sóng dậy
Việt Nam máu lửa mây đen
Thực dân xâm lược ngang nhiên
Tổ quốc lâm nguy bờ cõi
Trăm rưỡi năm nay khí thơm công rỡ
Đức Hộ đốc chí cả hy sinh
Gia Định chống giặc giữ thành
Tuẫn tướng hiến thân rạng danh họ Võ.
Giờ đây,
Trước hương trầm nghi ngút
Nhớ công xưa tỏ chút lòng thành
Tưởng niệm ngày mất Tiên linh
Đại An rực sáng tổ đình hôm nay.
Nhớ linh xưa,
Nghiên đá thô, áo vải cộc chốn núi Ấn sông Trà, lòng Trúc Nghiêm1 chói lọi một điểm son.
Bút lông thỏ, mực tàu mài nơi sân Trình cửa Khổng, vở Trọng Chí2 long lanh từng khuyên đỏ
Thân huân tiến ý chí rạng làng Văn
Nếp thang mây thành tâm vì nước Tổ.
Ôi!
*Huy hoàng thay! Ông Cử nhân khoa Giáp Ngọ, quan Hành tẩu bộ Lại, Bố chánh Hưng Yên, Hữu Tham tri bộ Lại … rạng sử xanh!
*Danh dự thế! Phó Chủ khảo khoa Canh Tuất,
Phê duyệt quyển khoa Bính Thìn,
rồi Hộ đốc Gia Định, tuẫn tiết liệt oanh …
ngời tiết đó!
Ông đã là
Quan trung nghĩa, tiết tháo liệt oanh
Tướng lược thao, sa trường sinh tử
Cảm phục thay!
Lệnh giữ thành, vua Tự Đức ủy thác, tuy thế mỏng quân đơn, Ông đã một lòng tử thủ cho Gia Định sống còn - lòng thán phục ở muôn dân.
Lũ xâm lược Pháp Lang Sa hung tàn, dù bọc thây da ngựa, Ông đã cung kiếm sở cầu cho Tổ quốc tồn vinh – khúc ngợi ca trong sách sử.
Một danh nhân,
Thủ thành, cờ nghĩa vụ kiên trung
Vị quốc, gương hy sinh rạng rỡ.
Vinh hạnh thay!
Sinh tinh anh, Ông cao thượng lưu hạ xuống cháu con niềm tự hào trang hiển hách uy danh.
Sống thể phách, Ngài oai linh sáng soi cho dân tộc, mối ngưỡng vọng ngọn anh tinh nghĩa cử.
Chữ cương thường, ngôi chí sĩ ngàn năm
Tâm trung ái, đấng trượng phu muôn thuở
Trộm nghĩ,
Phận cháu con tộc Võ, ngẫm công lao Cao Tổ, chẳng duy trì chủ nghĩa vị tha, thử hỏi đâu là chữ tri tân?
Làm con dân Việt Nam, tôn đức độ tiền nhân, không học tập kiên cường ý chí, làm sao biết đến câu ôn cố?
Trung quân ngày thịnh trị, Ông trách nhiệm vẹn toàn
Ái quốc buổi hưng vong, Ông can trường khôn tả!
Ôi thôi!
Trước, đau thương đấy mà vinh dự tự hào. Cháu con ghi công ơn trời biển của một bậc chí sĩ trọng nghĩa quên tình riêng
Nay, độc lập đó và tự do dân chủ. Dân tộc noi chí cả gương cao của một đấng danh nhân xả thân vì quốc Tổ.
Thật là!
Quê Nghĩa Hành tiết liệt thơm tho
Đất Quảng Ngãi trung trinh rạng rỡ.
Ôi!
Hồn thiêng Ông chứng giám
Ngày tưởng niệm linh đình
Cháu con về đông đủ
Với tất cả lòng thành
Dâng nén hương viếng Tổ
Nguyện cầu ông yên nghỉ
Chốn vĩnh hằng thiên thu
Ngôi sao vàng rọi tỏ…
Ai tai thượng hưởng!
Nay kính bái
Vũ Nguyên Võ Duy Chúc
Kính bút
VỸ THANH
Khi quân Pháp, nổ phát đại bác đầu tiên từ pháo hạm, tấn công Đà Nẵng, vào một ngày tháng 7 năm 1858, thì triều đình Huế vẫn còn rất mơ hồ về mục tiêu thôn tính thuộc địa của bọn thực dân cướp nước. Trước đó, chúng đã từng diễu võ giương oai ở một số cửa khẩu nước ta, song triều đình vẫn đánh giá rằng mọi hành vi của chúng chỉ là những màn gây áp lực để được tự do giao thương và truyền đạo.
Song lần này thì hoàn toàn khác. Từ tháng 7 -1858 đến tháng 1-1959, quân Pháp liên tục uy hiếp, với ý đồ chiếm lấy Đà Nẵng làm bàn đạp, khống chế đèo Hải Vân để dòm ngó kinh thành Huế. Triều đình phải tăng phái các đại trụ cột để nỗ lực phòng thủ, cứu nguy Đà Nẵng. Đầu tiên là Hữu quân Đô thống Lê Đình Lý, với cuộc chiến đấu kéo dài hơn 2 tháng, kết quả là quân thua, chủ tướng bị thương. Kế đó, Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng thống quân vụ đại thần, và với một chiến lược thực tiễn, lấy đoản binh đối phó với trường binh, tách quân đội đồn trú ra, tổ chức nhiều đội quân cơ động và phục binh kết hợp với quân phòng vệ đồn trú, nên đã cầm cự chặn được địch.
Quân Pháp đã nhận ra:
«Để làm gì khi gây thiệt hại cho họ vài tấc đất hôm nay thì họ sẽ chiếm lại ngày mai… Nếu tiếp tục thế này, cuộc chiến sẽ kéo dài hàng trăm năm».
Rồi thừa lúc quân ta đang tập trung cho Đà Nẵng, quân Pháp làm một cú cắn trộm, với đội pháo thuyền hiện đại cơ động nhất thời bấy giờ, chúng dùng kế nghi binh như sắp tiếp tục tấn công Đà Nẵng, nhưng đích thân tổng chỉ huy De Genouilly lại mang đại quân bất ngờ tấn công thành Gia Định, trung tâm của Nam bộ. Và lẽ tất nhiên, với tình trạng thiếu thông tin tình báo và di chuyển chậm chạp của quân triều đình ta thời bấy giờ, quân ta đã chậm chân hơn, không cứu ứng kịp cho thành Gia Định. Trong vòng mười ngày, các đồn binh bố phòng mà Triều đình thiết lập từ Cần Giờ đến thành Gia Định đều chịu thất thủ.
Võ Duy Ninh đã đi vào lịch sử bằng một lựa chọn dứt khoát và minh bạch: Với vai trò Tổng đốc Định- Biên, ông đã làm hết sức mình cho công tác bố phòng, cương quyết đương đầu, không hề run sợ trước đại bác tàu đồng tối tân của Pháp. Rồi khi trận chiến ngã ngũ, quân thua, thành vỡ, ông quyết định tử tiết. Cái chết của ông mở đầu cho một giai đoạn lịch sử bi đát của dân tộc, nhưng đồng thời cũng cho thấy một tinh thần hy sinh lẫm liệt của kẻ sĩ Việt Nam: lấy cái chết để báo đền Tổ quốc. Theo gương ông, đã có không biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ như: Trương Định, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng…
Nếu như cái chết của Võ Duy Ninh là một cái chết đầy tính bi tráng khiến cho đời sau cảm phục, nhưng Tự Đức đã xử lý quá khắc nghiệt dù vì bất cứ lý do gì đi nữa thì việc cách chức người tử tiết vì thành thì rõ ràng đã không tôn trọng sự hy sinh vì nước của họ.
Thành Gia Định thất thủ, các quan có trách nhiệm giữ thành đều bị kỷ luật. Những kẻ còn sống như Đề đốc Trần Tri, Bố chính Vũ Thực chạy về bảo Tây Thái, huyện Bình Long, tất cả đều bị cách chức lưu dụng để lập công chuộc tội thì có thể hiểu được.
Nhưng Tổng đốc Võ Duy Ninh, đã vì nước tuẫn tiết, cũng vẫn bị trừng phạt. Đề đốc Trần Tri dâng biểu kêu oan, nêu rõ cái chết vì dân vì nước của quan Tổng đốc Võ Duy Ninh. Quan Cần Chánh điện đại học sĩ Trương Đăng Quế cũng tâu xin xem xét công trạng và lòng trung nghĩa của Võ Duy Ninh, vua vẫn không nghe, xuống chỉ truy tước phẩm hàm của Võ Duy Ninh, chỉ lệnh cho quan địa phương chi ra một trăm quan tiền, tìm xác đem chôn. Đây rõ ràng là một thái độ bất công và tàn nhẫn. Bất công vì chỉ xem xét sự kiện trên khía cạnh lợi ích của triều đình, mà không xem xét gì đến việc vị đại thần kia đã từng cúc cung tận tụy, và đã không tiếc thân mạng mình để thể hiện lòng trung nghĩa. Tàn nhẫn vì đã không đoái hoài đến câu “nghĩa tử nghĩa tận”.
Tháng 6 năm Tân Dậu (1861), nhằm năm Tự Đức thứ 14, Khâm sai Nguyễn Bá Nghi kinh lược Nam kỳ, dựa vào những điều tai nghe mắt thấy, và phản ảnh của công luận về cái chết vì dân vì nước của Võ Duy Ninh, đã dâng biểu đề nghị truy phục quan chức cho Tổng Đốc Võ Duy Ninh và Án sát Lê Từ, đồng thời đề nghị gia tặng ấm thụ cho con cháu hai ông. Lần này, chẳng những Tự Đức thẳng tay bác bỏ mà còn buộc tội Nguyễn Bá Nghi tìm cách bảo vệ kẻ có tội, phạt sáu tháng bổng.
Chỉ đến năm 1867, tức là 8 năm sau cái chết của Võ Duy Ninh, và sau những thất bại thảm hại về quân sự, khiến cho nước ta phải ký kết hiệp ước Nhâm Tuất 1862, thừa nhận quyền đô hộ của Pháp tại ba tỉnh miền đông Nam kỳ, triều đình mới thấm thía về vấn đề tương quan lực lượng giữa hai bên, thấu hiểu thêm về nỗi khổ của kẻ cô trung nơi biên ải. Các triều thần lại tiếp tục tâu xin nhiều lần, Tự Đức mới có vẻ hồi tâm một cách nửa vời, cho hồi phục chức tước của Võ Duy Ninh, nhưng lại giáng cấp 4 bậc.
Chưa bao giờ hệ phong kiến lại biểu dương quyền lực một cách cực đoan như vậy. Một triều đại chỉ xem xét các quan hệ xã hội theo kiểu một chiều, chỉ biết đến quyền lợi của triều đình hay hoàng tộc, coi các quan lại trợ thủ của mình như hàng rơm rác, triều đại ấy nhất định phải đi dần đến chỗ diệt vong.
Song nói đến sự diệt vong của nhà Nguyễn, người ta lại phải xem xét đến cả cái quá trình vong quốc mà một triều đại rõ ràng là đang nắm giữ những tiền đề tốt đẹp, lại dần dần phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác, đẩy đất nước vào vòng tay đđô hộ của thực dân Pháp.
Cần nhớ rằng, ngay từ thời Minh Mệnh, Việt Nam đã được coi là một cường quốc khu vực, mà biên giới bao gồm cả Đông Dương. Lúc bấy giờ một nửa Ai Lao đã trở thành phủ Trấn Ninh, được cai trị bởi quan lại người Việt. Chân Lạp trở thành Trấn Tây thành.
Nếu tính từ thời điểm quân Pháp đem pháo hạm diễu võ dương oai ở cửa biển Đà Nẵng năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), với hai yêu sách chính là xin được giao thương và truyền đạo, cho đến khi hịệp ước Patenôtre được ký kết (1885) ghi dấu Việt Nam hoàn toàn mất chủ quyền. Đối với Pháp thời gian không hề ngắn. Ba mươi tám năm là thời gian khá đủ cho Triều đình Huế có thể làm được một cái gì đó để xoay chuyển tình hình.
Ngay từ năm 1847, Trương Đăng Quế, lúc bấy giờ là Thượng thư bộ Binh, thành viên Cơ Mật viện, đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ xâm lược, nhưng biện pháp đưa ra lại rất nửa vời. Đó là thiết lập thêm các đồn biên phòng ở các cửa biển để ngăn ngừa ý đồ đổ bộ của quân Pháp. Thế nhưng, khi chiến sự nổ ra, thì vấn đề tự nó đã có một câu trả lời đích đáng: các đồn biên phòng lần lượt bị hỏa lực của đối phương đè bẹp. Như vậy mấu chốt của vấn đề là nằm ở vũ khí, hay nói chung là các khí tài quân sự. Mà muốn canh tân khí tài quân sự thì phải canh tân giáo dục, để phát triển kỹ thuật, hoặc ít nhất là mở rộng giao thương để có cơ hội mua vũ khí mới. Đy là những vấn đề mà triều đình Huế lúc nào cũng quay lưng, bịt mắt, bưng tai, do bảo thủ một phần, một phần nữa là sự chủ quan, cho rằng quân Pháp không bao giờ dám mạo hiểm đem quân vào nội địa. Không những mơ hồ về ý đồ của địch, bạc bẽo với những bề tôi trung nghĩa, triều đình Huế còn phạm những sai lầm nghiêm trọng trong việc đưa ra các quyết sách cho việc phát triển và gìn giữ chủ quyền quốc gia, mà sai lầm nghiêm trọng nhất chính là sự khước từ canh tân và hội nhập.
Về cơ bản, chính sách đối ngoại của triều đình nhà Nguyễn là thần phục Trung Hoa, còn đối với Tây phương thì chủ trương bế quan tỏa cảng, nghiêm cấm giao thương. Đối nội, nhà Nguyễn cổ súy cho hành động bình Tây sát tả (diệt Tây, giết bọn tà đạo Thiên Chúa giáo). Chính sách bài xích nước ngoài đưa lại một hệ lụy tất yếu là khước từ mọi cuộc trao đổi văn hóa, giáo dục và kỹ thuật. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên, khi triều đình vẫn tiếp tục duy trì cái học tầm chương trích cú, và thi tuyển nhân tài qua những kỳ thi mà sự đánh giá lại chỉ thông qua kiểm tra kiến thức, mà kiến thức cơ bản thì rút ra từ Tứ Thư, Ngũ Kinh. Đánh giá nhân tài qua khả năng thơ phú và khả năng vận dụng kiến thức được rút từ những kinh điển tồn tại từ cả ngàn năm trước. Một nền giáo dục như vậy, lấy đâu ra những nhà khoa học có khả năng phát triển kỹ thuật, lấy đâu ra các tướng lĩnh tài ba để bảo vệ Tổ quốc, lấy đâu ra các khí tài quân sự hiệu quả để đương đầu với giặc xâm lăng? Trong khi người Nhật có vũ khí tối tân, đội ngũ quân lính chuyên nghiệp đã được huấn luyện bài bản, được lãnh đạo bởi những tướng lĩnh từng kinh qua các trường võ bị châu Âu, thì triều đình Huế chỉ có trong tay những đội quân kiểu cũ, vũ khí lạc hậu, và được chỉ huy bởi những quan văn xuất thân là nhà Nho. Các tướng lĩnh này đã trở thành quan võ một cách bất đắc dĩ, bằng cách mò mẫm tự học binh pháp, thuật cầm quân, thuật chỉ huy … thông qua sách vở. Đó là những trường hợp điển hình của Trương Đăng Quế, Võ Duy Ninh, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng ...
Vào thời điểm giữa thế kỷ mười chín, điểm qua các quốc gia lân cận, thì vị thế của Nhật Bản cũng tương đương với Việt Nam, tức cũng chỉ được xếp vào hạng phiên thần của Trung Hoa.
Thế nhưng, từ thập niên năm mươi của thế kỷ mười chín, giới sĩ phu Nhật dã bắt đầu ý thức được nhu cầu cấp thiết của việc canh tân đất nước và đề xướng phong trào duy tân mở cửa giao thương với tất cả mọi quốc gia, kể cả các nước phương Tây. Và phong trào này đã lớn mạnh dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, trở thành quốc sách, với kết quả là đã đưa nước Nhật từ một vị thế tương tự Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ mười chín, trở thành một cường quốc ở thế kỷ hai mươi, được khẳng định bằng chiến thắng vang dội của Nhật trong cuộc chiến tranh với đế quốc Nga năm 1905.
Sự so sánh nào cũng mang tính khiên cưỡng, song lịch sử đã chứng minh rằng số phận của đất nước, tùy thuộc rất lớn vào tầng lớp sĩ phu và giới lãnh đạo. Nếu triều đình Huế có được cái nhìn của các nhà lãnh đạo Nhật Bản, thì hoàn cảnh và số phận đất nước chúng ta chắc chắn sẽ hoàn toàn khác.
Lịch sử là một sự tái diễn không ngừng. Những năm cuối của thập niên 70 và những năm đầu của thập niên 80, thế kỷ hai mươi, đất nước ta cũng đã từng sống lại thời kỳ khao khát đến cháy bỏng một chủ trương canh tân và hội nhập.
Tại thời điểm có thu nhập đầu người của Việt Nam chỉ ngang các nước nghèo nhất châu Phi. Nếu tiếp tục khước từ canh tân và hội nhập, thì có thể đến nay chúng ta sẽ phải còn chịu nhiều khó khăn và tụt hậu.
Nhưng rồi sau cùng, niềm khao khát ấy cũng đã được đáp ứng. Mặc dù cũng giống như sự xung đột giữa hai nhóm quan lại có quan điểm thủ cựu và canh tân hồi thế kỷ mười chín, quá trình đổi mới cũng phải trải qua nhiều truân chuyên, trắc trở để có được một ngày mà Jordan Ryan, Tổng giám đốc chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) có thể tuyên bố trước khi rời Việt Nam: “Quá trình đổi mới ở Việt Nam là hoàn toàn không thể đảo ngược”. Hiệu quả của chủ trương đổi mới và hội nhập đã được trông thấy rõ ràng chỉ sau hơn hai mươi năm. Cũng với đất nước ấy, con người ấy, nhưng trước khi đổi mới, chỉ là một đất nước nghèo đói. Vậy mà đến nay, chúng ta đã có thể vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, cà phê, hải sản đứng hạng nhất nhì thế giới. Còn các tiến bộ về mặt khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hóa đã ngày càng tỏ ra thuyết phục, cho thấy một Việt Nam đang vững bước tiến vào tương lai.
Victor Hugo, văn hào Pháp sống cùng thời với Võ Duy Ninh, từng viết trong Les Miserables: “Với chữ nếu, người ta có thể nhốt cả thành phố Paris vào một cái chai”. Tất nhiên là như vậy. Song không ai cấm con người mơ ước, dẫu về một thời đã qua. Nếu các vua nhà Nguyễn cái được cái đầu của Hòang gia Nhật, nếu Tự Đức có được tư duy của Minh Trị Thiên Hoàng, thì Việt Nam ngày nay có thể là một đại cường trong khu vực. Sẽ không có cảnh làm thuộc địa cho Pháp suốt 80 năm. Sẽ không phải lâm vào các cuộc chiến tranh suốt 30 năm. Sẽ khơng có nhiều vấn đề đau đầu cho ta xung quanh hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, những quần đảo mà triều đình Huế từng phái Hải đội Hoàng Sa đi trấn giữ, từ thế kỷ mười chín.
Đó là điều chắc chắn và đáng tiếc, đó vẫn chỉ là giấc mơ.
(còn tiếp)
Nguồn: Võ Duy Ninh, Tổng đốc đầu tiên tử tiết chống Pháp. Nhóm biên soạn: NguyễnVăn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Văn Thanh.
www.trieuxuan.info
Võ Duy Ninh, hiệu là Trúc Nghiêm, tự là Trọng Chí,
|