tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
18.07.2013
Từ Nguyên Tĩnh
Tính người

  Tết trong chiến tranh, không hiểu đơn vị khác được nhiều hay ít, bánh chưng, kẹo thuốc lá, dò chả; tùy theo sự linh hoạt, chạy chọt của quản lý đại đội. Dù có nhiều đến mấy, ra giêng cũng đói và thèm ăn. Bởi tết được thả lỏng dạ dày mất rồi. Ban đầu thì trận địa cao xạ trơ trụi, trên đồi cao chỉ trồng xương rồng để ngụy trang. Sau trồng thêm chuối, đu đủ và mỗi khẩu đội cũng kiếm vài con gà, sẵn thùng đựng đạn ghép lấy làm chuồng để nuôi. Gà dần quen với bom đạn và mau lớn, có khối thức ăn ở sườn đồi. Cũng lạ, có hơi người mà cây cối, con vật thân thiện, yêu đời hơn. Gà gáy như kéo làng quê đến gần. Mấy con gà của khẩu đội cứ lớn dần. Được “nhắm”vào các ngày trọng đại: Quốc khánh, thành lập Quân đội và dĩ nhiên là tết, ra giêng...  cũng có một con cho đỡ thèm khát, vì tết được ăn uống no nê, thả cửa.


Theo ý của khẩu đội tôi, chủ nhật này sẽ “hóa kiếp”cho chú gà cuối cùng, mai kia nuôi lứa khác. Khẩu đội phân công cho mỗi người một việc. Anh nào xuống Giếng Tiên tắm, tiện thể xin rau thơm, kiếm ít bí, dưa chuột độn vào cho thêm phần ấm chân răng. Anh Học cùng quê với tôi, giữ chân số một đạp cò, nổi tiếng là nói dóc, tháo vát nên được phân công làm thịt gà. Mọi chuyện rắc rối là do con người này. Lúc này chưa hề hấn gì. Học nói với lính trực ban:


     - Bay chịu khó quan sát máy bay... chốc nữa tao cho chén thịt gà! Miệng Học nói dẻo quẹo, cười nhạt, khe khé. Cũng chẳng mấy chốc mà con gà được luộc chín trưng ra nơi cái đĩa nhôm hai ngăn đặt trên hòm đạn. Phô ra màu vàng bởi lớp mỡ láng bóng, thật quyến rũ. Lúc nãy, có nhiều ý kiến, nên rang một nửa và luộc một nửa để ăn cơm cho nó đậm miệng. Nhưng Học nói, gà này luộc mới ngon chứ rang mùi thịt bay đi, phí.


     - Thôi tùy "trạng Học", ta nghe vậy! Người ta phong cho Học chức "trạng”cũng có lý. Mọi chuyện ở trên đời, cái gì anh ta cũng biết tuốt.


Anh và tôi cùng quê, được vào một khẩu đội, tưởng là cái phúc của mình lúc chiến tranh này. Nhưng ai ngờ, thật khó chịu. Đại loại mọi chuyện của quá khứ và cái vụng của kẻ “hay ăn nhác làm", không do Học nói ra còn ai vào đó. Học hơn tôi một vài tuổi, học đúp lên đúp xuống, rớt cái oạch, không vào được cấp ba trường huyện. Ở nhà sản xuất, lao động giỏi, cái miệng dẻo, được vác súng đi trực chiến. Lúc kén bộ đội, tôi và Học có giấy gọi. Tôi làm thân.


    - Anh em mình may, cùng được đi đợt này!


    - Tưởng bở, thoát lính để"mồm miệng đỡ chân tay”lấy ai mà ra nơi hòn tên mũi đạn?


    Cái tội hay tấm tức "làm thơ trên bích báo", bị anh ta mổ ra như đọc được bản chất:


    - Nhăng cuội... chỉ được cái hay động lòng... địch nó mò vào không bắn được thì thơ phú làm cái nỗi gì?


     Tôi tức lắm. Nhưng biết kêu ai. Tưởng anh em cùng vào một đơn vị, cùng khẩu đội thì may mắn, nhưng ai ngờ? Đấy, như hôm rồi, bình bầu, xem ai đáng được huân chương, ai không. Tôi chờ xem Học có giơ tay biểu quyết không, nhưng im lặng. Ông trợ lý tác chiến trên cử xuống dự, gặng hỏi:


     - Ý kiến đồng chí Học, số một thế nào? Mãi Học mới thủng thẳng nói nhát gừng.


     - Tôi thấy...nên phấn đấu...  dịp khác nhận huân chương, cho nó thỏa đáng!


     Biết dịp nào là thỏa đáng. Chiến tranh ai lường trước hy sinh vào lúc nào.


     Chuyện hôm nay cũng do vạ miệng mà sảy ra thôi. Mấy lính trẻ nói, con gà nhìn béo thế này mà được ăn nóng sốt thì...hết ý! Có đứa nói có mà ăn hết đầy ra đó. Những hai cân chứ ít à. Thế là có chuyện thách đố nhau. Người nói ăn hết là Học. Người bảo "nói trạng”là cậu Nhàng. Tôi xuýt vào thêm:


     - Có người còn nói lặn xuống đáy sông mà nghe được tiếng bom xèn xẹt dọa nổ kia mà! Tôi nhắc lần Học đem về hai con cá khủng cho chúng mày, chén sướng.


Bây giờ Học nhìn con gà luộc nằm trên đĩa, ứa ra nước mỡ vàng, tia mắt đỏ, miệng cười: - Thật không? Ăn hết thì mất gì?


     - Thì bọn này góp tiền lại gửi "tiếp phẩm”mua con gà lớn gấp đôi. Còn không ăn hết thì phải đền gấp ba. Nào, chơi không? Học ngồi sắp bằng trên công sự, xé phăng ngay một đùi gà. Ê hèm, làm cả bọn nuốt nước miếng đứng nhìn. Không ai dám xin một miếng nào cả. Đánh cáp mà lại. Chỉ cần có ai đó vớ lấy cái cánh, hoặc cái chân là có cớ cho anh ta cù nhầy cãi cối cãi chày. Học cầm cả cái đùi béo ngậy táp những miếng rất to, chờm lên  dính cả mỡ vào mũi. Ăn từ từ khoan thai, đúng là chỉ tập trung vào ăn. Tôi lạy trời máy bay mò vào cho phá đi cái trò dại dột này. Làm cho cả khẩu đội chưng hửng vì bàn chuyện làm thịt con gà tiễn xuân đi. Những người lính quây lại xem ăn thịt gà. Mắt cũng di chuyển theo động tác của hai bàn tay và cái miệng chuyển động của Học. Chắc trong lòng mỗi người cũng nhuốm buồn. Các thứ rau thơm, thức độn để cả trên bờ công sự. Cơm nước dọn ra nhưng còn phải chờ cho xong cuộc hành quyết của Học mới ăn.


       Lúc đầu vào cuộc nom rất kịch. Xé ra một đùi giơ lên như nhăm nhoi mọi người. Da gà láng mỡ, chưa kịp vào miệng đã trôi vào trong dạ dày. Nháy mắt còn trơ lại xương. Anh ta còn nhằn cho tỉ ứa ra, chép chép cái miệng đến điêu. Chiếc đùi thứ hai  xé ra với vẻ háo hức của sự thèm khát lâu ngày chưa được ăn thịt gà. Lúc này mặt không còn đỏ bừng bởi sự cá cược hiếu thắng. Thay vào đó là sự lo lắng bởi còn rất nhiều thịt gà, hai cái lườn béo, cổ cánh còn nguyên nơi đĩa. Tiếng tay Nhàng hay ai đó, nhắc nhở:- Phải ăn thật kỹ đấy, nếu còn dính một chút thịt nào nơi xương là thua cuộc. Yên chí, con gà có vẻ hơi nhỏ ấy chứ. Học nhồm nhoàm nói, tự tin. Nhưng tốc độ cũng bị giảm, khi ăn hết một bên lườn. Cái đói dường như tiêu tan từ lúc nào. Mùi vị ngọt ngào của thịt gà đồi, rắn rỏi phải chạy bán sống bán chết để tránh bom đạn, nên thịt chắc. Hàng ngày nó cũng rất đáo để. Lúc buổi sáng, người lính gác đêm mới chạm vào kẻng báo thức đã gáy lên te te như chiếc đồng hồ chuẩn xác, gọi người dậy tập thể dục, là đúng năm giờ. Ban đầu ta tưởng là ngủ ở làng quê, giật mình nhận ra đang ở trận địa. Có báo động, nó vẫn nhởn nhơ dẫn con mái quanh quẩn ở mấy gốc xương rồng, nhặt những viên sỏi đỏ như ru bi nuốt rất khoan khoái. (Chả thế khi mổ cái mề, các cậu ấy phát hiện ra những viên sỏi tròn nhẵn. Có cậu nói đùa, nếu khoan được lỗ, xâu lại cũng xinh như chuỗi hạt xoàn của mấy cô văn công cho mà xem.) Súng nổ, nó chuồn xuống hầm lúc nào. Khi không còn đạn bom, lúc không ai chú ý, nó cất tiếng gáy. Nghe ai cũng thấy ấm áp một niềm khó tả. Lúc bàn chuyện thịt chú gà khẩu đội, gặp nhiều ý kiến lắm. Để lại cho nó gáy. Thương lắm. Nhưng rồi cũng xuôi. Ra xuân cái bụng ngót. Đằng nào cũng làm bữa tươi. Nuôi lứa khác.


       Trời sập xuống. Mặt trời nhàn nhạt gác trên ngọn núi phía xa. Không ai chú ý đến thời gian. Xúm lại xem Học nhai thịt. Lúc đầu còn sắp bằng, háo hức. Bây giờ hai chân chạng ra cho thoải mái. Không còn hùng hổ như mới vào cuộc. Khẩu đội trưởng đi hội ý từ chỉ huy sở về. Hỏi từ xa.


     - Làm gì mà các cậu xúm lại đó. Không kiếm cút rượu sao?


     - Em đi kiếm về...thì thấy thế này! Thằng Xuân "ba toác”mắt tròn mắt dẹt nói giọng không tự nhiên. Hiểu được cơ sự , không  nói lời nào, Khẩu trưởng ngồi trên bờ công sự lấy thuốc ra châm hút.


      Học cầm lấy cái cổ gà. Hàng ngày nó vẫn nghển cổ lên gáy, to và khỏe. Có đứa bảo cổ cánh nên làm món canh. Học bảo, làm thế lúc luộc nom nó không đẹp một tí nào. Cái cổ gà, lúc khác nhằm nhè gì với cái dạ dày rỗng. Bây giờ đã chứa gần hết cả con gà. Chưa từng ăn nhiều thịt như thế, từ trước cũng chưa hề ăn nhiều thịt như thế. Mắt nhìn mọi người không còn hiếu thắng, cười nhạt và pha trò. Nhàng dọa:


     - Dứt khoát không được để thừa...


     - Nó sẽ no cả tháng ấy chứ!


 Học ngoạm cái đầu gà, sự ngạc nhiên trong mắt mọi người. Miệng mở, muốn cắn cho mau vỡ ra nhai nuốt những miếng cuối cùng. Nhưng không sai khiến được cái miệng mở ra. Hai hàm đã quá mệt mỏi không thể cử động được nổi. Ngồi thừ một lúc, lắng nghe sự chuyển động của dạ dày hay hơi thở nữa chẳng biết. Chỉ cần có ai đó nói động đến sự gớm ghiếc, chắc anh chàng nôn thốc nôn tháo ra cũng nên. Nhưng tay Nhàng lại nói như người chọc tức:


      - Thua đứt rồi, anh em ơi!


      - Thế là phải mua con gà to gấp ba để đền rồi!


      - Hừ! Còn lâu nhá! Học nói quả quyết. Hàm cử động, nghe đến ráu một cái. Anh ta nuốt những miếng cuối cùng ngon lành. Miệng chép một cách đắc thắng. Kể ra còn chứa được nửa con nữa, vẫn cái giọng nói trạng.


       - Không được! Vẫn còn rất nhiều thịt dính ở xương kia kìa...  phải ăn hết chứ!


       - Thôi, dẹp...  dẹp ...dẹp...  trò vớ vẫn! Khẩu đội trưởng bảo. Có ăn cơm đi kẻo báo động thì nhịn đói bây giờ.


      Chúng tôi ăn cơm lầm lũi. Lúc nãy đói cồn cào, bây giờ thấy bãi hoãi chẳng thiết ăn. Khẩu đội trưởng nhấp ly rượu. May mà trời sập tối, không nhìn thấy mặt nhau.


      Cái số tôi không rời được Học. Hai đứa được bổ xung ra chiến đấu ở một đảo tiền tiêu. Lần này ngôi thứ đã được xác định. Học được đề bạt trung đội trưởng, tôi được cử khẩu đội trưởng. Học không nói gì, không nói mày phải quên phứt chuyện vớ vẫn ngày xưa ấy đi. Cả chuyện lúc bình bầu, tao không đồng ý cho chú mày huân chương. Học cứ lẳng lặng mà giơ tay là tôi được chiếc huân chương hạng ba rồi. Tôi trách anh ta tồi, văn hóa kém, nông dân một cục, không muốn cho ai hơn mình. Chỉ nghĩ thôi, nói ra là bị quy cho bằng chết. Ra đảo chuyện đão ngũ, đi vào dân tụt tạt kéo dài giờ cũng không ai phải lo nữa. Tinh thần chiến đấu thì không phải bàn cãi. Máy bay đi đánh ở đâu về bay qua đảo, bom đạn còn thừa ném xuống cho vài quả chơi. Chuyện đánh đấm  Học là tay liều. Bắn đến đỏ nòng không có nước làm nguội, anh ta ra lệnh :


     - Các đồng chí nghe theo tôi!


     Chưa ai hiểu làm trò gì, đã đái xèo xéo vào nòng pháo. Choáng thật. Không ai nói câu nào.


     - Có người lạ đâu mà xấu hổ? Vì đảo này hay vì sĩ diện. Tôi ra lệnh đấy!


  Chúng tôi làm ngưội nòng theo cách ấy. Lúc viết báo cáo thành tích, Học tỏ ra khoáng hoạt nói, mày có vọc vạch viết lách, tao đố viết ra được cái sáng kiến ấy đâu. Tôi tin vào anh ta, gian khổ, xa đất liền, hoặc trái tim rộng mở, bao dung... không biết được.


 Lúc trực bắn may bay, đỡ mệt hơn lúc theo Học đi tuần tra biệt kích, người nhái, có lẻn vào để phá hoại không. Học như trút cái vỏ "trạng”của mình đi, nói giọng tâm sự:


       - Tao không phục cái lần mày được "ứng cử”huân chương ấy, có giận không?


       - À! Cũng không quan trọng gì...quên lâu rồi.


       - Thế mà tao lại nhớ đấy!


       - Thì đã sao nào?


       - Nói cho chú mày biết nhé. Anh quay pháo bắt mục tiêu và dậm cò. Nhưng cũng quan sát xem chú mày có nhắm mắt không. Tao mà nói chú mày “nhắm”, thử hỏi mấy chữ chú mày viết trên báo, còn ai tin nữa không?


       - Nói "trạng”rồi! Tôi cãi lại. Lúc máy bay bổ nhào và pháo bắn, cũng rất dễ do tâm lý thông thường, chớp mắt, phải mở ra liền, nếu nhắm là nhắm tịt luôn.


         Chuyện chở vũ khí ra đảo rất thần tình. Không có xà lan hay tàu. Chúng tôi tháo rời toàn bộ vũ khí “hiện đại”chở bằng thuyền ván, thuyền nan ra và lắp lại. Hồi hộp chờ quân địch mò vào.


       Học không còn cái vẻ bân bẩn như lúc làm số 1. Văn hóa không hơn gì lúc nhập ngũ. Chức vụ làm cho anh ta ý thức được rằng mình đã lớn. Chả gì cũng là trung đội trưởng trung đội hỏa lực mạnh của đảo “tiền tiêu”. Vẫn cái giọng khoác lác như hôm nào, nhưng nghe bây giờ tự dưng thấy có lý.


Chuyện mò mẫm, bắt cá quả là Học có biệt tài. Chỉ vài ba tay lưới với cái mảng bằng cây ghép lại cũng kiếm được cá tôm ề hề để cải thiện. Gió heo may mà nổi lên thì tha hồ mà ăn moi tươi. Những cuộc "quá chén” đồ biến làm sao mà nhớ hết được. Nhưng lại nhớ đến lần ăn thịt bò, cũng do Học đầu têu.


       Đó là trận đánh nhớ đời, tôi nói là nhớ đời, bởi trước đó quân địch đã vờn chúng tôi, như kiểu mèo vờn chuột. Ra vẻ là cù cho con chuột nhàu nhĩ như chiếc giẻ lau, rồi ra vẻ chán nản nằm phơi bụng ra, mắt nhắm lại. Con chuột tưởng là đánh lừa được mèo định chạy thoát thân, liền bị mèo tóm lại và tung lên như người chơi bóng. Không biết so sánh như vậy có đúng không. Có nhiều tàu khu trục của địch xuất hiện. Thoắt ẩn thoắt hiện. Lúc thì từ dưới đáy biển trồi lên, không để yên cho người dân kiếm được mẻ cá. Lại bất ngờ đang yên lành nã pháo vào đất liền và biển cả không biết mơ món nào mà tránh nữa. Từ trên trời từng đàn máy bay như ruồi nhặng đứa ưỡn ẹo liệng chao trêu ngươi làm mỏi mắt người lính quan sát. Sầm sầm những chiếc máy bay có mỏ như nhắm vào trận địa mà bổ nhào. Đạn đã nạp vào nòng rồi, chân đã cho vào nấc chết, chỉ cần dứ một chút là đạn lao lên. Máy bay lại bay ngoặt ra. Tiếng động cơ không từ trên trời mà đâu từ dưới biển sôi lên sùng sục. Nóng nôi, căng thẳng cũng làm cho người sôi lên. Khô như chiếc lá. Người lính đảo có quyền gì mà gọi địch nó vào hay không vào? Nó muốn đánh lúc nào thì mình bị cuốn vào cuộc chơi, tưởng không bao giờ có hồi kết. Đang sôi lên sùng sục, chúng lại không xuất hiện hoặc xuất hiện ở xa để kéo sợi dây căng thẳng căng ra, làm cho ta mệt và thèm ngủ đến nỗi không sao mà cưỡng được. Gió biển và hơi nước ẩm như thể gã phù thủy tung thuốc mê vào không cho mí mắt mở ra được nữa. Lo quá, có lúc tưởng chừng cả hòn đảo đang bị một bàn tay vô hình nào kéo đi để đặt vào một nơi khác, xa vắng và vô định. Có lúc bị rơi vào khoảng hư vô, tâm trạng ai cũng lo lắng đến thắt lòng, liệu lúc địch mà mò vào thì chịu chết cả hay sao? Cái lo lắng ấy không ai dám nói ra lời. Chúng tôi đã thoát ra khỏi sự lo âu, khi tiếng của chiến sĩ quan sát trên mỏm đồi tiền tiêu của đảo hô lớn:


-  Máy bay...  bay thấp...  hướng... bay vào!


- Tiêu! Tiêu! Tiêu!


      Cái buồn ngủ, nỗi buồn hoang liêu tan biến đi như có phép thần. Không ai kịp nói ra điều gì. Cái giật mình thảng thốt ấy có vẻ phiêu diêu, không diễn tả được. Nhiều trận đánh, sau đó và cả về sau này nữa không thể lý giải được. Chuẩn bị rất cẩn thận, bắn đến đỏ nòng pháo, nhưng không rơi được chiếc máy bay nào của địch. Nhưng trận này, như một làn gió thoảng qua, chớp nhoáng. Không bắn kịp thì máy bay ào qua, bom sẽ tung xuống. Không thể giải đáp cho số phận mình sẽ ra sao nữa. Vì bắn nên chiếc máy bay hất bom chệch choạc. Không thể tưởng tượng được niềm sướng vui như thế nào, khi một bó lửa cháy bừng lên trên nền trời, cả cái dù của phi công kịp bung ra cũng dính lửa. Chúng tôi nhảy lên bờ công sự la hét lên vì sung sướng. Đã có bài học trả bằng máu, khi bắn rơi máy bay nhảy lên công sự reo hò, chưa kịp mở miệng đã bị tên lửa của địch phóng vào trận địa. Cán bộ có nhắc nhở chúng tôi cũng mặc kệ. Rõ là cái vui sướng này không thể cưỡng được kia mà.


       Chúng tôi bắn tan xác một máy bay khi hắn bay rất thấp là là trên mặt biển để đánh vào thuyền bè của dân đi đánh cá. Người dân đi đánh cá là đem số phận của mình thách đố với sự giận dữ của đại dương. Sóng to gió lớn, nhưng như loài cá, biết dựa vào những con sóng để tồn tại. Biết nhận ra sau cái sợ là tình thân thiết không sao cưỡng nổi, không muốn lìa xa. Như Học và tôi là người lính cao xạ được điều ra đảo cũng vậy. Lúc đầu thì buồn quá. Ở trận địa trong đất liền dù cô đơn nhưng lúc nổ súng là dân quân, tự vệ nhà máy xuất hiện, hợp đồng chuyên chở người thương vong, hay ít ra thăm thú kết nghĩa quân dân. Ra đảo là chỉ có đồng đội và những con sóng ngày đêm đập vào bờ, khêu gợi nỗi buồn man mác nhớ đất liền. Vì vậy mà những điều không phải với nhau cũng được xí xóa. Sau cái phút huy hoàng lập công ấy, chúng tôi tỉnh ngủ hẳn. Bắt tay vào chuẩn bị chiến đấu rất hào hứng. Mở kho dự trữ ra tăng khẩu phần cho người lính là những hộp thịt. Chỉ những sự kiện trọng đại mới tăng khẩu phần ăn.


Điều đặc biệt đã sảy ra. Học đi kiểm tra trận địa dự bị, vác về một chân của con bò và anh ta còn cởi áo bạt ra gói một gói tướng thịt bò đỏ au. Sướng quá. Không ai biết được tại sao lại có con bò này trên đảo. Chúng tôi có lần cãi nhau, chuyện trong giấc ngủ trưa hay về đêm có nghe tiếng bò “rống”. Nhưng ai cũng bảo đó là hoang tưởng, nhớ nhà mà sinh ra đấy thôi. Không ai lý giải nổi người dân nào vì yêu mến chúng tôi mà đem con bò vượt sóng biến ra thả trên đảo này. Chỉ biết cám ơn và chia cho nhau cái món thịt bò mà Học đem về. Cũng không ai nghĩ phải để dành lại phần thịt. Đêm đó chúng tôi hầu như thức đến sáng bạch. Không phải là vui với chiến thắng mà bụng dạ nổi loạn. Cái bụng không quen chứa nhiều thịt bò nên thì nhau đi ngoài. Khỏe như Học mà phải chống đầu gối khi đứng dậy. Học nói với mọi người: - Lấy lá sim hoặc quả sim nhai nuốt đi là khỏi thôi! Chúng tôi cũng cứ thế mà làm. Sau này lúc ngồi trực ban, Học cười khoái tỉ, vẫn cái giọng nói trạng, tao nói cho chúng mày biết này. Ngày xưa, đi ở cho địa chủ, đói lắm, phải đi củi, bụng không có gì ráo, nên đành phải vào ruộng khoai ven đường móc trộm mà lót dạ. Sợ vải đái ra. Người ta mà bắt được thì tiêu đời. Chỉ lau khoai vào áo quần cho sạch đất mà nhai. Vốc vài vốc nước ở khe mà uống. Bụng không có gì cả nên Tào Tháo nó đuổi. Không có ngọn sim, quả mua có mà chầu ông vãi rồi. Bây giờ ở đảo mình thiếu gì thức ăn, cây cỏ thuốc cả đấy. Có gì là buồn phiền nào. Thằng giặc nào láo, cứ mò vào đi xem nào, có mà đánh cho lộn cổ xuống chứ lại?


       Chúng tôi đã thân nhau như ruột thịt. Ba cái chuyên ngày xưa của Học, cáp con gà ngồi chén, hay đi cắt giây điện ở cái trạm biến thế tưởng là bỏ hoang, bị điện giật suýt chết. Hoặc xuống đồi đi vệ sinh, không nghe trên phổ biến, cứ đè máy bay của ta đi ném bom tàu chiến địch mà bắn, suýt bị kỹ luật... Học nói với tôi, không biết có ân hận hay không nhưng như người ốm: - Ra đến đây mà sống mái với quân thù thì cái gan của người ta to như cái quạt... Băn khoăn về lai lịch làm gì nữa chứ? Tôi nghe anh ta nói, cũng chẳng góp chuyện. Đó là thói quen của người lính biết phận mình. Nhưng có lẽ tôi sai lầm chăng. Trận đánh sau tôi và Học đều bị thương mà không lý giải được. Tại sao lại bị thương được chứ, khi chúng tôi đã tóm gọn thằng giặc vào ống kính, bình tĩnh nhả đạn như thế kia mà. Làm sao đứa đánh lén kia không ai nhận ra kia chứ? Được đưa về đất liền ngay trong đêm. Lên thuyền, ai dám chắc là mình thoát được trong đêm máy bay và pháo giăng, cùng biển mịt mùng. Lúc chia tay Học cầm tay tôi, mắt rơm rớm:


- Thôi anh đi nhá! Cái gì nhớ được thì mày nhớ!


 Học đi huấn luyện vài tháng là thành sĩ quan, chiến tranh cần kinh nghiệm hơn là lý thuyết. Những cán bộ như Học đáp ứng được điều này. Dù cùng quê nhưng khác nhau về công việc và thành đạt nên cũng thành xa lạ. Học định cư ở phía nam nên không mấy khi gặp. Một lần xã tôi được tuyên dương “xã anh hùng”mà con em làm ăn nơi xa được mời gọi về. Học tóc đã bạc trắng, nhưng cách nói trạng thì, có phần gia tăng là đằng khác:


- Thế nào “lão chiến sĩ”nhận huân chương chứ!


- Ta làm một chú “gà khẩu đội”thôi! Tôi đáp lại.


- Cái thằng nhớ dai nhĩ? – Hai đứa mình cũng phải làm một chầu cho bõ những ngày kham khổ ngoài đảo “tiền tiêu”chứ cậu.


 Tôi lấy giọng của phim chưởng nước ngoài gọi.


- Chủ quán đâu, cho một cân thịt bò và một bình rượu ngon.


- Có ngay! Nhận ra khách là người làng nên chủ quán cũng phù họa góp vui.


- Lấy gì cũng được, thịt bò và thịt gà thì xin thôi cho. Học nghiêm giọng, không có vẻ gì là nói trạng:- Mình không thể nào ăn được thịt bò và thịt gà đâu!


- Sao lại thế? Ông bịnh rồi chăng, mà kiêng khem?


- Không phải thế! Có những chuyện, tưởng chừng như chôn chặt vào đáy lòng, ta biết trời đất biết, quỷ thần biết mà thôi. Nhưng không ngờ một nhu cầu nào đó, ta đành cởi lời thề ấy, mà phải nói ra cho người khác, để ta khỏi ân hận, rằng mình đã làm điều gì không phải với đồng đội... Chà ơi! Cái lão Học này, hắn mang cái giọng này từ bao giờ vậy? Học đã kể lại việc làm bí mật của mình cái dạo ở Đảo, không ai ngờ được điều đó là sự thật.


Cậu có nhớ không, Học nhìn tôi tỏ ra nghiêm trọng. Trận bắn rơi máy bay oanh tạc vào Đảo mình ấy. Tao đã kiếm về một chân con bò ấy. Còn có một điều hệ trọng nữa, mình đã gặp một thằng giặc lái Mỹ, hắn nằm ngay cạnh xác con bò hoang không xa. Bụng bảo dạ, đem cái mớ thịt bò về cho anh em làm món ăn rồi huy động người đi mà chôn cất cái thằng Mỹ này sau. Nhưng không hiểu ai xuôi khiến mà mình lại dùng ngay cái hố bom mà hắn thả xuống, lấy đá đắp lên “nấm mồ của tên xâm lược”. Tuy không phải bằng đá hoa cương nhưng cũng là sang trọng nơi biển khơi này. Mình khấn nó thế này. Tao với mày đâu có thù oán gì nhau. Nhưng mày vô lý khi đem bom đạn đến cướp nước tao. Mày nằm lại đây cũng là mồ yên mã đẹp. Khi nào người thân ở quê mày đến tìm thì tao giúp họ đưa về đoàn tụ cùng gia đình.


- Tại sao lại không gọi bọn tôi đi chôn cất? Tôi hỏi Học.


- Tại sao mình lại không bảo các cậu đi chôn cất ư?Tớ không muốn cho bọn trẻ ranh ít tiếp xúc với người chết sợ. Lỡ miệng đứa nào nói ra ma Mỹ, ai dám đi tuần tra ban đêm nữa? Mày còn nhớ không, cái dạo hòa bình bọn tù binh thất trận bị giải đi trao trả, có tên bị chết, chôn tạm ở làng mình. Có người vẫn nói, rằng ban đêm vẫn thấy ma Tây nó ngồi thu lu ở nghĩa địa khóc than đòi về nước. Tôi không tin tưởng mấy về chuyện Học kể nên cãi lại:


- Ông nói trạng với tôi chứ làm gì có chuyện ấy!


- Tao đã khấn thằng Mỹ đó!Tôi nhìn vào mắt Học, không có vẻ gì là đùa cả.


- Ông khấn làm sao?


- Mày có hứa là đoạn đường chiến tranh còn lại, mày sẽ giúp tao đi qua được không hở kẻ xâm lược kia ơi!


- Ông toàn bịa chuyện. Tại sao ông không gọi bọn lính đi chôn cất, hay có lý do gì khuất tất đây?


-        Biết sống chết thế nào mà âm mưu... Tạo sợ chứng kiến xác thằng Mỹ rồi không dám ăn thịt bò nữa. Học nhỏ giọng: Chẳng hiểu thế nào, lại được chuyển về làm du lịch cho Thành phố. Người Mỹ có yêu cầu tìm mồ mả cho lính Mỹ chết ở chiến trường Việt Nam. Anh ta đã giúp cho gia đình nó ra đảo để tìm tên phi công. Lúc đó mới có rượu và hương thắp lên. Học nói được mấy lời gọi là tử tế. Ở xứ mày không quen dùng hương. Chắc dùng rượu. Mày  uống đi rồi về quê. Mấy năm nay mày nằm đây canh đảo và biển trời này. Bây giờ thì mày về với Tổ quốc của mày đi. Tao cũng thấy nhẹ cả người khi mày về được quê hương bản quán.


 Học nói, từ cái lần đánh cáp chén đẫy một con gà và ăn thịt bò sau khi chôn cất thằng phi công Mỹ, không đụng đến thịt gà và thịt bò nữa. Thị hộp, ngửi đến là buồn nôn. Âu cũng là cái tính của anh ta, phát ách lên, hay chuyện đó cũng là nói trạng. 


TNT


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »