tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
11.12.2008
Giả Bình Ao
Cây bạch dương ngoài cửa sổ

Cách cửa sổ một trăm bước là cây bạch dương, thân màu trắng, to bằng cái miệng bát, đứng sừng sững. Lúc mặt trời sắp lặn, cây thường run rẩy trong gió, bóng cây đung đưa ở cửa sổ. Cây này ai trồng? Trồng năm nào? Từ khi tôi dọn đến ở ngôi nhà này, nó đã mọc ở đó rồi. Tôi không biết nó sẽ còn cao bao nhiêu, to bao nhiêu, ngôi nhà này tôi được ở đến bao giờ?


Sáng sớm thức dậy, ngồi vào bàn, tôi cắm đầu cắm cổ viết truyện, viết mãi viết mãi mà văn chẳng nhập cuộc. Châm một điếu thuốc hút, nhìn làn khói bay lên nghi ngút, thì chợt nghe thấy tiếng rì rào; ngoảnh đầu lại: Cây bạch dương đang rung rinh trong gió, mặt trên lá dương màu xanh, mặt dưới màu trắng, màu xanh màu trắng hòa quyện với nhau lốm đốm. Ôi, phải chăng đó là linh hồn của chị ấy đang run rẩy, hay đang nói với tôi nỗi ai oán trăm mối tơ vò? Dù thế nào đi nữa, tôi cũng không thể viết được truyện hay như thơ như tranh, cứ ngồi trơ trơ ra đó.


Vợ tôi bước tới, hỏi:


- Lại nhìn cây bạch dương phải không?


Tôi đáp:


- Lại nhìn.


- Ờ, chị ấy sắp được hai năm rồi đấy nhỉ?


- Sắp được rồi!


- Em thấy truyện anh viết mỗi ngày một ít đi, mình dọn đi chỗ khác ở, anh nhé!


- Không, cứ ở đây, ở đây.


Tôi vừa nói, vừa nhìn cây bạch dương. Cây ấy trắng biết chừng nào, nếu sờ tay vào, chắc tay sẽ bám đầy phấn. Mặt trời đang mọc rọi vào cây, trong màu trắng đã ửng lên sắc hồng. Lúc này là thời gian công nhân làm đêm tan ca, chị ấy vẫn đứng ở dưới cây bạch dương ư ?


Đúng thế, trong những năm đó, lúc công nhân đi làm ca đêm về, chị ấy thường đứng ở dưới cây bạch dương này.


Chị ấy đứng đó, tôi nghiêng đầu một cái là nhìn thấy dáng đằng sau của chị. Đó là cái lưng mảnh dẻ, song vô cùng xinh đẹp. Cái áo trắng, sợi dây buộc tóc màu trắng, một bó chăn nệm cao cao đặt trên vai, dường như đè cong người, tựa vào cây như một cánh cung. Tôi bồn chồn: Đây là con dâu nhà nào mà vào lúc này ăn vận như thế, cứ đứng ở chỗ này thế nhỉ? Tôi hỏi vợ. Vợ tôi đang cho đứa con đầy tháng uống sữa đặc, bảo đó là một chị nông dân, ở thôn trước khu nhà ở công nhân, tên là Lưu Tú Vân. Ba năm trước, chồng phạm tội bị vào tù, sau đã chết. Từ đó chị thành bà góa, hàng ngày đến khu nhà ở công nhân giặt vá chăn nệm thuê kiếm tiền, lúc này đang đứng ở đầu đường chờ người đưa chăn nệm.


Ô, tôi đâm ra thương người phụ nữ ấy. Trạc tuổi ấy, dáng dấp ấy, chị ấy đang cần một gia đình ấm cúng, có một người chồng chiều chuộng vuốt ve, thế mà đã trở thành góa bụa ư ? Sáng sớm thế này đã đứng ở đó, liệu buồng ngủ của chị còn chút nào hơi ấm? Ban đêm giặt giũ trong nước, liệu chị nhìn thấy màu gì trong bọt xà phòng? Tôi quay đầu lại, đứa con đã ngủ say đang thở nhẹ. Vợ tôi ngồi trước gương, hỏi tôi phấn thơm bôi đã đều chưa. Tôi thở dài thườn thượt.


Sau buổi trưa hôm ấy, trời đổ mưa. Lúc đầu mưa lay phay, sau đó mưa dày hơn, hạt mưa rơi tới tấp, tạo nên những bong bóng trong vũng nước. Mấy chậu hoa thược dược trước cửa bị nước mưa xối vào, cánh hoa rụng xuống đất lốm đốm đỏ, dần dần teo đi. Tôi thương hoa đẹp, bê vào trong nhà. Lại buồn chẳng biết làm gì, liền khép cửa, bảo vợ ngồi tử tế, bắt đầu đọc cho cô ấy nghe câu truyện tôi mới viết: “Đêm trăng mênh mông, mùi thơm thầm kín thoang thoảng, trong màu xanh của muôn ngàn bông hoa sen ánh lên phơn phớt màu hồng...”.


Lúc này, có tiếng gõ cửa rất khẽ, có lẽ gõ bằng đầu ngón tay thì phải. Tôi kéo cửa, mành mở ra, một bên vai mảnh vai lọt vào, cái áo trắng và sợi dây buộc tóc màu trắng. Ồ, chị ấy ư? Chị quay người lại, một khuôn mặt nhỏ, trắng cười với tôi. Quả nhiên là chị ấy. Cặp mắt kia, đôi má, cái miệng ấy... lẽ nào lại là con nhà làm ruộng? Thấy tôi ngây người nhìn mình, chị ấy lập tức cúi đầu, hai mang tai phớt đỏ, ở giữa cặp lông mày lập tức nhíu lại, nhưng rồi vẫn ngẩng mặt nhìn tôi, cười bảo:


- Rất xin lỗi vì đã quấy rầy ông.


Chị nói rất dịu dàng, lịch sự. Tôi vội mời chị ngồi, chị vẫn đứng nói tiếp:


- Nghe nói ông là nhà văn?


Tôi cười bảo:


- Không phải đâu, chỉ là yêu thích một chút văn học đấy thôi.


- Thích một chút ư ? Nhìn ông đọc bao nhiêu là sách thế này. - Chị nhìn giá sách của tôi nói - Tôi muốn nhờ ông giúp cho một việc, không biết ông có bằng lòng không?


Tôi bảo:


- Chị khách sáo quá, người như tôi làm được gì mà nhờ.


Chị liền đáp:


- Ôi, biết ông tốt như thế này, tôi quả thật không nên mấy lần đứng trước cửa nhà ông, lại bỏ về. Tôi là Tú Vân, họ nhà bố mẹ đẻ là Lưu. Tôi ở trong thôn trước mặt, chồng tôi...


Chị nói, nước mắt rưng rưng. Tôi vội vàng bảo:


- Tôi biết cả rồi, chị đừng nói nữa. Chị đến mượn tiền phải không?


- Không! - Chị không khóc nữa, hít mạnh nước mũi - Tôi đến nhờ ông viết giúp lá đơn kêu oan cho chồng tôi...


- Đơn kiện ư ?


Tôi vội né tránh ánh mắt của chị, nghe những giọt mưa rơi lộp độp trên mái ngói, tiếng rơi còn to hơn lúc nãy... Tôi ngẩng lên, thấy chị đang nhìn mình, khẽ thở dài, dường như định nói điều gì xin lỗi. Cuối cùng tôi nói:


- Được, được. Nhưng chị phải kể y nguyên sự việc của chồng chị cho tôi nghe.


 Mắt chị sáng lên, bắt đầu kể với tôi. Lúc ấy đứa con tôi khóc, từ lúc sinh ra, mẹ bị mất sữa, hễ thức giấc là nó khóc đòi ăn. Vợ tôi vội vàng đi pha sữa, chị ấy “a” lên một tiếng, đi tới bế con tôi vào lòng, hỏi tôi cháu mấy tuổi. Chị bảo chị không hay biết gì. Tiếp đó, chị khen đứa bé bụ bẫm, chắc phải nặng bốn năm kí. Tôi bảo chị đặt đứa bé xuống, chị không nghe. Vỗ vỗ đứa bé trong lòng, chị nói:


- Anh ấy nhà tôi là một người thật thà nhưng cương trực. Thời buổi này phàm việc gì không làm được thì tránh, song anh ấy thì ăn nói không giữ mồm giữ miệng, tôi cứ lo lo sẽ có chuyện xảy ra với anh ấy. Quả nhiên sợi dây thừng đã bị đứt từ chỗ thắt nhỏ lại.


Nói đến đây, chị đột nhiên dừng lại, hất mặt về phía cửa sổ ra hiệu với tôi, rồi cao giọng lại khen con tôi tóc thưa, chị bảo lông thưa người sẽ thông minh, lớn lên sẽ nối nghiệp của bố. Tôi còn đang băn khoăn, thì cửa bị đẩy ra, một tốp người đi vào. Đó là mấy người bạn văn chương của tôi, hôm nay lại đến nói chuyện văn học. Tôi rất phục tính nhanh nhạy của người đàn bà này. Chị đã đứng dậy từ bao giờ, bế con tôi nép sang một bên. Tôi cười bảo chị:


- Chị xem, hiện giờ tôi không được rảnh, chờ chúng tôi nói chuyện xong, chị đến nói tiếp vậy.


Chị gật đầu, thơm đứa trẻ một cái, rồi cúi đầu đẩy cửa đi ra.


Chúng tôi nói chuyện văn chương, đương nhiên tôi đọc truyện mới sáng tác của mình. Các bạn văn xưa nay mê bút pháp của tôi. Khi tôi đọc xong một đoạn, ai cũng đập bàn khen: “Hay đấy!”. Họ bảo, quả thật tôi là nhà thơ, dưới ngòi bút của tôi, mọi thứ đều biến thành thơ thành tranh; lại thảo luận quan điểm mỹ học của tôi: Tại sao từ đời sống hiện thực đã phát hiện nhiều cái đẹp như thế? Đứa con tôi không chịu chơi, lại khóc. Vợ tôi vừa cho con uống sữa, vừa nói:


- Đừng khen anh ấy. Anh ấy hay ho gì cơ chứ? Con không có sữa, bảo anh ấy đi mua sữa đặc, đi cả ngày mua về được mỗi một chai sữa!


Tôi bảo:


- Vậy mà trách được ư? Cửa hàng không có sữa, xếp hàng nửa ngày mới mua được mỗi người một chai. Mình muốn tôi đi ăn cắp chắc?


- Sáng mai anh đi xếp hàng mà mua, không mua được thì con phải nhịn đói đấy!


Tôi mặc kệ vợ, văn pháp này, mỹ học này, khởi, thừa, chuyển, hợp,... vợ tôi không biết; bàn cho mãi tới lúc trong nhà tối dần lại, mọi người mới giải tán ra về. Tôi tiễn bạn bè ra ngoài, trời vẫn đang mưa, nhưng dưới cây bạch dương kia, người đàn bà ấy đang đứng đó, toàn thân ướt sũng. Tôi ngạc nhiên hỏi:


- Chị chưa về à?


- Tôi về rồi, lại đến; các ông còn đang nói chuyện, tôi đợi ở đây.


Tôi vội mời chị vào nhà. Đứng ở cửa, chị vắt quần áo trên người cho khô hết nước, cười hì hì bước vào trong nhà, rồi chị đến cạnh giường, móc túi lấy ra một mét vải hoa, một đôi giày nhỏ, một cái váy đặt bên cạnh con tôi. Tôi vội vàng bảo:


- Sao chị làm vậy? Chị kiếm lại một đồng có dễ đâu!


Chị cười đáp:


- Tôi đâu có nghèo đi vì mấy thứ này. Lúc nãy, quả tình tôi không biết cháu bé mới tròn tháng. Đây là chuyện vui mừng của gia đình, tôi may mắn có dịp được chia vui.


Nói rồi, chị bế cháu bé vào lòng, vừa vỗ cháu vừa nói:


- Tôi xin kể tiếp để ông nghe! Ba năm trước, nổi lên một cơn gió, phải học tập Tiểu Cận Trang, kéo hết người ở ngoài đồng về, suốt ngày môi đỏ răng trắng nói a, hát a. Anh nhà tôi cáu kỉnh nói trước hội nghị xã viên: “Nông dân mình bới đất ăn cơm, khua môi múa mép làm gì? Ăn ngũ cốc không tiêu được hay sao mà bày ra cái trò vớ vẩn ấy”, hôm sau liền bị bắt. Trong trại giam, chúng đánh đập anh ấy, đánh gẫy cả chân, vết thương bị nhiễm trùng, rồi anh ấy chết. Từ sau khi anh ấy chết, chẳng đêm nào tôi ngủ yên, cứ nhắm mắt vào là mơ thấy anh ấy. Anh ấy bị chết oan! Mấy năm nay, ông thấy đấy, ngô lúa ngoài đồng có ra sao đâu! Năm ngoái, mỗi mẫu được một trăm hai mươi lăm kilôgam, hiện giờ ngô lại tăng giá. Trong thôn chúng tôi đã có ba gia đình phải đi ăn xin.


Chị nói, rồi chợt hỏi tôi:


- Cứ thế này mãi, thì nhà này nước này chẳng phải nát bét hay sao, hả ông?


Tôi bảo:


- Nát bét đấy, chị ạ!


- Vậy chồng tôi nói là thật đấy ông nhỉ?


- Vâng, là thật đấy chị ạ!


- Nhưng anh ấy đã bị bắt, bị đánh, bị chết, chẳng phải là bị oan hay sao, hả ông?


- Vâng, bị oan.


- Có nên kiện không ạ?


- Nên kiện.


- Đáng tiếc tôi không biết viết. - Chị lại khóc - Ông là nhà văn, nhờ ông làm ơn viết giúp. Tôi sẽ đi kiện. Tôi nghĩ tôi sẽ được kiện.


Tôi nhận lời viết giúp chị. Tôi bảo viết xong sẽ thay chị trực tiếp gửi tới các ngành hữu quan. Chị tỏ ra rất đỗi vui mừng, cúi gập lưng chào tôi, chào vợ tôi; trước khi đi còn thơm con tôi một cái rõ kêu, rồi xiêu xiêu vẹo vẹo lao đi trong mưa, cái áo trắng ngắn tay bị gió thổi phồng lên, trông như một con bướm trắng nhỏ.


Đêm ấy, tôi giở giấy bút ra viết đơn kiện cho chị. Tôi cứ viết, cứ viết; không viết tiếp được nữa, tôi liền châm một điếu thuốc. Nhìn làn khói bay nghi ngút, tôi nghĩ, mình biện hộ cho phần tử phản cách mạng đả kích Tiểu Cận Trang ư? Mình viết đơn kiện giúp một gia đình phản cách mạng ư? Ngoài cửa sổ, mưa đã thưa nhưng gió còn mạnh; vợ và con tôi vẫn ngủ ngon. Ôi, vợ hiền, con cưng, vợ con đã đem lại cho tôi hạnh phúc và ấm cúng. Cũng bởi tôi đang ngồi bên cạnh vợ con mà hai mẹ con mới yên giấc ngủ ngon như thế này chăng?


Tôi đứng lên, đốt tờ đơn kiện trên ngọn đèn, tro giấy bay lả tả đầy nhà. Tôi đột nhiên sợ hãi, đánh thức vợ, nói rõ tâm tư của mình. Vợ tôi bảo:


- Sao anh không lấy nội dung chị ấy kể viết thành truyện thử xem binh tình thế nào đã? Nếu ban biên tập chấp nhận, thì sự việc sẽ có lối, lúc ấy lại viết đơn kiện.


Tôi vô cùng cảm ơn người vợ thông minh, ngồi viết ngay trong đêm. Tôi sốt sắng viết liền một mạch thành truyện, cảm thấy khoan khoái trong lòng. Quay đầu nhìn, mới biết ngoài cửa sổ trời đã sáng, mà ở dưới cây bạch dương màu xám bạc trong sương sớm kia, có một người đang đứng nhìn sang bên này. Đó là Lưu Tú Vân! Chị ấy đứng ở đấy từ bao giờ? Tôi vội gọi chị đến. Chị dắt một con dê sữa, vú dê giống như cái túi vải treo lủng lẳng ở giữa hai chân sau, nó bước đi loạng choạng. Tôi hỏi:


- Thế nào, chị mua con dê này ư ?


- Không, tôi đem biếu ông đó. - Chị tủm tỉm cười - Ông nhất định phải nhận đấy, một ngày có thể vắt được một kilôgam sữa, đủ cho cháu uống.


- Không được đâu, chị ạ! - Tôi nói - Sao tôi có thể nhận quà của chị cơ chứ ?


- Ông giúp tôi như vậy, chỉ cần ông nhận chút quà của gia đình loại người như tôi, thì đêm tôi ngủ mới yên tâm. - Chị nói - Tôi cũng từng có con; khi mang thai, bố cháu đã mua con dê này. Sau đó bố cháu ra đi, đứa con sinh ra, con dê này đã nuôi nó... Nhưng chỉ một trận ốm, con tôi đã qua đời.


Tôi không nói gì thêm, rót trà mời chị uống. Chị hỏi đơn kiện đã viết xong chưa. Tôi né tránh ánh mắt của chị, nói đã viết xong, lát nữa sẽ gửi đi. Chị mừng quýnh, mồm niệm Phật, chân tay lúng túng không biết để vào đâu. Chị bảo sẽ tự tay đem đi gửi.


- Ông là người tốt, ông quả thật là người tốt.


Chị cảm ơn. Khi bước ra, đầu chị va vào cánh cửa, nhưng chị không xoa bóp, cười với tôi rồi chạy đi. Tôi đột nhiên như mất hồn, đuổi theo chị nhưng không gọi lại được. Tôi nhìn theo bóng chị mặc áo trắng, đang hớn hở giơ cao bức thư, rồi khuất dần ở cuối ngõ nhỏ.


Từ đó, hàng ngày chị đến đưa chăn nệm cho công nhân, thường tạt qua nhà tôi, hỏi tin đơn kiện. Lần nào đến, nách chị cũng kẹp một bó cỏ non cho con dê nái.


Cuối cùng một hôm, lúc chị đứng dưới cây bạch dương giao chăn nệm, thì người bưu tá đến đưa thư cho tôi. Chị đã cầm vào nhà, hỏi tôi có phải chuyện đơn kiện. Tôi nhìn bức thư, trả lời rằng đó là của ban biên tập. Tôi xúc động tới mức tay cứ run run. Tôi bóc ra, bên trong có kẹp một lá thư. Thư viết: “Tác phẩm loại này không những không thể đăng, mà còn phải bị phê phán. Xét thấy anh là tác giả lão thành, luôn có tác phẩm hay, nên gửi trả lại bản thảo. Mong anh rút ra bài học, xin chớ có đi đường vòng trong văn học”. Tôi thầm kêu khổ trong lòng, từ từ ngồi xuống mép giường, nhưng tôi vội nói ngay:


- À, có tin rồi, có tin rồi đấy!


- Trên nói thế nào, hả ông? - Chị ôm con tôi sốt sắng hỏi.


- Trên bảo là... - tôi bắt đầu bịa - họ đã xem và cảm thấy oan uổng, phải nghiên cứu xử lý lại. Họ bảo sẽ gửi đơn kiện này tới ngành hữu quan xem xét. À, có hy vọng rồi chị ạ.


- Có hy vọng rồi! Có hy vọng rồi! - Chị vui mừng nói với đứa trẻ trong lòng, rồi nâng đứa bé lên cao quay trên tay, cười sung sướng.


Chị cười rất tươi. Tôi không biết đứa con của chị có xinh đẹp như chị không. Khi chị nói nhỏ với chồng rằng chị đã có thai, không biết nụ cười ấy có tươi như thế này không? Tôi bảo:


- Đơn kiện này để đây tôi gởi đi cho. Gia đình chị còn những ai nữa?


- Mẹ đã chết từ lâu, chỉ còn bố già ho suyễn quanh năm. Con tôi mất được ba tháng thì bố già ốm nằm đó, sau đó ho không ra đờm và qua đời. Mọi người đều ra đi, chỉ còn lại tôi -  một con cua không càng trơ trọi.


- Chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?


- Tôi tuổi gà, qua sinh nhật mười sáu tháng bảy này thì ba mươi mốt tuổi, ông ạ!


- Chị còn trẻ đấy. - Tôi nói - Có một câu, không biết có nên nói hay không?


Chị cụp mi mắt xuống:


- Ông là ân nhân, còn có điều gì mà không nên nói cơ chứ? Thời buổi này, việc gì tôi cũng chịu đựng được, xin ông cứ nói.


- Hiện nay người thật thà khó sống lắm, huống hồ một người góa bụa như chị? Nếu chồng chị còn sống, chịu khổ đến mấy, chị cũng có hy vọng. Bây giờ người không còn, cuộc sống về sau còn dài, có lẽ chị nên đi bước nữa sẽ tốt hơn đấy.


Nước mắt chị ròng ròng, cứ từng giọt từng giọt chảy trên má. Chị nói:


- Tôi đâu không nghĩ đến điều ấy? Tôi còn trẻ, tuy không xinh đẹp lắm, song cũng gọn gàng, thế nào cũng có người lấy. Nhưng tôi ra đi một cái, thì chẳng còn ai để ý tới nỗi oan uổng của gia đình này. Nhiều người đến mai mối, tôi đều từ chối. Tôi muốn làm cho rõ sự việc của anh ấy. Anh ấy nằm dưới đất được yên thì tôi ra đi cũng an lòng.


Chị nói và lại khóc. Tôi và vợ tôi cũng khóc. Chị vội lau nước mắt, đứng dậy nói:


- Tại tôi không phải, đã làm ông bà không vui. Tôi phải đi đây. Ông lại gởi giúp lá đơn kiện ấy, tôi chờ tin tốt lành.


Nói xong chị lại cười.


Cái cười ấy khiến tôi lâu lắm không khôi phục được tâm tư tình cảm. Tôi không có dũng khí bảo với chị ấy rằng bức thư gửi đi không phải đơn kiện, mà là bản thảo câu truyện; cũng không có dũng khí gởi câu truyện đi nữa.


Ba ngày sau, chị lại đến nghe ngóng tin tức. Tôi sợ tới mức không dám gặp chị, không dám giữ chị, đành đứng trong rèm trúc nói ra:


- Chị đừng đến nữa. Hễ có tin, tôi sẽ đi tìm chị.


Từ đó trở đi, quả nhiên chị không đến nữa. Nhưng sáng sớm nào, từ cửa sổ, tôi cũng nhìn thấy chị đứng ở dưới cây bạch dương kia. Chị mặc áo trắng, buộc tóc bằng sợi dây màu trắng, vác một bó chăn nệm cao cao trên vai, tấm lưng cong xuống, dựa vào thân cây, trông giống như một cánh cung... Tim tôi đau nhói như kim đâm chích. Tôi hận mình bất lực. Tôi vốn tự hào thanh cao vì mình là nhà văn, bây giờ chỉ cảm thấy mình đáng thương, đáng cười biết chừng nào!


Tôi sống như thế đó, hễ nhìn thấy bóng chị ở dưới cây bạch dương kia, là lẳng lặng nấp vào trong nhà với bốn bức tường. Tôi càng ngày càng hút nhiều thuốc lá, dần dần bị mắc bệnh viêm phổi, suốt ngày ho sù sụ. Ban biên tập và bạn đọc gửi thư đến, trách tôi viết văn không được hay như trước. Tôi buồn khổ lắm, cảm thấy quả thật văn chương này khó viết quá.


Nhưng, cuối cùng một hôm tôi phát hiện, dưới cây bạch dương kia không còn thấy chị ấy đứng ở đó nữa. Tôi vui mừng, hỏi vợ:


- Chị ấy không giặt vá chăn nệm cho người ta nữa ư?


- Có lẽ cuộc sống của chị ấy đã khá lên!


- Mong cho chị ấy sống khá hơn!


Tôi cầu chúc cho chị, rồi dắt dê nái đi vắt sữa; chất lượng sữa tốt lắm, số lượng cũng rất nhiều. Chẳng bao giờ tôi còn phải đi xếp hàng mua sữa nữa. Con tôi mỗi ngày một béo trắng ra, hai vợ chồng tôi cũng chẳng còn bao giờ cãi nhau nữa.


Về sau, “lũ bốn tên” bị đập tan. Lúc ấy, các bạn văn chương của tôi đến nhà tôi chăm chỉ hơn. Chúng tôi bàn chuyện cải cách của đất nước, bàn chuyện thay đổi của văn đàn. Tôi đột nhiên nhớ đến bản thảo câu truyện bị ban biên tập quở trách ngày nào, và ngay trong đêm tôi đã gửi nó cho một tập san cỡ bự. Không ngờ được thông báo sử dụng một cách rất nhanh chóng. Tôi mừng vô cùng, tạm gác tác phẩm chất thơ chất họa chưa viết xong, vội vàng đi tìm người đàn bà có tên Lưu Tú Vân ấy. Tôi phải bảo với chị ấy: Phen này quả thật đã có hy vọng.


Tôi sang thôn bên cạnh hỏi thăm. Một ông già nhìn tôi, hỏi:


- Ông là người như thế nào với chị ấy? Người của Cục công an đã đến đây mấy lần.


Tôi nói liều:


- Tôi là họ hàng của chị ấy.


Ông già dẫn tôi đi ra đằng sau làng, nhưng không phải là ngôi nhà, mà là một bãi gai răng sói. Chúng tôi đi vào, một ngôi mộ đất, cỏ non mọc tươi tốt, trong đám cỏ non có một hai bông hoa nhỏ nhàn nhạt, lay trong gió nhẹ.


- Chị ấy chết rồi sao?


- Đáng thương cho chị ấy, người đàn bà góa non trẻ. Phó chủ nhiệm công xã thấy chị ấy có nhan sắc đã mò đến gạ gẫm; chị ấy không nghe, chị bảo vấn đề của chồng chị đã có hy vọng. Thế là ông phó chủ nhiệm bắt chị đưa về trụ sở công xã với tội danh “vẫn còn ngoan cố đeo đuổi”, và hắn đã hãm hiếp chị trong đêm. Sáng hôm sau, chị đã thắt cổ tự tử trên cây hợp hoan trong trụ sở.


Tôi lặng lẽ ra về, ngồi trước bàn viết của mình. Ngoài cửa sổ trời lại mưa, nước mưa hắt vào cây bạch dương, nghe tiếng lá rào rào. Tôi lẳng lặng đem những tác phẩm tình thơ ý họa viết dở dang, xé hết trang này đến trang khác. Tôi nghĩ: Đây là loại văn chương gì? Cần phải tìm linh hồn mình, tìm cuộc đời của mình trong hiện thực, bạn ạ!


Năm 1980


(còn tiếp)


Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »