CHƯƠNG IV: SỰ BỨC HẠI ĐẠO THIÊN CHÚA DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC, NAPOLÉON III CHO THẤY TÌNH HÌNH CHÍN MUỒI CHO ỦY BAN ĐÔNG DƯƠNG (1848-1858)
Bất chấp những đề nghị của Forth-Rouen rồi Bourboulon, các Công sứ Pháp tại Trung Hoa, Chính phủ Đệ nhị Cộng hòa Pháp vẫn chưa quan tâm đến việc cần phải làm một việc gì đó ở xứ Đàng Trong (Việt Nam).
Napoléon III không hài lòng những tin tức báo cáo khác nhau về xứ Đàng Trong (Việt Nam). Nhưng nhà vua vẫn mong muốn ánh sáng của nước Pháp tỏa rộng đến xứ Viễn Đông. Ông tức giận trước những việc bức hại mà Nhà thờ Thiên Chúa phải gánh chịu, Nhà thờ vốn là trụ cột của chế độ. Ông kiên quyết sử dụng sức mạnh quân sự để cho thế giới phải tỏ ra tôn trọng nước Pháp.
Đợt bức hại mới theo luật của Tự Đức (hành hình cha Schoefler và cha Bonard) ngay từ mùa thu 9-1852, như là thách thức sự can thiệp của nước Pháp. Thế nhưng, Napoléon III đã không đưa ra những kế hoạch chứng tỏ rằng nước Pháp có mặt. Bởi vì ông đang tính toán củng cố cái ngai vàng thiếu an toàn của ông và bởi vì xứ Đàng Trong (Việt Nam) không bị ràng buộc với vấn đề ngoại giao khá hẹp của nước Pháp với nước Anh.
Vả lại, vì tính háo danh, Napoléon III tỏ thái độ hòa hoãn. Nhà vua đang mưu toan thu xếp ổn thỏa việc bình thường hóa những mối quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam. Như việc nhà vua giao nhiệm vụ cho Montigny. Trong khi chờ vua Xiêm ký Hiệp ước thương mại, Montigny đến Cambodge, rồi ghé Đà Nẵng đem “Những tiếng nói hòa bình và hòa giải cuối cùng”. Nhưng Montigny, người hiểu rõ về nước Trung Hoa, lại không biết gì về xứ Đông Dương, các pháo thuyền ông đem theo hầu hết là yếu kém, nên khiến cho cuộc đàm phán của ông không đạt kết quả viên mãn. Viên đại diện toàn quyền của nước Pháp bên cạnh Triều đình Huế (1850-1857) đã thất bại hoàn toàn.
Trong lúc này, để làm yên tâm nước Anh, nước Pháp vừa thắt chặt tình đồng đội ở Crimée nhằm tăng cường cho những sự kiện nghiêm trọng ở Trung Hoa, thế là Napoléon III, ngó lơ lời kêu gọi khốn khổ của những nhà truyền giáo bị hãm hại mà người ta gởi đến cho ông.
Nhưng vì tôn trọng nguyện vọng của họ cũng như nguyện vọng của những nhà ngoại giao và nguyện vọng của những các đơn vị hải quân ở Viễn Đông, nhà vua quyết định thay thế các phương tiện chính trị, những phương tiện tỏ ra không có hiệu lực, bằng những phương tiện cưỡng đoạt. Trước cả nguồn tin về sự tuẫn đạo của Đức ông Diaz ở Bắc kỳ truyền đến châu Âu, nhà vua đã quyết định can thiệp bằng vũ lực. Quyết định này được xác nhận trong cuộc họp chính phủ tháng 7-1857, chẳng bao lâu sau dẫn tới việc hạm đội Rigault de Genouilly đến vịnh Đà Nẵng.
SỨ MỆNH CỦA MONTIGNY TẠI CAMBODGE (tháng 10-1856)
Cuộc chiến Crimée chấm dứt, Chính phủ hoàng gia quan tâm đến tin tức từ Đông Dương. Từ đó luôn dem lại những tin tức đáng lo ngại. Chính phủ đã quyết định gởi một viên đại diện toàn quyền bên cạnh Triều đình nước Xiêm, Triều đình nước Cambodge và Triều đình xứ Đàng Trong (Việt Nam). Người ta chọn De Courcy, Walewski cho chức lãnh sự của Pháp ở Thượng Hải, thế là, Charles Montigny trở về Pháp nghỉ phép. Montigny rời Paris ngày 30-12-1855, sau một tháng lưu lại Roma, ông đến Bangkok vào ngày 9-7-1856. Mục đích chính trong sứ mệnh của ông là ký kết với nước Xiêm một Hiệp ước hữu nghị về thương mại và hàng hải, tương tự như nước Anh và Hoa Kỳ đã ký kết riêng với nước
Xiêm trước đó. Sự thương lượng này không mấy khó, Hiệp ước Pháp-Xiêm được ký kết ngày 15-8-1856, hai bên quyết định trao đổi ở cấp đại sứ.
Từ Xiêm, Montigny đến Cambodge, là nơi ông chỉ phải thu xếp “Vài công việc trong sứ mệnh”. Ngày 5-10-1956, Montigny đến Kampot, một cảng biển nhỏ trong vịnh Xiêm La, Để khôi phục thời gian tốt đẹp trong một nền độc lập đều chỉ trên danh nghĩa, năm 1853, vua An Dương đã gởi những món quà đến vua Napoléon III, và cầu xin sự giúp đỡ của nước Pháp chống lại những sức ép từ xứ Đàng Trong (Việt Nam), cũng như những phiền phức từ nước Xiêm. An Dương cho biết Cambodge sẽ rất sung sướng đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp, nhưng dưới sự chăm sóc của Triều đình nước Xiêm. Hơn nữa, Montigny đã tỏ ra khinh suất ở Bangkok, đó là tin ở quyền bá chủ của nước Xiêm đối với nước Cambodge và vạch trần ý định của nó trên nước Cambodge. Cũng vậy, để đề phòng, chính quyền nước Xiêm đã cài cắm những phái viên mật ở kinh đô Oudong của Cambodge. các phái viên ấy dứt khoát cấm chỉ vua An Dương không được trả lời phái bộ ở
Kampot. Montigny lại không có thời gian đi Oudong, nên giao cho nhà truyền giáo, cha Hestret, nhiệm vụ đưa lên Oudong bản đề nghị một thỏa ước về giao thương và tôn giáo. Vì luôn luôn bị các phái viên của Triều đình Xiêm giám sát rất chặt chẽ, dĩ nhiên An Dương không có thể xem xét ngay bản đề nghị ấy. Khi ở Singapour, sau khi trên đường từ Đà Nẵng trở về, vào tháng 3-1857, Montgny nhận được trả lời từ chối của An Dương. Nhưng Montigny đã hết quyền hạn, vì theo ý kiến của Walewski cần phải tính toán một nước cờ mới cho nước Cambodge.
TÀU CATINAT VÀ TÀU CAPRICIEUSE PHÁO KÍCH CẢNG ĐÀ NẴNG (tháng 9-10-1956)
Chuẩn bị chu đáo cho việc đi quan hệ với nước Xiêm, sứ mệnh Montigny không thể không chuẩn bị những vấn đề liên quan đến Cambodge và xứ Đàng Trong (Việt Nam).
Ra đi từ Bangkok ngày 12-8-1856, tàu hộ tống Catinat, trang bị 10 đại bác chạy bằng máy hơi nước 1400 mã lực, một mình ghé Đà Nẵng vào ngày 16-9-1856, trong khi Montigny còn ở Singapour và Kampot. Chỉ huy tàu Le Catinat là Leulieur de Ville-sur-Arce đã không chuyển thư của Montigny đang mang theo gởi Triều đình Huế, không gởi cho quan chức thành Đà Nẵng cũng không vào đường sông dẫn vào thành phố. Ở đó 40 ngày, e ngại trước hỏa lực của những bãi pháo mà quân đội xứ Đàng Trong (Việt Nam) đã bố phòng cho Đà Nẵng sau đợt thị uy của Lapierre (Lạp Biệt Nhĩ). Cuối cùng, Leulieur đã phản ứng giống như Lapierre, cho nã pháo vào các đồn lũy và cho đổ bộ một trung đội lên bờ loại khỏi vòng chiến 66 khẩu pháo của quân Việt (ngày 26-9-1856).
Rời Kampot ngày 7 tháng 8, tàu hộ tống chạy buồm Capricieuse, chỉ đuổi kịp tàu Catinat ngày 24-10. Chỉ huy tàu Capricieuse là Đại úy tùy tùng Collier, chịu sự chỉ đạo của Leulieur, cuối cùng, Collier tìm được sự liên lạc với các quan chức tại đây, họ bỗng nhiên trở nên rất dễ gần.
Các tài liệu dưới đây kể lại các kỳ điều đình trước mở tấm màn che ra cho Montigny.
(Sđd, các tr. 389, 390)
TỔNG ĐỐC NAM - NGÃI VỚI THUYỀN TRƯỞNG TÀU Không đề ngày viết, biên lai ở mép, ngày 5-11-1856, vũng Đà Nẵng,
Quan Tổng đốc Nam Ngãi của Đại vương quốc An Nam, sau khi đã xin lệnh cấp trên, được phép bàn những việc. Để giữ nguyên vẹn và tôn trọng luật pháp Việt Nam, chúng tôi trả lời sau đây, sau khi đã suy nghĩ kỹ1.
Ông Leulieur, chỉ huy một pháo hạm của Pháp, đã đến đây. Khởi đầu ông đòi hỏi hai vương quốc hợp tác trên cơ sở một Hiệp ước, ông mang theo một bức thư chính thức giải thích những ý định của nước Pháp, buộc phải ký kết, nếu từ chối sẽ xảy ra chiến tranh giữa hai quốc gia ngay lập tức. Ông cũng cho biết trong bức thư ấy rằng những sự kiện cuối năm ở An Nam đã khiến chính phủ Pháp nổi giận sâu sắc, những sự kiện không có lý do và sau cùng, là rất nghiêm trọng mà người ta gán cho chính quyền An Nam (Việt Nam) phải chịu trách nhiệm.
Sau các sự kiện này, Chỉ huy Leulieur vài ba lần đòi trả lời bức thư mà ông ấy đã để lại ở Huế. Quan đầu tỉnh mở bức công hàm ngoại giao chính thức và chiếu theo pháp luật bản quốc hiện hnh, cho là bức thư đã có lời lẽ xúc phạm thô bạo phong tục v cc lễ tục2. Người ta có thể cho
là Hiệp ước đã bị sửa đổi. Thật ra, những người mà chỉ huy Collier gởi đến chính là những người cận vệ của chỉ huy Leulieur....
...
Cuối cùng, ngài đại sứ đã đến với cả lòng tin và ngài phải bảo đảm cùng nhau lập một hiệp ước trên nền tảng pháp luật của cả hai nước chúng ta. Các ngài chỉ huy pháo hạm nước Pháp Collier và Leulieur phải hiểu và họ đã tin cậy.
(Sđd, các tr. 390, 391)
THƯ CỦA CHỈ HUY COLLIER TRẢ LỜI CHO TỔNG ĐỐC NAM NGÃI
Đà Nẵng, tàu Capricieur, ngày 09-9-1866
Thiếu tướng Hải quân Collier, Chỉ huy đoàn tàu S. M. l’Empereur des Francaise, đang bỏ neo trong vịnh Đà Nẵng, đã nhận được thư của quan Tổng đốc Nam Ngãi, thừa lệnh các cấp trên của Đại vương quốc An Nam, trả lời.
Thiếu tướng nhận thấy thư trả lời này có thiện chí hòa giải và tỏ lời cảm ơn ngài Tổng đốc. Phải thấy rằng:
Khi tàu chiến Catinat của nước Pháp cho một chiếc thuyền con không vũ khí lên bờ cảng
Cửa Hiền (Huế) với ý thân thiện, thì bị nghi ngờ lăng nhục. Rằng quan chức ngại bị thương tổn địa vị của mình, cả những ngày tiếp theo vẫn còn e ngại, đã không dám nhận cả bức thư là văn kiện chính thức. Mà việc từ chối không nhận bức thư của Hoàng đế nước Pháp là sự lăng nhục rất nghiêm trọng, chưa từng xảy ra. Rằng tàu Catinat đã hành động hết sức đúng mức và không có cách thực hiện nào khác mà tôi có thể cho phép họ gởi bức thư ấy đi.
Tàu Catinat đã trở lại Đà Nẵng, phía các ngài cấm chỉ mọi liên lạc với nó, người ta giữ khoảng cách với nó như với người bị bệnh hủi. Thế thì làm sao chỉ huy tàu Catinat có thể tin rằng các quan đối xử thân thiện với nó được? Những đồn bảo vây quanh chỗ tàu Catinat neo đậu im lặng thật đáng sợ, trước tiên cho biết chẳng bao lâu nữa sẽ bất thình lình xuất phát những hoạt động rất dữ dằn. Các ngài báo rằng nó chỉ có thể là người khách với những toan tính thù địch. Các ngài không trả lời nó và tàu Catina không thể không tính đến một đợt tấn công sắp xảy ra, một cuộc đổ máu rất kinh khủng. Để tránh một thảm họa như thế, tàu Catinat phải ra tay trước, tấn công và giữ đừng để thiệt hại, không phá hủy chúng, những công cụ có thể làm hại đến tình hữu nghị của Hiệp ước sau này. Thử hỏi các ngài, tàu Catinat liệu còn có thể giữ được bình tĩnh trong trường hợp như thế không?
Đồn bảo của các ngài không bị quân đội Pháp chiếm giữ, chính là sự kính trọng dân tộc các ngài. Nó cũng đã không cắm cờ nước Pháp trên những nơi mà nó làm chủ. Tôi, Thiếu tướng Collier của Hải quân Pháp, hy vọng rằng ngài Tổng đốc sẽ nhận thấy thiện chí của chúng tôi đối với Đại vương quốc An Nam.
Tàu Catinat rõ ràng buộc phải cố nài để có thư trả lời. Nó không được cho biết ý kiến về cách bố trí công việc bên các ngài như thế nào. Làm như thế nào để bên các ngài chịu nhận viên Đại diện toàn quyền của chúng tôi? Các ngài nên biết rằng, một sự đón tiếp không phải phép
dễ dẫn đến chiến tranh đẫm máu.
Thiếu tướng tôi đến Đà Nẵng lần này, điều quan tâm trước hết là ra lệnh tôn trọng phong tục bản xứ, tôn trọng quyền sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Kể từ đây, có lẽ ngài Tổng đốc đã hiểu rõ những việc đáng chê trách về phía người Pháp chưa? Thiếu tướng tôi cho là chưa, và nếu có tín hiệu, chúng tôi sẽ trừng phạt nghiêm khắc kẻ nào gây ra.
Chúng tôi đã nhận được thư của ngài, Thiếu tướng tôi bảo đảm những sự chuẩn bị thân thiện. Sau này, đòi hỏi một sự hiệu chỉnh những gì đã làm thương tổn tập quán và lễ nghi. Thiếu tướng tôi không có quyền làm cuộc điều chỉnh, vì thư không viết về việc ấy. Tuy nhiên, trong nỗ lực hòa giải, tôi hy vọng rằng ngài Tổng đốc hiểu cho, tôi cố gắng để có thẩm quyền trong việc điều chỉnh này. Thiếu tướng tôi tin tưởng về lời hứa hợp tác của ngài Tổng đốc.
Những đồn bảo bên các ngài không hề bị phá hủy, ngay cả việc gây ra một chút hư hao, pháo lớn chỉ bị tháo một vài bộ phận, thuốc súng bị làm ướt. Những người Pháp lấy làm tiếc vì
quân các ngài tại các nơi đồn trú đối xử khá cực đoan với họ. Họ nhận thấy quyền hành thể chế hóa và họ sẽ rất sung sướng khi Đại vương quốc An Nam của các ngài không chỉ để ý đến những bất đồng với nước Pháp chúng tôi.
Với sự biện minh được đưa ra dưới hình thức riêng tư, Thiếu tướng tôi trả lời cũng theo phong cách như thế. Nghĩ rằng thích hợp để chờ vị Đại diện toàn quyền tới thảo luận Hiệp ước và chấp nhận với sự vui mừng đảm bảo những điều đó sẽ chóng diễn ra... Thiếu tướng tôi tin tưởng ở sự trung thực nơi các ngài, mong sự đối xử có qua có lại. Quân đội của các ngài, không nương tay chút nào, vì những thuyền con không vũ trang của chúng tôi đều bị bắt phải dừng lại ngay ở lối vào sông, khiến người Pháp không thể đi chợ mà nếu không có người của các ngài đi kèm, trừ phi có sự bảo đảm cho người dân địa phương có quyền được tự do tiếp xúc với người Pháp. Thành phố Đà Nẵng sẽ không bị quấy rối, nếu ngài Tổng đốc bảo đảm cho điều đó.
Đó là cách thích hợp nhất để tránh phải dùng đến pháo binh có thể làm phai lạt đi lòng tin tưởng của những người Pháp. Thiếu tướng tôi không cho phép người Pháp gây ra bất kỳ tổn hại nào ở đây. Ngay khi Hiệp ước đã gắn kết sự liên minh của chúng ta thì Thiếu tướng tôi sẽ vui vẻ tu bổ lại các đồn bảo và tàu thuyền dưới quyền ngài Tổng đốc.
Julle Collier
(Sđd, các tr. 392, 393, 394)
NHỮNG NGƯỜI ĐỀ XƯỚNG CHÍNH CỦA CUỘC VIỄN CHINH XỨ ĐÀNG TRONG: CHA HUC và GIÁO CHỦ PELLERIN
Qua những mối quan hệ rất tốt với các Bề trên Thiên chúa giáo, họ đã góp phần rất lớn trong việc đầu phiếu bầu Tổng thống Cộng hòa, rồi họ lại theo phe ủng hộ chính quyền Đế chế, vua Napoléon III không thể bỏ qua không xem xét đến việc người theo đạo Công giáo bị ngược đãi ở Viễn Đông. Dần dần, nhà vua chuyển ý kiến của mình về hoạt động can thiệp quân sự ở Viễn Đông.
Ngay từ năm 1855, những dấu hiệu nước Pháp can thiệp vào Nam kỳ đã bắt đầu lộ ra. Chủ tịch đoàn của cuộc séminar (hội thảo) của bộ Ngoại giao đưa ra đoạn thư của Giáo chủ Pellerin đề ngày 3 tháng 7 năm 1855:
“Tự Đức đã sai lầm trong chính sách đối ngoại bằng cách giữ quan hệ chừng mực với nước Pháp chúng ta. Chúng ta không còn thời gian tại một đất nước mà người ta thực hiện lệnh của Minh Mạng không cho nước Pháp được truyền bá đạo Cơ Đốc trong nước ấy. Ngược lại, có vẻ chỉ để bảo vệ các chiến thuyền của chúng ta đi lại trên biển Trung Hoa nên khi Tự Đức dám xử tử hình bất cứ ai trong vương quốc của ông ta, chúng ta có lý do để tin rằng người ta sẽ chỉ đòi ông ta giải thích và vụ việc sẽ đến mức cảnh cáo nghiêm khắc, nhất là lúc này, khi các việc của cuộc chiến Crimée đã chấm dứt”.
Thực tế là gần một năm sau, sau khi kết thúc hội nghị Paris (30-3-1856), vấn đề Đông Dương đã đến lúc quyết định.
Trong số những người đề xướng chính của cuộc viễn chinh của nước Pháp, bằng lập luận và ảnh hưởng của họ, đã tác động mạnh lên các quyết định của triều đình nước Pháp.
(Sđd, các tr. 401, 402)
CHA HUC LÀM NỔI LÊN VẤN ĐỀ XỨ ĐÀNG TRONG
Tháng 01 năm 1857.
“Tu sĩ Huc, cựu ủy ban tòa thánh, vinh dự đệ trình lên Hoàng thượng những nhận xét như sau. Xứ Viễn đông chẳng bao lâu sẽ là sân khấu của những sự kiện nghiêm trọng. Nếu Hoàng thượng quan tâm đến thì nước Pháp có thể đóng vai trò quan trọng và vinh quang ở đó...
[Cha Huc nhắc lại ở đây những khốn đốn của Gia Long, các cứu viện của nước Pháp cho Gia Long và những phần của Hiệp ước tháng 9-1787]...
Cuộc cách mạng 1789 đã khiến chúng ta bỏ quên Nam kỳ cũng như việc thực hiện Hiệp ước... Những mưu toan vụng về chỉ đưa đến việc loại trừ người Pháp đến Cochinchine và chỉ dẫn đến tình trạng ngược đãi những người bản địa theo đạo Thiên Chúa đẫm máu nhất. Ngày nay, tình hình ở đấy đã trở nên tốt nhất cho việc đánh chiếm xứ Đàng Trong (Việt Nam), vùng đất mà theo Hiệp ước 1787, nước Pháp có nhiều quyền lợi... Đánh chiếm xứ Đàng Trong (Việt Nam) là việc dễ dàng nhất thế giới. Xứ ấy sẽ đem lại cho nước Pháp những lợi ích vĩ đại. Trong vùng biển Trung Hoa, nước Pháp có đầy đủ sức mạnh nhất cho việc kinh doanh... Dân cư, lao động ở đấy đang nằm dưới chế độ độc tài tồi tệ, rất thích hợp cho việc truyền bá niềm tin Thiên chúa. Vùng đất ấy đón chúng ta như đón những ân nhân đến giải phóng cho họ, nên chẳng bao lâu sau đó, xứ ấy sẽ trở thành một xứ Công giáo hoàn toàn, và tận tụy nằm dưới sự cai trị của nước Pháp.
Khi đã vào tay của nước Pháp thì Đà Nẵng sẽ là một hải cảng lý tưởng bất khả thất thủ và là một bàn đạp quan trọng để nước Pháp phát triển vào lục địa châu Á... [nêu các thế mạnh về đất đai màu mỡ và sản phẩm đa dạng phong phú.]
... Tóm lại, điều quan trọng hơn cả đối với nước Pháp là trong những hoàn cảnh hiện tại nước Pháp phải có một thuộc địa giàu có và đủ mạnh ở Viễn Đông. Xem xét dưới mọi góc độ thì Cochinchine là cứ điểm phù hợp với nước Pháp nhất.
Chúng ta có quyền và có rất nhiều thuận lợi trong việc đánh chiếm xứ ấy. Đối với sức mạnh của nước Pháp thì nó không thể địch lại, và nó chỉ đem lại cho chúng ta nhiều vinh quang và giàu có rất có lợi cho nước Pháp. Người Anh đang dòm ngó Đà Nẵng, họ sẽ hớt tay trên nước Pháp nếu khi họ có những điều kiện như của chúng ta...”
E. Huc
(Sđd, các tr. 401, 404,405)
ỦY BAN XỨ ĐÀNG TRONG (VIỆT NAM)
( tháng 4 và tháng 5 năm 1857)
(Ghi chép của H.P. Huc, về việc nhà vua Pháp bắt đầu cho thành lập một ủy ban đặc biệt chuyên việc xem xét khả năng chiếm một khu dân cư bờ biển tại vùng Nam kỳ. Dẫn đến việc thành lập Ủy Ban: Gồm Đô đốc Hải quân Fourichon[1] do đích thân nhà vua chỉ định, Đại tá Hải quân Jaurès[2] do Đô đốc Hải quân, Bộ trưởng bộ Hải quân Hamelin giới thiệu, Bá tước Fleury, phụ trách Nội thương do Bộ trưởng bộ Nông nghiệp - Thương mại – Công ích giới thiệu, ngài Cintrat, Giám đốc văn khố lưu trữ bộ Ngoại giao do Bá tước Walewski giới thiệu. Chủ trì Ủy Ban là Bá tước Walweski với Nam tước Brenier[3], đặc sứ toàn quyền ở Naples, bấy giờ đang có mặt ở Paris).
Qua 7 phiên họp từ ngày 28-4 đến ngày 18 tháng 5 tại bộ Ngoại giao, Ủy ban Nam kỳ đã nghiên cứu tỉ mỉ vấn đề về Nam kỳ trên mọi phương diện. Ủy ban đã tính toán đến phản ứng của các cường quốc, nhất là phản ứng của nước Anh.
Đối với Hiệp ước Versaille 1787, tuy Ủy ban Nam kỳ không đi vào những điều khoản cụ thể, nhưng vẫn cho rằng trước đây việc viện trợ các sĩ quan Pháp cho Gia Long, được xem như là bước đầu thực hiện Hiệp ước. Vả lại, việc ngược đãi các nhà truyền giáo người Pháp tại Nam kỳ từ hai mươi năm qua, đã đủ để quyết định một cuộc can thiệp quân sự của nước Pháp. Ủy ban cũng thu thập các báo cáo của Cha Huc, Giáo chủ Pellerin nhân lúc các vị đang có mặt tại Paris, của cha Chamaison[4], của ngài Đốc công Godeaux, người mới đây gắn kết trong sứ mệnh Montigny.
Ủy ban Nam kỳ nhất trí rằng vì quyền lợi của nước Pháp, trên cả ba phương diện đạo lý, chính trị và thương mại, phải bí mật xúc tiến càng nhanh càng tốt việc đánh chiếm 3 thành phố chính của vương quốc An Nam. Cuối cùng, Ủy ban đưa ra kế hoạch hành động do Fourichon và Jaurès lập đề án. Theo đó thì một đạo quân viễn chinh xuất phát từ Pháp sẽ sang đánh chiếm Tourane (Đà Nẵng), Sài Gòn, Kẻ Sở (Hà Nội) và Trung Hoa.
Ủy ban lặp lại sáng kiến về một đội quân mới cho Ấn Độ và nhất trí tán thành việc đặt vùng đất Nam kỳ dưới sự bảo hộ của nước Pháp.
Một ghi chép khác ngày 20 tháng 3 năm 1857 của các thư ký giúp việc Bộ trưởng bộ Ngoại giao không đề tên, nhưng phản ánh rất thật rằng Walewski ít để ý đến những vấn đề Viễn Đông và chỉ chuyên chú vào những vấn đề châu Âu như Guizot trước kia- cho biết là ngay từ đầu bộ Ngoại giao đã phản đối sự chiếm đóng theo thỉnh nguyện của cha Huc. Sau cùng, bản ghi chú viết:
“Cuối cùng, kiến nghị của Cha Huc hình như không được chấp thuận, vì kiến nghị hình như không dính dáng về phương diện quyền lợi và phương diện Hiệp ước, cũng như không hữu ích và cũng không bức thiết đối với nước Pháp. Lúc này, chúng ta có những lợi ích và những vấn đề khá quan trọng đáng phải theo đuổi tại châu Âu, Trung Đông và Tân thế giới, một vai trò khá vất vả và khá phức tạp ở Algérie phải làm tròn... Chúng ta không nên đầu tư may rủi vào những nơi khác, trong lúc này chúng ta
không nên bận tâm, ôm thêm gánh nặng vùng biển từ Ấn Độ đến Trung Hoa cho nước Pháp nữa làm gì.
Tuy nhiên, trước các ý kiến rõ ràng của Ủy ban thì thiên kiến bất lợi này, đã hoàn toàn sụp đổ. Walewski từ bỏ cảm nghĩ ban đầu của mình, và cuối cùng ông đã phát biểu về cuộc chinh phạt, đã khiến Hoàng đế quyết định sử dụng vào tháng 7 năm 1787.
Thành phần cơ bản của Ủy ban đã nhiệt liệt thông qua dự án can thiệp gồm: Đô đốc Hải quân Fourichon, người nhắc lại đề xuất đánh chiếm Tourane ngay từ năm 1838. Đại tá Hải quân Jaurès, người gây ảnh hưởng khó chịu cho Đô đốc Hải quân Laplace, vì trong “tình trạng khốn khổ và mất thể diện”, đã bỏ không mở lãnh sự
Pháp của Eugène Chaigneaux. Cuối cùng, Nam tước Brenier, người điều hành các cuộc thảo luận của Ủy ban Nam kỳ với một tầm nhìn rộng lớn và nhiều uy thế và với vai trò cực kỳ quan trọng mà người thời ấy cho là: “không có ông ấy thì chẳng thành việc gì”.
(Sđd, các tr. 407, 408)
(còn tiếp)
Nguồn: Võ Duy Ninh, Tổng đốc đầu tiên tử tiết chống Pháp. Nhóm biên soạn: NguyễnVăn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Văn Thanh.
www.trieuxuan.info
Martin Fourichon: sinh ngày 10 tháng 1 năm 1809, tại Dordogne, sinh viên trường Collège D’ Angoutême, làm việc ở bộ vào năm 1824. Du khảo vòng quanh thế giới trên tàu Artémise (1836-1840). Fourichon phục vụ lâu năm tại Algérie. (Bugeaud nói về Fourichon: “Viên sĩ quan mà tôi yêu mến và kính trọng hơn cả những gì tôi có thể nói... và là một trong những kỳ vọng trong thời chiến”). Tư lệnh quân Pháp tại Algérie, đón cha Huc từ Singapour đến kênh đào Suez năm 1852, Đề đốc Hải quân tháng 2 năm 1853, Phó Đô đốc Hải quân vào tháng 8 năm 1859, Bộ trưởng bộ Hải quân từ ngày 15 tháng 9 năm 1870 đến 20 tháng 7 năm 1871, sau đó, lại làm Bộ trưởng bộ Hải quân từ ngày 9 tháng 3 năm 1876 đến ngày 17 tháng 5 năm 1877. Fourichon mất ở Paris ngày 24 tháng 9 năm 1884.
John Louis Charles Jaurès: sinh ngày 15 tháng 12 năm 1808 ở Castres. Tham gia vào việc hạ bệ cột tháp Louqsor vào năm 1831. Đi vòng quanh thế giới trên tàu Danade (1839-1843). Năm 1844, Jaurès làm tùy viên cho hoàng thân Joinville ở Maroc. Vào tháng 2 năm 1852 là Đại tá Hải quân, làm Đại tá tùy viên cho Đề đốc Hải quân Langerre trên tàu Janne- d’Arc ở Viễn Đông từ năm 1853-1855, tham gia trận chiến ở Thượng Hải năm 1855. Cùng với Đề đốc Hải quan Rigault de Genouilly, đại diện cho nước Pháp trong Ủy ban quốc tế các nhà kỹ thuật chuyên nghiên cứu về kênh đào Suez. Vào tháng 7 năm 1860 là Đô đốc Hải quân. Chỉ huy sư đoàn Hải quân của Pháp ở Trung Quốc thời kỳ 1862-1863. Vào tháng 12 năm 1864 là Phó Đô đốc. Charles Jaurès mất ở Paris ngày 11 tháng 9 năm 1870.
Đừng nhầm với người em của ông là Constant Louis Jean Benjamin Jaurès sinh ngày 03 tháng 2 năm 1823 ở Paris. Benjamin tham gia các trận đánh Pei-ho và Chí Hòa, nổi tiếng trong quân đội vùng Loire, Đô đốc Hải quân tháng 10 năm 1871, Đại biểu vùng Tard trong Quốc hội nước Pháp. Thượng nghị sĩ vĩnh viễn. Phó Đô đốc tháng 10 năm 1878. Đại sứ tại Madrid (Tây Ban Nha) năm 1878, tại Saint Pétersboug (Nga Sa hoàng) năm 1882. Bộ trưởng bộ Hải quân trong Nội các Tirord ngày 22 tháng 2 năm 1889. Mất ở Paris ngày 13 tháng 3 năm 1889. Hai anh em họ là bác của lãnh tụ đảng Xã hội Jean Jaurès (1859-1914). Chân dung của hai anh em ông được trưng bày ở bảo tàng Castre.
Nam tước Brenier : tên đầy đủ là Alexandre Anatole Francois Henri Brenier. [Đừng nhầm với Tử tước Brenier xứ Motmorand, sau này là công sứ Pháp tại Bắc kinh]. Nam tước Brenier sinh năm 1807 tại Saint-Marcelin. Tổng lãnh sự Pháp tại Varsovie (Ba Lan), tại Lisbonne (Bồ đào Nha), Quyền Bộ trưởng Ngoại giao từ ngày 24 tháng 1 đến 10 tháng 4 năm 1851. Công sứ toàn quyền của nước Pháp ở Naples từ 1855 đến 1860. Thượng Nghị sĩ năm 1861. Mất ngày 27 tháng năm 1855.
Jean Chamaison, sinh tháng 1 năm 1813, ở Grisolles (Torn-et-Garone). Tham gia sứ mệnh Nam kỳ, từ tháng 1 năm 1840, đến năm 1846. Tham gia sứ mệnh ở Nhật Bản từ năm 1871 đến năm 1875. Mất ở Grisolles ngày 26 tháng 6 năm 1880.
(Georges Taboulet, La Geste Francaise en Indochin, tr. 408, 409).
|