tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
15.05.2012
Lương Văn Hồng
Danh nhân Đông Tây Kim Cổ (2)

 3. HOMER


     (810? – 730? tr. CN)


 


Theo nhà sử học Herodote thì nhà thơ Hy Lạp cổ đại Homer sống vào thế kỷ IX trước Công nguyên.  Ông là người được coi là tác giả 2 bản anh hùng ca nổi tiếng “Iliat”  và “Odysses”.  Người ta không biết nhiều về cuộc đời nhà thơ Homer (theo ngôn ngữ Sumer thì Homer có nghĩa là “mù”, có nhiều truyền thuyết về Homer và các truyền thuyết lại mâu thuẫn với nhau. Có 6  thành phố ( Colophon, Sumer, Pylos, Argos, Chio, Athen) giành nhau vinh dự là quê hương của nhà thơ.  Cũng theo Herodote thì Homer sinh ở Smyrne (Ionie),  thân mẫu người Eodie. Lớn lên nhờ quen biết một chủ tàu thủy chở khách nên được theo tàu đi đó đây.  Sự hiểu biết của ông cũng nhờ  đó được mở rộng, ông biết sâu sắc  về truyện phiêu lưu của Ulysse. Homer từng đi du lịch khắp miền Địa Trung Hải, từng sống ở Ithaque, Colophon, Eolie, Chio.  Về sau, ông bị đau mắt nặng và mù. Ông lang thang kiếm sống đó đây bằng làm thơ, kể chuyện.  Ông ốm chết ở đảo Ios và được chôn cất trên bãi biển.  Theo nhiều học giả về Hy Lạp, Homer là nghệ sĩ dân gian có công sưu tầm, chỉnh lý những tác phẩm còn truyền miệng hồi đó như  bài ca  truyền thuyết chiến tranh thành Troy, “Ilias”, “Odysse”. Những truyền thuyết này mãi lâu sau mới được ghi lại bằng văn tự in thành sách.


 Hai bản anh hùng ca “Iliat”, “Odysses” từng được coi là thánh kinh của người Hy Lạp, thường được nhắc tới khi nói về văn học thế giới. 


 


 Homer – cha đẻ của văn học Hy Lạp


Iliat có nghĩa : Bài ca về thành Troy. Tác phẩm có 24 khúc ca với 15.693 câu thơ về đề tài “Chiến trận”, kể lại lịch sử 9 năm trước cuộc chiến tranh Troy, krể lại diễn biến cuộc vây hãm thành Troy của viên tướng  kiệt xuất Hy Lạp Achilles. Viên tướng này bất bình với việc viên chủ tướng Agamenon cướp đọat một nữ tỳ chiến lợi phẩm, bèn đình chỉ chiến đấu và ở lỳ trong lều.  Viên tướng Achilles hết sức xúc động khi nghe tin bạn thân của mình bị quân Troy giết chết, liền đốc quân xuất trận, giết được chủ tướng quân Troy – hoàng tử Hector để báo thù cho bạn mình.  Sử thi Iliat  tả sự khao khát lập công, tài năng xuất chúng, sự hy sinh cao cả của Asin (phía quân Hy Lạp), của Hector (phía quân thành Troy).


Odysses có nghĩa: Bài ca về chàng Odysses. Tác phẩm gồm 24 khúc ca với 12.110 câu thơ với đề tài “Trở về”, kể về cuộc phiêu bạt 10 năm của chiến binh Hy Lạp Ulysses (Odyssey) trên đường trở về quê hương Hy Lạp : Trên đường đi, Odysses chọc mù con mắt độc nhất người khổng lồ Polypheme –con của thần Đại Dương Poseidon, nên bị thần Đại dương thù ghét.  Chuyến trở về của Odysses vì vậy gặp nhiều trở ngại và kéo dài.


Hai bộ sách trên vừa có giá trị văn học, đồng thời lại có giá trị sử học, nên được gọi là Sử thi.  Nó phản ánh trình độ văn minh, phong tục tập quán, quan niệm về đạo đức, tôn giáo của Hy Lạp cổ đại. Hai sử thi trên có ảnh hưởng  to lớn đến văn hóa, giáo dục, được xem là nền tảng đạo đức, là những tác phẩm văn học mẫu mực cho những thế hệ sau ở Hy Lạp. Bielinski đánh giá:


-  Homer là cha đẻ của văn học Hy Lạp.


 


              4. PITTAKOS


          (666-586 tr. CN)


 


Về thời thượng cổ Hy Lạp chúng ta biết rất ít, vì không có sử liệu nào đáng tin cậy cho ta biết chính xác ngày sinh, ngày mất của bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại, nên số liệu ở đây chỉ mang tính ước lệ. Pittakos sinh ở Mytilene- thủ phủ đảo Lesbos- một trong những đô thị sầm uất của Hy Lạp thời thượng cổ. Năm 620, Pittakos được bầu làm quan chấp chính để giải quyết cuộc chiến giữa quý tộc thượng lưu thống trị và dân chúng. Xong việc, ông tiự nguyện rút khỏi chính trường, sống lưu vong.  Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


 


               Những suy tư của nhà hiền triết Pittakos


Là người từng trải, Pittakos rút ra từ cuộc sống kết luận:


-  Con người khó trở nên tốt đẹp!


Ông quan sát thấy:


-  Mỗi người có nỗi bất hạnh riêng của mình.


Vì vậy nên ứng xử:


-  Tha thứ tốt hơn là trả thù.


Ông khuyên:


-  Hãy tính toán cẩn thận thời gian, vì mọi thứ  đều có thời.


 


  5. SOLON


          (640-560 tr. CN)


 


Solon là nhà lập pháp, nhà thơ của thành bang Athen.  Năm 594, Solon được bầu làm người đứng ra hòa giải giữa tầng lớp quý tộc và dân chúng, đồng thời được bầu làm quan chấp chính với những quyền hành đặc biệt để lập lại trật tự ở thành bang Athen. Solon đã khôn khéo giải quyết những vấn đề xã hội bằng miễn nợ, bỏ câu thúc thân thể, ân xá chính trị v.v…   Những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn của Solon có tính chất quyết định tới sự phát triển của Athen: ban hành quyền sở hữu đất đai và quyền thừa kế kích thích kinh tế phát triển; quyền bầu cử và quyền bình đẳng; thành lập Hội đồng đô thị, Hội đồng nhân dân, lập Tòa án nhân dântạo nên thời kỳ đầu tiên của nền dân chủ ở Athen.  Chính sách của Solon được người kế nhiệm Pisistrate tôn trọng, tiếp tục thi hành. Thơ của Solon là triết lý về đạo đức và chính trị.  Solon là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


 


                         Luôn trầm tĩnh, sáng suốt


 


Solon có nguyên tắc:


-  Không bao giờ thái quá.


Solon xuất hiện trong trang phục lộng lẫy của quan chấp chính.  Cerse hỏi:


-  Liệu có cái gì đẹp hơn?


Solon trả lời:


-  Lông của con gà trống, của con chim trĩ, của con công là do tạo hóa ban tặng, nó tự nhiên và đẹp hơn hàng nghìn lần trang phục này.


Và Solon trình bày quan điểm của mình với tư cách là quan chấp chính:


-  Tôi ban tặng quyền hành cho dân chúng ở chừng mực họ cần: không tước đọat danh dự của họ, song không ban quá nhiều quyền hành. Tôi cũng quan tâm tới  những kẻ giàu có và mạnh mẽ hơn mọi người, để không một ai sỉ vả họ.  Tôi đứng giữa, phủ lên họ tấm lá chắn vững chắc của mình, và cấm thuyết phục người khác một cách không chính nghĩa.


Về sự giàu có, ông triết lý:


-  Tôi muốn là người giàu sang, nhưng không muốnchiếm hữu một cách bất lương của cải đó.  Chúng ta không đổi danh dự lấy một túi tiền.  Đức hạnh bao giờ cũng còn lại. Tiền bạc có rồi lại hết.


Ông kết luận:


-  Không thể  làm vừa ý mọi người trong công việc lớn.  Đến già vẫn học được nhiều điều.


 


 


                     6. PERIANDROS


                       (627-586 tr. CN)


 


Peroiandros là con trai, đồng thời là người kế vị cha mình.  Năm 627, Periandros trở thành quan chấp chính ở thành bang Korinth.  Dưới sự trị vì của Periandros , kinh tế, văn hóa, nông nghiệp, thợ thủ công, ngành gốm phát triển thông qua việc Cấm trốn khỏi quê hương thông qua việc chia ruộng của địa chủ cho nông dân nghèo, thông qua việc Cấm buôn bán nô lệ, việc thúc đẩy buôn bán Đông-Tây v.v…  Periandros là một trong bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại. 


 


                                    Quan niệm về cuộc sống


 


Có người đặt một loạt câu hỏi để Periandros trả lời:


-  Tự do là gì?


-  Lương tâm trong sạch


-  Cái gì là tuyệt vời?


-  Bình thản là tuyệt vời.


Periandros luôn tự nhủ:


-  Hãy có chừng mực khi hạnh phúc, hãy tỉnh táo khi bất hạnh.


Ông quan niệm:


-   Khoái cảm là nhất thời, danh dự là bất tử.


 


                         7. THALES


             (624-547 tr. CN)


 


Thales sinh năm 624 trước Công nguyên ở Miletus (Tiểu Á),  Ông là người sáng lập ra trường phái triết học Miletus.  Theo ông, tất cả bắt đầu từ nước, rồi trở lại yếu tố cuối cùng là nước.  Thales là mộtthương gia giàu có.  Ông  đi du lịch nhiều nơi như Ai Cập, Babylon, ông giao du với nhiều nhà thông thái phương Đông, qua đó ông tiếp thu được  nhiều kiến thức mới mẻ và nâng những tri thức đó lên trình độ khoa học. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


Bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại thường được nhắc tới là Thales ở Miletus, Kleobulos ở Lindos,  Periandros ở Korinth, Bias ở Priene, Solon và Pittakos ở Mytilene và Epicharmos. Họ là chính khách, nhà văn, nhà thơ – những người đọc nhiều, hiểu biết rộng, ứng xử nhanh, hóm hỉnh nhưng hợp lý hợp tình, có những câu nói nổi tiếng về những vấn đề thiết thực trong đời sống con người, đời sống xã hội thể hiện sự thông thái. Ta thấy các nhà hiền triết trải nghiệm cuộc sống sâu sắc hơn chúng ta ngày nay, họ không khốn khổ và bất lực bởi áp lực vật chất hay quyền lực, không để nó ảnh hưởng tới cách đối nhân xử thế của mình. Họ sống hết sức nhân văn, giàu trí tuệ với tâm thế an bình, đầy tự tin ở sự thông thái của mình.


Thales là người đặt nền móng cho hình học, thiên văn học, triết học Hy Lạp.


 


 


                  Nhà toán học Thales ở thời kỳ nào?


 


Người ta ước tính, sự phát triển của môn hình học có thể chia làm bốn thời kỳ:  1.  Việc đo chia ruộng đất, tính diện tích, thể tích khi xây dựng nhà cửa, đền đài ở Ai Cập, Babylon, Hy Lạp  trước thế kỷ V  trước Công nguyên dẫn tới hình thành các chữ geometrie  (đo ruộng), geometer  (nhà hình học, con sâu đo), geometry  (hình học).  2.  Hình học được trình bày có hệ thống lôgíc đúng  như một môn khoa học.  Các mệnh đề bắt đầu được chứng minh.  Định lý Thales:  Nếu trên một cạnh của một góc  ta đặt từ đỉnh các đọan bằng nhau và qua các đầu mút của chúng ta kẻ  các đường song song cắt cạnh thứ hai  những đọan bằng nhau” được biết đến ở Hy Lạp  vào thời kỳ này.   3.  Hình thành các môn hình học giải tích do Decartes và Ferma sáng lập ở thế kỷ XVII, hình học xạ ảnh do Decartes và Pascal sáng lập, hình học vi phân do Euler và Monge phát triển ở thế kỷ XVIII. 4. Ra đời hình học Lobatsevxki  (hình học phi Euclide). 


 


                      Vô dụng khi lý thuyết, hữu dụng khi thực hành 


 


Có lần vì mải ngắm các vì sao nên Thales bị ngã xuống giếng nước.  Cô hầu gái người Thracia kể với mọi người:


-  Rằng ông muốn biết xem cái gì đang xảy ra ở trên trời, khiến ông không thể thấy cái gì đang ở dưới chân ông.


Thales nổi tiếng là người biết nhiều, nhưng người ta chê Thales  vì ông quá nghèo (như để chứng minh cho sự vô dụng của kiến thức thiên văn).  Có lần quan sát khí tượng thủy văn, ông biết vụ hè tới sẽ có một mùa bội thu trái ô-liu ở Miletus và Chios.  Thales đặt cọc trước thuê tất cả máy ép dầu ô-liu ở Miletus.  Khi mùa thu họach đến, rất đông người cần thuê máy ép cùng một lúc nên Thales có thể cho thuê máy với giá cao, vì thế ông thu được một món tiền lớn.


 


                  8. LÃO TỬ


            ( 604-531 tr. CN)


 


     Lão Tử  (Laozi – Laotse) là nhà hiền triết Trung Quốc thời Tiên Tần, người sáng lập ra phái Đạo gia.  Lão Tử họ  Lý , tên Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam. Ông người nước Sở, làm quan giữ kho sách.


    Lão Tử là người đưa ra quan niệm chủ nghĩa duy vật về tự nhiên bằng khái niệm ” đạo”.  “Ông nhắc nhở chúng ta,  vạn vật  hình thành, phát triển, biến hoá theo quy luật tự nhiên (được ông gọi là “đạo”) và khuyên mọi người sống, hành động thích ứng với quy luật tự nhiên.


   Đạo gia và Nho học là hai mặt của một vấn đề. Theo Đạo gia :con người là sản phẩm của tự nhiên nên cần thích ứng với quy luật tự nhiên để tồn tại.  Theo Nho học:  con người đồng thời là sản phẩm của xã hội, muốn tồn tại và phát triển  trong xã hội thì phải sống thích ứng với những quy ước (mà ta gọi là tôn ti trật tự : luật pháp). Có lẽ phương châm “tốt đời, đẹp đạo” là lối sống phù hợp trong xã hội, nó là phát kiến rất hay của Việt Nam.


  Tư tưởng của LãoTử có ảnh hưởng sâu sắc trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, đặc biệt ở đời sống tinh thần  trong xã hội  Trung Quốc xưa và nay.


 


                       Phải chăng Lão Tử im lặng


 


     Theo dân gian kể thì mẹ mang thai những 81 năm, nên con gọi là “lão”.  Khi mới sinh ra con trai tóc bạc phơ , tai to.  Vì sinh con trai như vậy dưới gốc cây lý,  nên đặt tên con là Lý Nhĩ (thằng con đẻ dưới gốc cây lý, nó có tai to).


   Lão Tử  bảo:


-   Người nói là người không hiểu gì;  người hiểu biết là người im lặng.


      Lão Tử “im lặng” bằng lập ngôn, bằng sách “Đạo đức kinh”. Qủa thật người tai to nghe nhiều, nói ít (chỉ có 5.000 từ).


 


                 Những gì Lão Tử để lại cho hậu thế


 


    Lão Tử làm quan viết sử  thời nhà Chu. Thấy nhà Chu suy vi, ông quyết định  từ bỏ cuộc sống xã hội và đi về phía Tây. Quan cửa khẩu gặp ông ở đồn biên phòng, xin ông viết để lại cho hậu thế  những gì ông biết. Ông để lại 5.000 từ.  Đó là sách “Đạo đức kinh” ngày nay chúng ta đọc. Lão Tử viết:


-   Đạo sinh ra các vật, đức nuôi dưỡng chúng.


    Ông bảo:


-   Đạo  thường xuyên ở trạng thái “vô vi”, song không có gì mà không phải nó làm ra.


   Viết xong sách, ông ra đi. Người ta không biết rõ, Lão Tử mất lúc nào, ở đâu. Người ta biết,  chính Lão Tử nói câu:


-  Kẻ nào chết mà không bị lãng quên thì người đó là bất tử.


 


                   9. BIỂN THƯỚC


                  ( ??? )


 


Biển Thước ( Bian Shi)  tên thật là Tần Việt Nhân (Qin Yueren), người đất Mạc quận Bột Hải, thời Chiến Quốc (nay là Nhiệm Khâu tỉnh Hà Bắc). Ông học nghề thuốc ở danh y Trường Tang Quân.  Ông có kinh nghiệm chữa bệnh phong phú, từng chu du các nơi hành nghề.  Ông giỏi chữa các bệnh phụ khoa  (Đái hạ y), nhi khoa (Tiểu nhi y), bệnh tai mũi, mắt (Nhĩ mục tê y).  Ông là người đề xướng mạch học. Có khi chỉ nhìn  khí sắc ở mặt  của người ta mà Biển Thước đóan được bệnh, vì tài đó nên ông được người đời gọi là Thần y.


 


                           Cải tử hoàn sinh


 


Biển Thước tới nước Triệu thì nghe nói Thái Tử bị bệnh nặng. Ông cùng hai đệ tử vào cung thì thấy từng đám người tất bật cúng bái tế thần, rồi thấymột chiếc quan tài được khênh ra.  Biển Thước hỏi một viên quan:


-          Xin hỏi, Thái tử tạ thế vì bệnh gì?


Viên quan đáp:


-  Thái tử khí huyết thác lọan, bỗng nhiên sinh ra bạo bệnh.  Chính khí không áp đảo  được tà khí, cuối cùng đã lịm đi và chết.


Thái tử mất được bao lâu rồi?


Chưa đến nửa ngày.


Tôi là Tần Việt Nhân người nước Tề, làm nghề y.  Xin quan bẩm báo với Đại vương, tôi có thể cứu sống Thái tử.


Thấy viên quan lưỡng lự, Biển thước nói:


-  Xin quan hãy nhìn thần sắc của Thái tử, cánh mũi còn phập phồng…


Viên quan liền vào bẩm báo.  Triệu Vương truyền lệnh mời Biển Thước vào cung chữa cho Thái Tử. Ông quan sát tỉ khí sắc của Thái tử,rồi bắt mạch.  Tiếp đến ông lấy kim châm cứu cắm vào 8 huyệt trên thân Thái tử. Một lát sau, Thái tử mở mắt , tỉnh lại.


Rồi Biển Thước kê đơn, dặn cách dùng. 20 ngày sau, Thái tử hoàn toàn bình phục.


 


10. TÔN TỬ


(tk. 6  tr. CN)


 


Tôn Tử  (Sunzi/Sun Wu)  còn gọi là Tôn Vũ/ Tôn Võ.  Ông sống vào khoảng thế kỷ 6  trước công nguyên.  Ông là nhà lý luận quân sự nổi tiếng của Trung Quốc cuối thời Xuân Thu (Chunqui; 770-476 trước công nguyên). Ông sinh trong một gia đình quý tộc có truyền thống quân sự ở nước Tề (Qiguo).  Vì thất bại trong vụ “Điền bào tứ tộc” nên ông phải chạy sang nước Ngô (Wuguo), dâng vua Ngô  13 chương binh pháp, được phong làm tướng. Năm 506 trước công nguyên, ông tham gia và đóng góp quan trọng vào thắng lợi của nước Ngô trong chiến tranh Ngô-Sở, đưa nước này trở thành cường quốc quân sự.  Tác phẩm lưu danh hậu thế của ông là “Binh pháp Tôn Tử”- một bộ sách  được dịch ra nhiều thứ tiếng  trên thế giới  để nghiên cứu.


 


                    Kim chỉ nam của nhà quân sự


 


Tư tưởng của Tôn Tử có nhiều yếu tố duy vật, biện chứng. Ông cho rằng:


-   Thắng bại trong chiến tranh liên quan tới “đạo, trời, đất, tướng pháp”


Ông bảo:


-  Điều kiện quyết định của chiến thắng là “biết người biết mình”.


 


                     Nhân cách và chiến lược


 


Binh pháp Tôn Tử gồm 13 chương, gần 6.000 chữ.  Sách ra đời khi xã hội Trung Quốc chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Có người nói: “Lịch sử thế giới là lịch sử của những cuộc chiến tranh”. Nói đến chiến tranh không thể không nói tới binh pháp.  Binh pháp Tôn Tử phản ánh tư tưởng quân sự thời Xuân Thu ở Trung Quốc. Sách đưa ra 5 nhân tố thắng-bại trong chiến tranh: “Đạo-Thiên-Địa-Tướng –Pháp”. Trong 5 nhân tố, thì  “Đạo” là quan trọng nhất. “Đạo” được hiểu là “được dân đồng tình”. Những yêu cầu về nhân cách của “Tướng” sách đặt ra là:    -  Đánh không vì công, lui không sợ tội. Tướng phải đủ trí, tín, nhân, dũng, nghiêm. 


Về chiến lược chỉ đạo, Tôn Tử viết:


- Thượng sách là phá mưu lược, rồi đến triệt ngọai giao, sau mới đến diệt quân. Không đánh mà khuất phục được quân địch  mới thực là giỏi.  Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh vào nơi địch không đề phòng, vào lúc địch không dự liệu. Khiến địch, không để địch khiến mình.


 


11. BIAS


           (tk. 6 tr.CN)


 


Chúng ta biết rất ít về Bias.  Chỉ biết ông sống ở Priene vào thế kỷ VI trước Công nguyên.  Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


 


 


                 Con người là như thế


 


Bias cho rằng:


-  Những kẻ xấu xa nhất ở đâu cũng là đa số.


Khi dân thành bang Priene chạy lọan, họ mang theo của cải. Riêng Bias không mang theo gì cả. Có người hỏi. Ông đáp:


-  Tôi đem theo mọi thứ của mình bên người.


Trả lời câu hỏi:


-  Điều gì khó?


-  Bình tĩnh chịu đựng tình hình công việc trở nên tồi tệ hơn.


-  Điều gì làm con người khoan khoái


-  Hy vọng


-  Cái gì làm cho con người cảm thấy sung sướng?


-  Nhận được lợi lộc.


-  Ai là cố vấn tốt nhất?


-  Thời gian.


Ông khuyên:


-   Hãy tiết kiệm sự thông thái, vì không có của cải nào đáng tin cậy hơn.


 


12. KLEOBULOS


   ( tk 6 tr.CN)


 


 


Kleobulos là quan nhiếp chính ở Lindos – thành phố cảng nằm ở bên bờ phía đông của Rhodos.  Người ta không biết năm sinh và năm mất của ông, chỉ biết rằng ông sống vào nửa đầu thế kỷ VI trước Công nguyên.  Ông có sáng tác bài hát và câu đố.


 


 


                      Hiểu người, chế ngự mình


 


Nguyên tắc ứng xử của Kleobulos là:


-  Hãy chế ngự khoái cảm!


Ông khuyên:


-  Đừng âu yếm hay cãi nhau với vợ khi có người lạ.  Âu yếm: dấu hiệu của ngu xuẩn.  Cãi nhau:  dấu hiệu của sự điên rồ.


Là quan nhiếp chính thành bang Lindos, Kleobulos biết, người giàu sang lúc nào cũng tiệc rượu.  Người nô lệ hi hữu mới được ngồi bên bàn tiệc.  Nên:


-  Đừng trừng phạt kẻ nô lệ khi bị say, hãy ra lệnh uống tiếp.


Theo Kleobulos thì ở nơi quan trường nên:


-  Hãy thích lắng nghe hơn là thích nói!


Từ kinh nghiệm và quan sát, ông nói:


-  Người nào luôn trung dung thì người đó sẽ hạnh phúc và thanh thản trong cuộc đời.


 


13. ESOPE                                                       


      ( tk. VI tr.CN)


 


Nguyên văn tiếng Hy Lạp thì tên nhà ngụ ngôn Hy Lạp cổ đại viết là Aisopos. Người ta biết rất ít về cuộc đời người nô lệ (ở đất Phrygie thuộc Tiểu Á) được giải phóng tên là Esope (Êdốp), vì vậy đời Esope mang nhiều nét truyền thuyết.  Ông từng đi chu du Athen, Corinth, Delphes.


Esope để lại cho đời sau 400 ngụ ngôn. Ngụ ngôn của Esope được mến mộ ngay từ thế kỷ V  trước Công nguyên, được đưa vào tất cả các nền văn học ở châu Âu và Arập, được Demetrios sưu tập,; được Babrias kể lại bằng thơ.  Ngụ ngôn Esope trở thành mẫu mực cho các nhà ngụ ngôn các thế hệ sau này, trong số đó có Phedre, La Fontaine.


 


                           Hổ chết để lại da,người ta chết để lại tiếng


 


Esope dị hình (gù lưng, bụng phệ, tay ngắn, răng thô, mũi hếch, da đen) đã thế lại nói cà lăm. Theo luật bù trừ của Tạo hóa, bù lại các khiếm khuyết ấy, Esope có trí thông minh tuyệt vời và tài ứng đối sắc sảo.  Hình như câu nói:”Dị dạng kỳ tài”cũng có lý của nó trong trường hợp Esope.  Ngụ ngôn Esope mở đầu cho truyền thống ngụ ngôn trong văn học dân gian và văn học bác học ở châu Âu và Arập.


  Planude (thế kỷ XIV) đã sưu tập truyện ngụ ngôn viết bằng văn xuôi tiếng Hy Lạp của Esope và cho xuất bản trong cuốn sách “Cuộc đời Esope”. Theo Planude, ngụ ngôn của Esope là những câu chuyện rất ngắn gọn, không hề có tham vọng văn chương, kết thúc bằng một bài học luân lý.  Ngụ ngôn của Esope có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần đương thời.  Phải chăng vì thế  mà có hiềm khích không tuyên chiến với các thầy Tư tế của tôn giáo đương thời. Esope bị vu cáo đã xúc phạm  đến việc thờ cúng ở đền Apollo ở thành phố Delphes, bị ném từ  trên núi cao xuống vực thẳm. Thần Apollo (theo Thần thoại Hy Lạp thì Apollo là Thần Anh sáng) bất bình trước hành động tàn bạo đó, đã giáng bệnh dịch xuống trừng phạt dân thành phố Delphes (nguyên văn tiếng Hy Lạp là Delphoi, tiếng Đức lại là Delphi, tiếng Pháp là Delphes).


 


                           Cái hóm của Esope


 


Trong một buổi dạ tiệc, những người cùng ăn một bàn đố nhau và giải câu đố như các nhà thông thái hay làm.  Chủ của Esope cũng tham gia, nhưng tranh cãi (lấy được) như ở trường học.


Thấy chủ mình không có lý mà cứ hăng tiết, Esope nói:


-   Khi Tửu thần ban tặng rượu cho con người thì giót cho 3 ly và chỉ cho cách uống: ly thứ nhất  cho khẩu vị; ly thứ hai cho sự vui vẻ; ly thứ ba cho sự tức khí.  Ông chủ đã uống cạn 2 ly cho khẩu vị và cho sự vui vẻ.  Nếu ông chủ muốn tức khí thì hãy đến trường học.


 


                  Thói quen của nhà ngụ ngôn


 


Các câu chuyện ngụ ngôn hay nói về vật, nhưng ngụ ý rút ra một bài học luân lý cho con người.  Theo Esope cái gì cũng phải học, kể cả khi đã già:


-   Hãy đừng ngượng học hỏi khi về già: học muộn còn hơn là không bao giờ.


Trong cuộc sống, Esope khuyên nên biết chia vui với thành công của người khác:


-   Nếu ai đó gặp may, đừng ghen tỵ với anh ta mà hãy chia vui  cùng với anh ta. Thành công của anh ta cũng là của bạn. Kẻ nào ghen tỵ, kẻ đó tự hành hạ mình.                          


Esope còn cho ta  một lời khuyên về cách đối nhân xử thế giữa kẻ mạnh người yếu:


-   Hãy quan tâm tới kẻ hèn yếu, ban phước cho họ để họ không những chịu khuất phục bạn, mà còn tôn trọng bạn như một người tốt bụng.


Theo Esope, thì hiểu biết mang lại nguy hiểm, nên khuyên:


-  Những gì bạn nghe thấy nơi cung đình thì hãy để chúng chết đi trong thâm tâm bạn, còn hơn là bạn phải chết yểu.


Ông bảo:


-  “Kẻ xấu xa”  đang và sẽ làm việc ác, không vì một cái gì cả.


 


14. PYTHAGORAS


(571-497 TCN)


 


   Nhà triết học, toán học danh tiếng cổ Hy Lạp Pythagoras sinh năm 571 trước công nguyên ở Samos.  Ông không để lại  tác phẩm nào.  Người ta chỉ biết đến ông và trường phái (nghiên cứu triết học và tôn giáo Pythagoras) do ông sáng lập ra qua sách, thư tịch  do học trò ông ghi chép, sưu tầm.


      Triết học Pythagoras là một hệ thống triết học duy tâm thần bí. Ông tin thuyết luân hồi (metepsychosis).  Ông cho rằng linh hồn bị giam hãm trong thể xác có thể nhờ học tập mà trở nên thuần khiết. Do đó ông chủ trương sống thuần khiết, uống nước trong, ăn đồ không cần nấu và luôn tự xét mình. Ông cho rằng, mọi hiện tượng (như trăng tròn, trăng khuyết, nhật thực) trong vũ trụ đều có quy luật của nó.  Pythagoras cũng là nhà toán học. Ông  chứng  minh  định lý  về số đo các cạnh của một tam giác, định lý về tổng các góc trong một tam giác (sau này được gọi là Định lý Pythagores).


 


Niềm tin và tâm linh


 


   Mối bận tâm của các nhà toán học là con số.  Ký hiệu quan trọng của trường phái Pythagores là ngôi sao năm cánh. Khẩu hiệu của trường phái này là “Mọi cái đều là con số”. Tuy là nhà khoa học, nhưng Pythagores lại sửng sốt khi cộng ba con số đầu tiên   1 +2 +3 = 6.  Ông gọi số 6 là con số linh thiêng.  Khi cộng bốn số đầu tiên   1 + 2 + 3 + 4 = 10. Ông gọi con số 10 là con số tuyệt vời.


 


Thấy và thực nghiệm – chứng minh


 


      Về số đo các cạnh của một tam giác vuông,  về tổng các góc trong một tam giác người ta biết từ lâu, nhưng chưa ai  chứng minh  được.  Pythagores đã thực nghiệm và chứng minh điều mà những người trước ông đã biết và chấp nhận:


-   Trong một tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương các cạnh góc vuông.


-  Tổng các góc trong một tam giác vuông bằng 180 độ.


   Sau này người ta gọi chúng là định lý Pythagores về  cạnh huyền , Định lý về tổng các góc trong một tam giác vuông.


 


Nguồn: Danh nhân cổ kim Đông Tây, tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »