tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
07.06.2013
Lê Văn Thảo
Làng lở

Trời trưa nắng gắt. Tôi đang ơ phòng đợi bến xe chợ tỉnh, chờ xe về thành phố. Ngồi cạnh tôi là một ông trung tá trạc năm mươi, tóc hoa râm, người ốm, hai vai nhô cao, vẻ đăm chiêu khắc khổ. Ong ôm sát chiếc cặp vào lòng, chiếc túi xách bỏ lăn lóc dưới đất. Bộ quân phục đã cũ hơi rộng khổ, sờn rách nhiều chỗ, nhưng nút cổ, nút tay áo được gài kỷ. Hai chúng tôi ướt đẩm mồ hôi. Chiếc xe đò nổ máy rì rì nhưng chắc còn lâu mới chạy, tôi thản nhiên ngồi đợi. Những người khác đọc báo, hút thuốc, trẻ con ăn quà chạy giởn, đàn bà tụm lại chuyện vãn. Ông trung tá tỏ vẻ nóng nảy vội vả, luôn coi đồng hồ, ngó dáo dác tìm kiếm. Nắng cứ gắt thêm mãi, đổ sao lốm đốm trên mặt đường. Bến xe vẫn tấp nập, hành khách chen lấn xô đẩy, người bán hàng rong, bán vé số chào mời, lơ xe la hét cười giởn, công an thổi còi, xe lôi quát tháo dọn đường đi, âm thanh hổn tạp loạn xạ, không khí nghẹt thở vì nắng vì bụi, mùi hôi từ các cống rảnh bốc lên.


“Ồn ào quá trời đất”, ông trung tá nói.


“Bến xe vậy thôi”, tôi nói.


Có một đoàn khách mới tới chen đi vào, trông rõ những người nông dân quê mùa ở vùng xa hẻo lánh, già trẻ bé lớn mang vác đủ thứ đồ đạc lỉnh kỉnh của con nhà nông. Đi đầu là một ông già quấn khăn mỏ rìu, trạc bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng, mặt khô quắt lại, nhưng tay chân vẫn còn rắn rỏi. Ong già rảo bước đi lên trước ngó trước ngó sau, khoác tay cho mọi người dừng lại, ngắm nghía hàng xe đậu trước mặt rồi đi dọc theo hàng người dặn dò chỉ bảo. Ong trung tá thờ ơ nhìn đoàn người, chắc lưỡi coi đồng hồ rồi ngó lại chiếc xe đang nổ máy rì rì. Bỗng ông như sực nhớ ra điều gì, hoặc nghe loáng thoáng gì đó, quay lại ngó chăm chăm vào ông già quấn khăn mỏ rìu. Ong trung tá đứng nhìn mãi, trán nhăn lại, rồi ôm sát chiếc cặp vào lòng đi bươn tới, bỏ quên chiếc túi xách dưới chân tôi. Đoàn người nông dân đi vào gian nhà đợi xe, chia thành từng cụm ngồi quây lại với nhau, đồ đạc để chính giữa, kéo khăn quấn cổ lau mồ hôi, nói với nhau những câu chuyện rời rạc đứt quảng. Ong già khăn mỏ rìu đứng lại bên ngoài một lúc rồi đi lẩn vào trong. Ong trung tá mất hút vào trong đoàn người, rồi thấy hiện ra bên cạnh ông già. Hai người nói chuyện với nhau, hơi to tiếng vì đám đông quá ồn. Tôi xách chiếc túi xách của ông trung tá lần đi tới, nghe loáng câu chuyện của họ.


“Có phải ông là Tám Đấu ở làng T. không?”, ông trung tá hỏi, giọng như quát.


“Hả?”, ông già quát lại.


“Tôi muốn hỏi thăm… Hồi xưa tôi có ghé qua đó…”.


“Cái gì? Nói lớn lên, tôi bị lãng tai…”.


“Hồi xưa tôi có ghé qua làng T. của ông. Lâu lắm rồi… Đã hơn hai mươi năm rồi…”.


“Làm gì còn làng T. nữa. Lở hết dưới sông rồi”.


“Là sao?”.


“Lở hết chớ sao. Không còn nhà nào”, ông già nói giọng khoái trá. “Lở ầm ầm suốt ngày đêm, chuyện trời đất mà. Tụi tôi là những nhà cuối cùng bị lở đây”.


Một tốp khách du lịch nước ngoài đi tới, máy ảnh đeo trước ngực, túi lớn túi nhỏ quanh hông, chuyện trò líu lo ồn ào, cạnh đoàn người nông dân ốm yếu xanh xao, quần áo rách bươm vá chằng vá đụp, đám con nít như mang giẻ trên người. Một chị phụ nữ bận áo rách hở cả ngực cứ thế cho con bú. Một bà già bận chiếc áo vải ka-ki bộ đội, một người đàn ông bận áo cánh phụ nữ.


“Kỳ quá!”, ông trung tá nói, giọng đã dịu bớt.


“Cái gì kỳ?”, ông già hỏi.


“Chuyện làng lở ấy mà. Hồi đó tôi cũng có thấy nhiều nhà bị lở, nhưng không ngờ lở mau vậy. Bác kể lại từ đầu coi!”.


“Không có đầu đuôi gì hết”, ông già nói, thích chí vì được kể chuyện. “Cứ lở ầm ầm vậy  thôi. Vui lắm! Mùa mưa nước chảy xiết, đêm đến nghe nhà này nhà kia kêu cứu, đốt đuốc chạy tới thấy nhà con Hai Nọn bị sụt mất cái bếp, chuồng heo cũng bị sập trôi mất con heo nái. Rồi thấy nhà ông Năm Mừng nghiêng đổ, ông ta ở trong nhà chổng mông la làng không sao ra được. Một bữa có đám thanh niên tụ tập lại một nhà nhậu nhẹt, căn nhà nghiêng một nửa chúng vẫn nhậu. Vậy rồi nghe “ầm” một cái, chạy tới thấy căn nhà trôi lình bình giữa sông, đám thanh niên lội loạn xạ chung quanh như bầy chuột.


Ong trung tá hỏi, giọng âm thầm:


“Nhưng không ai sao chớ?”.


“Hả?”.


“Tôi hỏi có ai bị chết đuối không?”.


“Chết thì cũng có”, ông già đáp. “Đó là nhà thiếm Hai Sương, chồng con chết hết trong chiến tranh, ở với đứa cháu nuôi mười hai tuổi. Căn nhà nằm cheo meo từ lâu rồi, nhưng nhà bận mần ăn, đi mót lúa, bắt hôi đìa, lo bữa sáng xong lo bữa chiều, đâu còn thì giờ lo chuyện nhà cửa. Một hôm nghe “ầm” một tiếng, đốt đuốc chạy tới không thấy nhà đâu nữa, người cũng không, mấy ngày sau cũng không thấy xác nổi lên. Vậy là chết mất xác, thương quá chừng”.Ong già quay sang người đàn ông bên cạnh: “Nè Chín Mân, mày nhớ hồi nhà thiếm Hai Sương bị sụt lở không? Thấy thương quá không?”.


Người đàn ông tên Chín Mân đang bận ràng lại chiếc giỏ đồ đạc, đáp cụt ngủn:


“Thương, thương lắm!”.


Ong trung tá hỏi tiếp:


“Làng xóm không có kế hoạch gì sao?”.


“Kế hoạch gì?”.


“Tôi muốn hỏi chánh quyền không có cách gì giúp đỡ bà con dời đi hay sao?”.


“Dời đi đâu? Một lần đời nhà ba năm chết đói. Làng tụi này nghèo lắm, làm ăn đầu tắt mặt tối chỉ đủ ăn, nhà cửa có từ bao đời cứ thế ở, có dư dả chút đỉnh vài ba năm thay mái lá một lần. Dời đi đâu? Tiền đâu mà dời? Mồ mả vườn tược ở đó, bộ muốn dời là đời được sao? Thôi thì chuyện trời đất tới đâu tính tới đo”.


Ong trung tá cúi đầu trầm ngâm. Ong già quay sang tôi bắt chuyện:


“Phải không chú em? Chuyện trời đất biết đâu mà lường. Mà chú em có biết chuyện sông nước không cái đã?”.


Tôi đáp tôi cũng có biết, tôi người quê ở đây. Nhưng chuyện làng lở bây giờ mới nghe. Tôi hỏi:


“Nhà bác bị lở ra sao?”.


Ong già cười vui:


“Qua đâu có gì phải lo. Con cái đi tứ tán hết, căn nhà nhỏ xíu như cái chòi giữ vịt, chỉ chờ sụt là đi thôi. Đêm đó qua ngồi hút thuốc chờ tới nửa đêm, thấy nó rung rinh, qua vấn thêm điếu thuốc nữa, nghe nước bắt đầu chảy ào qua sàn nhà, và rồi căn nhà từ từ trôi đi, nhẹ tênh như giề lục bình. Qua yên tâm ngồi hút thuốc, chờ nó trôi tới đoạn có nhà quen, tháo chiếc xuồng cột sẳn sau sàn nước bơi vào, dễ như đi đò dọc”.


Tôi nghĩ ông già bịa chuyện cho vui. Nhưng ông trung tá thì sa sầm. Ong già thấy vậy bèn gợi chuyện giả lả với ông trung tá:


“Chú em nói có ghé qua làng tụi này. Chú em ở nhà ai vậy?”.


“Tôi tình cờ ghé qua thôi”, ông trung tá nói giọng âm thầm. “Tôi đi trinh sát bị bắn chìm ghe, lội tắp vô một nhà, gặp một người… Bác có biết cô Huệ không?”.


“Con gái hả?”.


“Dà. Nhưng bây giờ cũng già rồi, đã hơn hai mươi năm rồi. Nhà cô ấy ở đầu làng, phía trước có cây gừa lớn”.


“Để qua nhớ coi. Không, không nhớ”. Ong già quay sang người đàn ông ràng chiếc giỏ. “Mày có nhớ con Huệ nào đó không Chín Mân? Con Huệ hồi xưa là con gái, bây giờ già rồi. Không nhớ hả? Lâu quá rồi, nhà cửa sụt lở lung tung không sao nhớ được”. Ong quay sang đám đông nông dân: “Bà con có ai biết cô Huệ nào đó không? Cô Huệ hồi xưa là con gái, bây giờ già rồi, nhà có cây gừa…”.


Có người lên tiếng:


“Có phải cô Huệ bán quán không? Nhà đó thường cho bộ đội ở nhờ”.


Ong trung tá nói:


“Không phải bán quán, cô ấy làm nghề dệt chiếu”.


“Vậy thì không biết”, người vừa rồi nói. “Không chừng lở xuống sông chết rồi cũng nên”.


Ong già nói:


“Không phải ai cũng chết. Chú em rán tìm rồi cũng gặp thôi”.


Ong trung tá nói như phân trần:


“Tôi định về thăm làng từ lâu, nhưng bận việc quá, đâu ngờ làng lở mau như vậy”.


“Đâu ai ngờ, chuyện trời đất mà”, ông già vừa nói vừa theo dõi hàng xe đậu phía trước. “Chỉ có điều nó nhằm làng nghèo tụi này. Số trời đã định, không ở được chỗ này thì đi chỗ khác. Tụi này đang đi xuống miệt Thứ ở Rạch Giá đây.  Nghe nói ở đó có đất khẩn hoang, đất rộng người thưa, bà con có lòng kêu tụi này xuống. Đang ở chỗ nước chảy ầm ầm giờ tới chỗ đồng khô cỏ cháy”.


Người đàn ông ràng giỏ càu nhàu:


“Đâu cũng đất nước mình, chẳng ai để mình chết đói đâu”.


Đám con nít bu lại nghe chuyện một lúc không thấy có gì hay ho, quay ra trầm trồ chiếc quân hàm của ông trung tá:


“Bằng vàng thật hả bác? Bác đi bộ đội lâu lắm phải không? Oi bác già quá!”.


Ong trung tá gượng cười, mặt có thêm nhiều nét nhăn:


“Ừ bác già rồi. Nhưng có thời bác cũng trẻ. Hồi đó bác lội qua được con sông rộng để đến với làng của các cháu”.


Đoàn xe sắp chạy. Tức thì mọi người chộn rộn lên, trẻ con kêu réo, đàn ông thu vén đồ đạc, phụ nữ ôm con vào lòng. Ong già chạy tới lui đôn đốc quát tháo;


“Đừng bỏ quên cái gì, cuốc xẻng tới nơi phải dùng liền. Ai bỏ quên mấy tay lưới đây? Không muốn ăn cá hả?”.


Ong già quay sang ông trung tá:


“Thôi chào chú em nghen. Chú em đã ghé qua làng của tụi này rồi, vậy coi như người nhà. Mai mốt mời chú em tới làng mới tụi này chơi”.


“Nhưng bác với bà con ở đâu? Huyện nào? Xã nào?”.


“Không biết. Xuống đó rồi tính, đâu cũng bà con mình”.


Đoàn người bắt đầu đi, kéo thành một hàng dài, giỏ bàng túi bàng kéo lê trên đường. Ong già đi trước, ngẩng cao đầu quấn khăn mỏ rìu. Ong trung tá đứng lại ngơ ngác một lúc rồi chạy bám theo.


“Vậy làng T. không còn nhà nào hả? Bị lở hết hả? Rủi cho tôi quá! Tôi tính về thăm bao nhiêu lần nhưng cứ lần chần…”.


“Ai cũng vậy”, ông già quay lại, cố nói câu cuối cùng. “Trời bắt lu bu cho đến hết đời thôi”.


“Nhưng tôi biết tìm cô Huệ ở đâu?”.


“Hả?”.


“Hồi đó tôi quen cô Huệ, chỉ mấy ngày rồi ra đi, chưa kịp nói gì, cũng không biết nói như thế nào. Đến nay đã hơn hai mươi năm rồi, tôi không được tin tức gì hết”.


“Chuyện trời đất mà, hợp tan là lẻ thường…”.


“Tôi biết làm sao đây?”.


“Đâu biết làm sao! Thôi chào chú em nghen!”.


Đoàn xe bắt đầu chạy. Ông già bám lên chiếc cuối cùng đưa tay vẫy ông trung tá. Ong trung tá đưa tay vẫy lại. Bụi tung mù mịt, phút chốc đoàn xe đã mất hút. Ong trung trá đứng tần ngần một lúc quay lại giành lấy chiếc túi xách trong tay tôi. Lên xe ngồi suốt chuyến đi về tới thành phố ông ngồi yên không nói một lời…


 


3-1991


Nguồn: Tuyển tập truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »