tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
19.12.2008
Giả Bình Ao
Điếu văn bà Hạ Ốc

Lời tựa


Trên thế gian này, làm một người đã khó, làm một người đàn bà càng khó, làm một bà góa lại càng khó hơn. Bà Hạ Ốc sống góa bụa. Những năm cuối đời, bà ở ngôi nhà cao to phía tây của gia đình chúng tôi. Chúng tôi gọi bà là bà Hạ Ốc. Mười năm trước, bà bắt đầu được hưởng trợ cấp tuổi già. Từ dạo ấy, bà mỗi ngày một yếu đi, không còn hay ra ngoài. Người khác cũng ít đến nhà bà, chỉ có tôi thường nhớ bà. Mỗi lần từ thành phố về nhà, tôi đều đến thăm bà, nhiều thì đem mấy cân đường đỏ, ít thì xách một gói bánh ngọt. Bà cảm động cứ rưng rưng nước mắt.


Lần này về thăm, rõ ràng bà nguy kịch đến nơi rồi. Bà bảo, chân bắt đầu nhức buốt ghê gớm, nửa tháng nay không xuống khỏi giường lò. Tôi ngồi với bà một lúc, đột nhiên bà đề nghị tôi viết cho bà bài điếu văn. Tuy điếu văn là chuyện sau khi chết, song bà bảo sau khi chết ai sẽ viết cho bà, huống hồ đến ngày ấy, chưa chắc đã gặp tôi về thăm, hơn nữa bà sẽ vĩnh viễn không nghe được điếu văn viết như thế nào...


Tôi đồng ý. Nhưng tôi chỉ biết những chuyện sau khi bà lấy chồng đến ở làng chúng tôi, còn trước đó tôi không rõ. Chỉ nghe nói quê bà ở huyện Sơn Dương, còn cha mẹ như thế nào, cảnh nhà ra sao, lúc còn con gái có chơi bời gì không…, tôi chẳng biết tý gì cả, đành phải viết từ lúc sau khi bà về làm dâu.


Đã từng có người tình, nhưng bà giữ tròn trinh tiết


Chồng bà là ông Bảy của tôi.


Gọi ông là ông Bảy, thật ra chỉ là do bề bậc tôi nhỏ, xuất phát từ lễ phép mà thôi. Trong số người cùng họ ở làng tôi, chối tỷ nhất phải kể tới ông Bảy. Nếu dùng bốn chữ để khái quát về ông, thì đó là: “đần, ngố, chày, lì”. Đã hai mươi lăm tuổi, ông vẫn chưa lấy được vợ. Chuyện này trong làng tôi là xấu hết chỗ nói. Ở địa phương có phong tục: Người đàn ông nào không lấy được vợ, cho dù sống đến tám mươi tuổi, cũng bị coi thường như trẻ con. Tôn trọng hay coi thường, ông Bảy mặc kệ. Chỉ có điều cái sự đàn ông có tuổi chưa vợ luôn dày vò tinh thần ông, làm tính nết ông có phần khác thường, gặp ai ông cũng bảo: “Kiếm cho mình một cô, mình không có điều kiện gì, chỉ cần đàn bà thôi mà!”. Nhưng, như vậy, càng không có người đàn bà nào chịu đến ngồi vào giường lò của ông. Dân làng đều bảo, kiếp này, ông ấy có lẽ phải sống độc thân mất thôi!


Nhưng ông Bảy đột nhiên có vợ, hơn nữa lại cưới ngay tức thì. Ông mối là cậu ông Bảy và anh ruột bà Hạ Ốc. Bà Hạ Ốc vừa bước về làm dâu, bỗng chốc cả làng ầm ĩ, ỏm tỏi cả lên.


Bà hạ Ốc hơn ông Bảy ba tuổi, song nhìn người thì trẻ hơn ông những mười tuổi. Tương truyền, đất và nước ở huyện Sơn Dương tốt tươi, quả nhiên bà trắng hồng, mịn màng, non tơ như  trứng gà bóc. Cặp mắt to lấp lánh lúc nào cũng chớp chớp, cái lưng ong thót hẳn lại, bước đi uyển chuyển, dịu dàng. Nhất là đôi chân bé cỏn con, xinh xẻo, đi không gây tiếng động, về không sẩy tiếng vang, lanh lẹn như gió thổi trên mặt nước. Người ta reo hò như vui múa kỳ lân sư tử, nhìn qua bức rèm thưa. Cả làng, không có ai tậm tịt như ông Bảy, vậy mà vợ anh nào cũng không xinh đẹp bằng vợ ông Bảy. Đầu tiên, người ta ngạc nhiên, sau đó thì ghen đỏ mắt lên, cuối cùng thì hận, một số tỏ ra bất bình ấm ức.


- Nhìn con mụ ấy chẳng khác gì yêu tinh, nom dáng chẳng có chút nào lương thiện, làng mình về sau rồi sẽ rối tinh lên cho mà xem!


Các bà già trong làng ngồi khâu vá với nhau bàn tán như vậy.


- Đôi mày cặp mắt lúng liếng thế kia thì ai ngồi yên được cơ chứ? Con mụ này chắc chắn là đồ đĩ rài đĩ rạc. Ông Bảy lấy nó không tan nhà nát cửa, thì tớ đi đầu xuống đất.


Bọn trai tơ trong làng nghiến răng nghiến lợi tức giận nói những lời độc miệng như thế.


Nhưng các bà già, hễ nhìn con dâu, cháu dâu mình dáng dấp như “hòn đá kéo lúa đen thui”, liền chửi “đồ con lợn”. Các ông chồng trẻ không còn hay ngồi nhà nói chuyện cười vui với vợ, hễ có cơ hội là lảng vảng ở trước cửa nhà ông Bảy.


Bà Hạ Ốc đâu có biết việc ấy. Một tháng sau khi cưới, bà không bước chân ra khỏi cửa. Sau đó bà đi ra đi vào, quẩy thùng ra suối gánh nước thì có người giúp bà kín đầy hai thùng; xách làn đi hái quả du thì có người giúp bà níu cành. Người ta nhìn bà thèm thuồng, còn bà chỉ cảm thấy người làng này rất tốt, càng chú ý ăn diện hơn, đầu chải dầu bóng mượt, giày chùi lau sáng loáng. Gặp hôm trời trong nắng ấm, bà ngồi trên hòn đá trước cửa soi gương, lấy sợi chỉ nhổ lông tơ trên trán.


Một hôm, bà đang nhổ lông tơ, trong gương bỗng xuất hiện một người đi đến. Bà giật mình, quay lại nhìn, thì đó là An An ở ngõ trước. Bà mời ngồi, An An lại nói:


- Chị Bảy ơi, đến ở làng chúng tôi có quen không?


- Ở đây nước ngọt lắm. Chỗ chúng tôi ăn nước giếng, có vị đắng!


- Còn cái gì ngọt nữa không?


Bà không hiểu, ngước nhìn An An. An An cười toe toét:


- Anh Bảy đi đâu?


- Đi dọn chuồng trâu rồi!


- Một mình chị ở nhà, không thấy trống trải sao?


Bà Hạ Ốc không trả lời, chỉ soi gương, ra sức nhổ một sợi lông tơ. An An móc túi lấy tờ năm đồng, đặt vào lòng bà. Vừa soi gương, bà Hạ Ốc vừa hỏi:


- Tiền ấy anh nhặt ở ngoài đồng phải không?


Bất chấp tất cả, An An lao tới. Bà Hạ Ốc cầm gương đập vào đầu hắn. An An buông tay, bà Hạ Ốc giãy ra, bỏ chạy. Trong tay An An chỉ có cái cúc áo của bà.


Sau vụ bị làm nhục này, trong lòng bà Hạ Ốc ngấm ngầm sợ hãi nhưng không dám nói với ông Bảy. Ông Bảy là người đần, cũng không phát hiện ra việc này. An An lại đến tán tỉnh mấy lần, không ăn thua, bèn phao tin bậy bạ trong làng, nói bà Hạ Ốc là “cái xe công” ở nhà mẹ đẻ, thằng nào cưỡi cũng được, anh ruột chị dâu không làm sao được, mới gả bán giá cao cho ông Bảy. Mọi người đều bảo ông Bảy là cái “thùng đựng cơm thừa”. Trong lòng ông Bảy dần dần sinh nghi. Vào một buổi chiều, ông Bảy từ núi gánh củi về, thấy trong nhà có một chàng trai trắng trẻo đang ngồi trước bàn ăn trứng ốp lếp. Bà Hạ Ốc giới thiệu với chồng đây là người anh họ ở quê sang thăm. Người anh họ này ở lại nhà ông Bảy giúp chăn lợn, gánh nước. Nhưng người trong làng xôn xao bàn tán, chế giễu trước mặt ông Bảy, bảo ông bị cắm sừng, bảo thằng cha ấy là anh giả. Ông Bảy cáu tiết lên. An An liền bày kế, nói là lên núi kiếm củi, nhưng hai người len lén nấp dưới cửa sổ, quả nhiên nghe thấy bà Hạ Ốc nói với người anh họ:


- Anh Tiểu Thủy cũng nên về đi. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, nói dối anh ấy ba bốn hôm rồi, ở lâu, anh ấy sẽ phát hiện ra.


- Anh không về, anh đi bao nhiêu đường đất đến đây, chỉ cốt nhìn thấy em cũng đủ.


Bà Hạ Ốc đột nhiên xụt xịt khóc:


- Anh Tiểu Thủy ơi, anh quên em đi. Quả thật em thấy sờ sợ.


- Anh hận mình nghèo, không có nhiều tiền đưa cho anh em. Nhưng em cũng quá quắt cơ, không có một chút dành cho anh trong lòng.


- Anh không nên nói như vậy! 


Bà Hạ Ốc kêu lên, gục đầu vào lòng anh chàng Tiểu Thủy kia. Tiểu Thủy ôm chặt bà, nước mắt ròng ròng.


Ông Bảy không chịu được nữa, quát một tiếng “Đồ chó!”, rồi nhảy bổ vào cửa dằn Tiểu Thủy ra đánh. An An cũng lao vào túm chặt bà Hạ Ốc. Người ta bảo bắt kẻ gian phải bắt quả tang, trai trên gái dưới, ngay lập tức dùng thừng da trâu quật túi bụi tới mức Tiểu Thủy không bao giờ dám bén mảng đến nữa. Ngay đêm đó, ông Bảy lột hết quần áo của vợ trói vào cột, lấy thắt lưng da quật tới tấp, bắt vợ phải khai ra mối quan hệ với Tiểu Thủy. Bà Hạ Ốc khóc không thành tiếng, nói bố mẹ chết sớm, sống với anh chị, người gọi là anh Tiểu Thủy này thật ra không phải là anh họ. Nhưng từ khi còn bé, hai người đã mến nhau, sau đó tự tiện đính hôn. Nhưng anh ruột bà chê Tiểu Thủy không có tiền, một mực gạt đi, đã cưỡng ép bà gả cho ông Bảy. Nhưng bà thề không có chuyện gì mờ ám bẩn thỉu với Tiểu Thủy. Cuối cùng, ông Bảy đề ra mấy qui định: Một là không đi lại với “con lừa hoang” đó nữa; hai là không được ăn diện trang điểm, gọi ong rước bướm. Bà Hạ Ốc nuốt nước mắt, vâng vâng dạ dạ làm theo.


Sau đó, ba tháng liền, bà Hạ Ốc không còn mặt mũi nào ra khỏi cửa. Khi vết thương trên mình khỏi hẳn, bà mới lại bắt đầu đi lại trong làng và ra đồng làm việc, không trang điểm quần áo, không chải đầu, mặt bám bụi không rửa. Nhưng cánh đàn ông đều khen bà đẹp. Bà rất ít nói. Người khác nhìn bà, bà cúi đầu đi thẳng. Ông Bảy lấy lại thần khí, nói ông không phải là người “đội mũ xanh” bị cắm sừng, ông đã trị được vợ. Nhưng từ đó ông thường xuyên đánh vợ, bởi vì vợ không đẻ cho ông một cậu ấm.


Thế là, bà Hạ Ốc năm nào cũng ra miếu Nương Nương đốt hương khấn vái, nóng lòng muốn có một đứa con trai.


 


Bà đã từng lấy cắp, song không thể nói là trộm


Khi bà Hạ Ốc về làm dâu, ông Bảy vay ăn chống đói, đã nợ chồng nợ chất. Ở nhà quê, kiếm được một đồng tiền khó khăn lắm. Ông Bảy chẳng làm được thợ mộc, thợ nề, lại không có gan đầu cơ trộm cắp, thì đành phải dựa vào lao động sản xuất. Ở trong đội, việc bẩn nhất, mệt nhất, công điểm cao nhất là nuôi trâu. Cuộc sống khó khăn, ông Bảy đề nghị được làm công việc chăn nuôi. Ông không có tài cán gì khác, chỉ hùng hục bỏ sức ra, ông cắt cỏ, ông ôm rơm rạ bỏ vào chuồng, ông cho trâu bò ăn cỏ đêm. Lâu ngày, ông rạc người đi, gầy giơ xương. Người già người trẻ, ai cũng gọi ông là “Long vương đen”.


Bà Hạ Ốc thương chồng, muốn giúp ông nhiều hơn, nên đã theo một đám đàn ông lên núi cắt cỏ.


Ở quê tôi, đàn bà con gái ít khi lên núi cắt cỏ, hơn nữa lại đều không biết làm việc này. Song bà Hạ Ốc lại rất tháo vát. Cánh đàn ông thích cắt cỏ cao, leo lên đỉnh núi cắt. Còn bà cứ cắt ở lưng chừng dốc, ở bờ sông, chân quì xuống đất, cắt rõ phẳng về phía trước. Chỗ bà đã cắt, cỏ phẳng như dẫy, song không bám đất ở rễ. Mỗi lần cắt về bốn mươi lăm kí, sẽ được tính nửa ngày công, bằng hai ngày ra đồng làm việc bình thường. Lúc này, các bà già trong làng đã khen bà trước mặt:


- Người ta bảo ngựa đực ra trận, ngựa cái cũng ra trận rồi! Tại sao chị biết cắt cỏ?


- Ở nhà mẹ đẻ, tôi thường đi cắt cỏ mà.


- Ái chà, ông Bảy này lấy được vợ tháo vát giỏi giang. Con dâu nhà này đoảng lắm, chân tay vụng về như lợn, lại lười chảy thây!


Mấy nàng dâu nghe được, không chịu, liền chửi đổng:


- Bà ta thì làm được quái gì? Có biết đẻ con đâu?


Nghe vậy, bà Hạ Ốc chỉ khóc thầm.


Hôm ấy, bà đang cắt cỏ non ở lưng chừng núi, ông Bảy cho trâu ăn xong, chạy lên đón bà. Lúc này bà cảm thấy rất hạnh phúc, cũng rất đắc ý. Vừa đi tới bờ sông, ở phía sau đột nhiên có người hét to:


- Thôi chết rồi, Ông Bảy đã lăn xuống dốc!


Bà giật mình, quay người trở lại dốc núi, quả nhiên ông Bảy đã lăn xuống, máu me đầy đầu đầy chân, người hôn mê bất tỉnh. Bà Hạ Ốc sợ quá òa khóc. Một đứa cháu trong họ đã cõng ông Bảy về nhà, bà Hạ Ốc đi theo sau. Về đến nhà mời thầy thuốc tới tiêm, ông Bảy mới dần tỉnh lại. Thầy thuốc nói may mà vào phần mềm, không nguy hiểm mấy.


Bà Hạ Ốc cơm bưng nước rót, chăm sóc chồng bảy ngày, ông Bảy lành dần vết thương. Nhưng ai ngờ từ đó đã để lại cho ông chứng bệnh lạ: Ông kêu choáng đầu, không ra khỏi cửa, cũng không xuống giường, xấu hổ ngại gặp người, nhưng cơm ăn vẫn như trước, mỗi bữa vẫn xơi hai bát mì sợi to tướng. Người làng bảo ông bị ma ám. Bà Hạ Ốc dò hỏi khắp nơi, ra ngoài hàng chục dặm mời về một bà phù thủy, lên đồng mấy bận, đốt giấy tiền, đốt cả hương, song bệnh ông Bảy vẫn không chuyển. Cuối cùng lại mời thầy thuốc. Thầy thuốc bảo, ông Bảy bị chấn thương thần kinh não, khuyên ông vừa uống thuốc, vừa cố gắng đi dạo, chớ nên sợ người, vì càng sợ người bệnh càng nặng. Bà Hạ Ốc mỗi lần sắc thuốc cho ông Bảy uống, cũng khuyên chồng ra phơi nắng và nói chuyện với mọi người. Ông Bảy chỉ ôm đầu, không chịu rời khỏi giường, có khi còn nóng tiết bảo:


- Tôi làm bà mệt mỏi phải không? Nhưng bà không được đi, khi nào tôi chết, bà sẽ đi lấy người khác!


- Ông cứ nói vớ vẩn cái gì thế, chỉ cần ông chịu khó đi lại, tâm tư tình cảm thoải mái, bệnh sẽ khỏi rất nhanh.


- Bà bảo tôi đi lại để mất mặt với mọi người phải không? Bà đưa cho tôi sợi dây thừng, tôi thắt cổ, cho bà tha hồ mà đi!


Bà Hạ Ốc vừa thương ông, lại vừa giận ông. Bà bảo:


- Tôi là vợ ông, chẳng nhẽ tôi lại không mong ông khỏi hay sao?


- Bà không phải thương tôi, bà sợ góa chồng thì có!


Bà Hạ Ốc oan uổng tới phát khóc. Bà vừa làm việc trong đội, vừa lo ngay ngáy sợ ông Bảy nghĩ quẩn; sợ có chuyện gì dại dột xảy ra thật, bèn nhờ bà con hàng xóm sang khuyên ông Bảy. Ông Bảy dù sao cũng đã chịu đi lại, cứ thế được hai tháng rưỡi, bệnh tình có khá, song đã để lại chứng càng ngố càng đần, không bao giờ làm được việc nặng nữa.


Bà Hạ Ốc xin thay chồng nuôi trâu bò. Đội họp nghiên cứu, có người không đồng ý, bảo đời sống gia đình họ túng thiếu quá, một khi túng thiếu, sẽ làm liều, nhất định sẽ ăn cắp ăn trộm. Bà Hạ Ốc biết vậy, ức hộc mồm, nhảy xổ vào ông Bảy, đánh ông, cấu ông, bóp ông. Cuối cùng, bà ôm chặt ông, bảo ông Bảy quyết không thể chết, họ phải sống để cho người làng biết mặt họ đã sống như thế nào.


Hai vợ chồng nghĩ hết mọi cách, cuối cùng chỉ có một lối thoát: nuôi lợn.


Bà nuôi ba con lợn, chăm chút chẳng khác gì hầu hạ ông bà, rau lợn băm nhỏ hơn nhà người khác, thức ăn trộn đều hơn nhà người khác, múc nước lã đun sôi lên, cho lợn uống từng muôi, từng thìa. Ba con lợn lớn nhanh như thổi, mỗi ngày một mỡ màng, sau vụ gặt mùa thu, xuất chuồng hai con, được một trăm tám mươi đồng. Bà Hạ Ốc mừng quá, lại ra chợ mua về ba con nữa, mong sao cứ thế này, chỉ hai năm sẽ đổi đời.


Nuôi lợn phải húi nhừ thức ăn. Cám để dành trong nhà đã hết, ngày mưa gió cắt rau lợn cũng thành vấn đề. Lợn đói quá cứ réo hồng hộc trong chuồng. Bà đeo cái sọt, chui vào ruộng ngô của đội vơ trộm lá đậu tương trồng xen.


Vơ được lần đầu, lần thứ hai đi đến bên ruộng ngô, không kìm được lại xuống vơ. Không ai phát hiện ra. Bà liền bạo gan, đêm đêm đi vơ, sau đó lại đi cắt trộm dây khoai lang. Dần dần bà rút kinh nghiệm, chờ mọi người đi ngủ đâu vào đó, hai ông bà mới ra khỏi cửa. Ông Bảy gác cho bà, bà lò dò đi cắt dây khoai, hễ có động tĩnh, ông Bảy ho một tiếng, bà liền nằm rạp trong luống khoai, cố nín thở. Thường là đêm khuya cắt được dây khoai đem về thì quần áo giày tất ướt sũng sương. Bà hỏi ông:


- Mình làm thế này là ăn trộm của người ta chứ gì?


Ông Bảy đáp:


- Ừ, ăn trộm của người ta!


- Mình có phải là trộm cắp không?


Ông Bảy đáp:


- Không phải là trộm cắp!


Vậy là bà yên tâm, cởi áo đi ngủ. Nhưng trong giấc mơ bà thường giật mình kêu to.


Lợn của họ cứ xuất chuồng hết con này đến con khác. Mọi người đều bảo máng lợn của nhà họ tốt, một vài chị em thường đến học tập kinh nghiệm.


- Lợn nhà em nuôi đã hai năm, lông trên mình vẫn đỏ như nhung, chị nuôi thế nào vậy?


- Nuôi thế nào ấy à? - Bà Hạ Ốc nói - Vẫn là chọn giống lợn tốt. Con lợn mõm dưa gang không phàm ăn, lợn bốn chân ngắn thì chậm lớn, lợn còn nhỏ đã béo thì còi cọc... Khi mua lợn con, đừng sợ gầy, chỉ cần eo lưng tốt, chắc chắn sau này sẽ chóng lớn.


- Vậy cho lợn ăn bằng gì? Nghe nói dây khoai lang của đội sản xuất bị người ta lấy cắp nhiều lắm, đồ thiếu đạo đức, chắc chắn đã cắt về nuôi lợn.


- Lợn ăn trăm thứ rau, sao lại cắt dây khoai lang cơ chứ!


Nói xong, bà Hạ Ốc hơi đỏ mặt, vội chạy đi.


Trong hai năm, quả thật nuôi lợn đã giúp gia đình họ vùng lên, họ trả được hết nợ. Đồng thời, sự tích nuôi lợn của bà Hạ Ốc đã lan truyền. Đúng vào lúc trên huyện cần phát triển sự nghiệp nuôi lợn, khổ một nỗi, không tìm đâu ra một điển hình, trong làng đã xôn xao nhắc đến bà Hạ Ốc.


Sau mùa thu, trong làng bầu bà lên huyện dự đại hội những người nuôi lợn giỏi. Đêm hôm trước khi lên huyện, bà đã khóc ở nhà mình.


- Tôi nghĩ thế này, - bà nói với chồng - mình không nuôi lợn nữa.


- Không nuôi lợn nữa? - Ông Bảy chẳng hiểu ra làm sao.


- Lòng người cứ phải biết lo xa, mấy năm nay lợn đã cứu giúp mình. Nhưng nuôi lợn như thế nào? Bây giờ mình đã kiếm ra tiền, tôi hối hận trong lòng đến phát hoảng. Nếu mình đeo hoa hồng trước ngực trên đại hội hàng vạn người, tội còn to hơn!


- Mình vừa trang trải xong nợ nần, chờ kiếm thêm chút tiền nữa sẽ tính sau.


Ông Bảy có phần không chịu. Bà Hạ Ốc giận dỗi nói:


- Ông đòi nuôi, tôi đem ông cho lợn ăn.


Ông Bảy không dám làm phật lòng bà Hạ Ốc, thôi không nói nữa.


Hôm sau, bà Hạ Ốc tìm cán bộ của đội nói rằng bà không thể lên huyện dự đại hội được. Từ giờ bà cũng không nuôi lợn nữa. Cán bộ đội ngạc nhiên, không biết bà làm thế có ý gì. Nghe bà nói nghiêm chỉnh, liền mắng:


- Thật là một đôi thằng ngốc. Bảo làm chiến sĩ thi đua cũng không làm. Thịt chó không thể bày lên mâm cỗ! Có biết không, đi dự đại hội còn được phát hai trăm đồng tiền thưởng nữa đấy!


Bà đáp:


- Tôi không cần số tiền ấy.


Bà Hạ Ốc đã để lỡ thời cơ như thế đấy, và quả thật bà thôi nuôi lợn từ dạo ấy. Cuộc sống gia đình bà thanh tịnh, chật vật, nhưng không nợ nần ai, cũng không ai vay mượn. Tuy người thì chê cười bà, người thì tiếc thay cho bà, nhưng ai ai cũng biết bà là người giỏi giang tháo vát.


 


Từng làm chết người, nhưng bà đã bõ tức


Cạnh nhà ông Bảy có một gia đình. Gia đình này họ Lưu, chủ nhà là Ngũ Ngũ - ngày trước đã nửa đời người bán bánh đúc bánh đậu, quen thói tắt mắt, nhỏ nhen. Sau khi bà Hạ Ốc về nhà chồng, cứ cách vài hôm lại phát hiện, nếu không thiếu mấy viên ngói trên chuồng lợn, thì cũng mất vài quả trứng trong ổ gà. Bà nói với ông Bảy:


- Nhà hàng xóm này ăn ở không đứng đắn.


- Ăn nói lung tung. Đàn bà các người chỉ được cái lắm chuyện!


- Tôi đã thử đến mức không muốn thử nữa. Trên người ông ta toàn lưỡi câu với móc sắt, cứ định cuỗm đồ dùng của người khác đem về nhà mình. Từ nay về sau, có việc nghiêm chỉnh thì đi lại với ông ta; không có việc nghiêm chỉnh thì đừng có sang tán chuyện, rước ông ta đến nhà mình làm những việc bẩn thỉu.


- Nói vớ vẩn. - Ông Bảy vẫn không tin - Thỏ chẳng bao giờ ăn cỏ cạnh ổ! Bà làm người trong nhà, nhất định phải thảo hiền, đừng có gây chuyện rắc rối, mất mặt với mọi người.


Bà Hạ Ốc nói:


- Tục ngữ nói “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, sao tôi không hiểu được điều đó? Nhưng người đời có chán vạn, nên trao lòng thì cởi mở trao lòng, nên đề phòng thì không thể không đề phòng!


Ông Bảy rốt cuộc đã không nghe.


Một hôm, giặt xong mấy bộ quần áo, bà phơi trên cây trước cửa; đến tối, khi bà Hạ Ốc đi cất, thì thấy thiếu hẳn một cái áo mới của ông Bảy. Bà biết lại bị ăn cắp, chửi một trận. Một tháng sau, ông Bảy ra đồng làm việc, nhìn thấy Ngũ Ngũ làm việc nóng bức quá, cởi áo ngoài ra, cái áo mặc bên trong giống chiếc áo của mình bị mất nhưng màu đen, ông biết hắn đã ăn cắp đem nhuộm đi. Từ sau việc này, ông Bảy đã tin lời vợ, có ý định xây một bức tường ngăn sân, phân cách hai nhà. Nhưng khổ một nỗi lương ăn đang thiếu, cứ lùi lại mãi, đành phải ít qua lại.


Mùa hè năm ấy, gia đình Ngũ Ngũ xây lại bếp, vừa vặn xây trên đường ranh giới hai nhà. Chân tường sau, tuy đặt sát đường ranh giới, nhưng mái sau thì nằm trên đất nhà ông Bảy. Bà Hạ Ốc thấy bị ức hiếp, sang nhà nói lý, hai gia đình đã cãi nhau.


- Đất nhà bà, trời cũng của nhà bà ư? Bà lôi thôi vừa vừa chứ, bà đã quản được ông ấy, còn định ra ngoài quản người khác phải không?


Bà Hạ Ốc tức run cả người, liền chửi:


- Ông chiếm phần đất của nhà tôi, lại còn giở lý hả? Ông ức hiếp người ta quá thể, nếu cảm thấy chúng tôi mềm yếu mà lấn tới, thì chẳng khác nào có mắt như mù!


Lưu Ngũ Ngũ nói tục tĩu càng khó nghe, nhảy quớ lên:


- Bà tranh giành đi, bà tranh giành cho con nào, cháu nào? Tôi chiếm sang phần đất của nhà bà đấy! Hừ! Tôi còn muốn các người chết hết, chiếm cả hai gian nhà này nữa cơ!


Bà Hạ Ốc sợ nhất là người ta động chạm tới chỗ yếu không có con của bà, lòng bà đau thắt lại, tức lộn ruột, không nói thành tiếng, mắt trợn trừng, ngã vật ra phía sau.


Ông Bảy vội ôm vợ về đặt lên giường lò, rồi bấm huyệt nhân trung, dội cả nước lạnh, lâu lắm bà mới tỉnh lại. Bà Hạ Ốc nhìn chồng còn đứng ở cạnh giường, cơn giận lại nổi lên, đưa tay đẩy ông ra, bảo:


- Cả đời tôi chẳng chịu lép đứa nào! Chỉ tại lấy phải người đàn ông hèn kém như ông nên người ta mới dám ỉa đái lên đầu tôi. Ông theo tôi, hắn định xây nhà, thì mình đào giếng sát đường ranh giới!


Ngay chiều hôm ấy, hai vợ chồng đào giếng ngay dưới chân tường sau nhà bếp của Lưu Ngũ Ngũ. Đào suốt bốn ngày bốn đêm. Khi có nước, bà Hạ Ốc quay cái trục kéo nước kêu rầm rầm, cố ý lắc để nhà Ngũ Ngũ trông thấy.


Lưu Ngũ Ngũ thấy giếng đã đào, không thể xây bếp được nữa, nhưng cố nặn óc suy nghĩ, cuối cùng xây cái nhà xí lộ thiên, hố phân không có nắp đậy, hơi thối bốc lên ngùn ngụt, ruồi nhặng bay à à khắp nơi, thế là nước giếng không dùng được.


Từ đó, hai nhà hàng xóm thù oán nhau, chẳng ai chịu ai, dốc của cải ra làm cho bõ tức nhau. Bà Hạ Ốc bàn với ông Bảy: Dù thế nào cũng phải xây bức tường ngăn ở giữa. Để áp chế đối phương, ông bà đã lấp giếng, dựng hai gian nhà ngang ở đó. Họ lại vay chỗ nọ giật chỗ kia, mua gỗ, sắm gạch ngói vôi cát. Hơn một tháng sau, mời thợ ở các nơi đến nhà, đào hố xây móng, dựng khung nhà, tường chưa chình kín đã bắt đầu đặt rui mè lợp ngói. Người bên cạnh khuyên cứ từ từ, bà Hạ Ốc lại cứ muốn nhanh. Hôm lợp ngói còn thiếu mấy đường, gấp gáp ra lò mua chở về, ngay một lúc thì không đủ tiền mặt, bà Hạ Ốc liền đem chiếc áo bông lụa đỏ duy nhất mà anh ruột may cho bà khi cưới, bán cho một người đi buôn trong làng với giá rẻ. Thế là coi như chở được ngói về. Cánh thợ làm nhà đều khâm phục người đàn bà này, càng làm nhanh tay nhanh chân hơn. Hai gian nhà chỉ làm hai buổi đã lợp xong ngói toàn bộ. Bà Hạ Ốc sung sướng vô cùng, bảo ông Bảy leo lên nóc nhà mới, đốt một tràng pháo nổ giòn giã. Xác pháo như cánh hoa đào rơi trên nóc nhà, một cơn gió thổi đến làm tung bay rợp trời, bay cả sang bên nhà Lưu Ngũ Ngũ nhiều lắm, nhiều lắm. Người nhà ấy đóng cửa im ỉm cả ngày không ra ngoài.


Bởi mọi công việc gấp gáp quá, sau khi lợp ngói, nóc nhà bị vênh hai chái, ở giữa võng xuống. Cánh thợ mộc bảo chờ vài hôm hãy bắt đầu chống nhà. Bà Hạ Ốc thì bảo nhanh được thì cố gắng làm nhanh để bà còn dọn dẹp. Cho nên, ăn xong cơm trưa, cánh thợ bắt tay ngay vào công việc chống võng. Lúc đó, mấy người dùng gỗ tấm nâng cột giữa, ông Bảy ôm đầu cột, đang bẩy lên định thay hòn đá kê ở phía dưới, thì ông Bảy đuối sức không nâng nổi, chân bị trượt, không ôm chặt được cột, cột bị nghiêng sang một bên, nóc nhà nặng quá kêu “rắc” một tiếng. Mọi người thấy nguy đến nơi, hét to “Hỏng rồi, mau mau chạy ra!”. Vừa ra khỏi nhà, nửa bên nóc nhà sập xuống, song không thấy ông Bảy đâu. Vội vàng chạy vào, thì thấy ông Bảy ngã sấp ở đó, xà nhà đang đè trên lưng, hai tay ông còn ôm đầu, mồm hộc máu, ngất xỉu. Khi bế ông ra, vừa đặt lên giường lò, thì ông đã tắt thở.


Việc xảy ra quá ư đột ngột, khiếp quá, mọi người đều đứng ngây ra. Bà Hạ Ốc thấy chồng chết ngay trên giường, cổ ứ nghẹn, kêu không thành tiếng, khóc không thành lời, cứ đứng trơ trơ một chỗ, chẳng biết gì nữa.


Tin này loan ngay khắp làng. Mọi người chạy sang, nhìn cảnh tượng này không ai là không rưng rưng nước mắt. Lúc này, bà Hạ Ốc mới khóc được. Bà khóc suốt ba ngày ba đêm, khóc khan cả tiếng, hai mắt sưng húp. Dân làng bảo phen này bà Hạ Ốc có lẽ chẳng sống được bao lâu, không thắt cổ nhảy xuống sông, thì cũng bỏ đi nơi khác. Nhưng ngày thứ ba, bà lại đi tìm thợ mộc thợ nề van nài, yêu cầu giúp bà dựng lại nhà. Cánh thợ ngạc nhiên hỏi:


- Bà còn dựng nhà làm gì nữa? Bà điên rồi hay sao?


- Sao lại không dựng? Ông Bảy định tranh cho bõ tức, chưa tranh được thì đã chết. Tôi còn lại, không thể tranh cho ông ấy hay sao?


- Úi giời, thím ơi, bây giờ còn lại một mình, việc gì thím phải khổ sở thế?


- Tôi phải dựng lại, còn một mình thì tôi vẫn có một gia đình này! Tôi có chết đi chăng nữa thì cũng phải dựng lại nhà.


- Dựng xong rồi, liệu thím có ở đấy được không? Nghĩ tới ông Bảy, thím không đau khổ ư?


Nước mắt chảy giàn giụa, bà nói:


- Chú thợ tốt bụng ơi, nhà dựng xong, một ngày tôi cũng không ở đấy, song tôi phải tranh cho bõ tức. Nhà Ngũ Ngũ mấy hôm nay đêm nào cũng uống rượu, đàn hát như ma gào... Chẳng nhẽ thím không biết hay sao? Thím cắn cỏ cúi đầu lạy các chú, các chú giúp thím dựng xong cái nhà.


Cánh thợ mộc thợ nề dường như đều cảm động, kéo đến nhà bà Hạ Ốc, thu dọn gạch ngói vỡ đổ xuống, mua vật liệu khác, dàn lại mái, lợp lại ngói. Ngôi nhà hai gian cao ráo rộng rãi đã được hoàn thành.


Làm xong ngôi nhà mới, bà Hạ Ốc lăn ra ốm. Cả một mùa đông, người ta chỉ thấy bà sưởi nắng có ba lần trên bậc hè chuồng trâu ở đầu làng.


Dân làng xôn xao bàn tán. Người thì bảo, bà này ghê gớm thật, dựng cho bằng được ngôi nhà. Chỉ tiếc cho ông Bảy phận mỏng, không có phúc được sống với bà đến già trăm tuổi. Người thì bảo, mụ này là con yêu tinh, cao số, buộc ông Bảy phải chết, hơn nữa không để lại nòi giống cho ông Bảy. Gia đình ông Bảy tuyệt nòi là ở tay mụ ta. Người thì suy đoán, sau cơn ốm này, bà ta cũng sắp về chầu giời đến nơi rồi, đáng tiếc ngôi nhà cái sân rộng rãi thế lại phải cho người khác.


Thế là có mấy người độc thân bắt đầu mon men tính chuyện...


An An đã mấy lần sang nhà bà Hạ Ốc, lần nào hắn cũng mang theo nào đường đỏ, nào bánh ngọt. Bà không nhận. An An nói:


- Sao chị lại thế? Anh Bảy mất rồi, giữa ngôi nhà trống rỗng thế này, chị cô đơn quá đi mất!


Bà Hạ Ốc dồn hắn ta:


- Anh nhăm nhe ngôi nhà này, cái sân này chứ gì?


An An vội quì xuống nói:


- Anh yêu em. Mấy năm nay, lúc nào anh cũng nhớ đến em...


Bà Hạ Ốc đứng dậy, gạt tay xua hắn ra khỏi nhà:


- Xưa nay ta vốn ghét nhà ngươi!


An An bị dội gáo nước lạnh, thay đổi sắc mặt, nhảy lên nói:


- Mi là con mụ không yên phận. Mi định rước mèo hoang chó hoang khác họ về chứ gì?


Bà Hạ Ốc thét lên:


- Ta muốn thì ta cứ rước đấy, nhà ngươi làm gì được ta nào? Nhà ngươi là con chó lười biếng, cút đi cho khuất mắt ta!


Nhưng bà Hạ Ốc không rước đàn ông về. Bà bán ngôi nhà đang ở cho người khác, còn mình thì thuê ngôi nhà cao to phía tây của gia đình tôi để ở.


 


Bà đã từng chỉnh người, song cuối cùng lại bị người chỉnh


Bà Hạ Ốc đã gan góc tiếp tục sống ở làng này, hơn nữa càng sống càng khỏe ra, sắc mặt bà mỗi ngày đỏ đắn hơn, cơ thể cũng béo lên, chưa hề bị đau đầu nhức óc bao giờ. Bà làm việc trong đội sản xuất rất tích cực, không hề thoái thác việc gì. Được cái bà sáng dạ, học cái gì biết cái ấy, cầm lên được, bỏ xuống cũng được, khiêng gánh, kéo xe, đào mai, cầm bừa…, việc gì cũng chẳng thua ai. Ruộng phần trăm một mình bà cày cấy, mùa đông không lỡ gieo mạch, mùa hè không lỡ vụ rau. Nhất cử nhất động của bà dường như đều tuyên bố: Bà không cần bất cứ ai đồng tình giúp đỡ, bất cứ ai cũng đừng hòng lợi dụng gì ở bà.


Trong những năm ấy, làng xóm chúng tôi rối ren lắm. Tuy cả làng tám mươi phần trăm cùng họ, nhưng lòng người phân tán, làm cán bộ vô cùng khó khăn, cho nên lâu lắm không tìm nổi một người đội trưởng ra hồn. Sau đó mới thực hiện một giải pháp tồi tệ: thay nhau làm đội trưởng, mỗi người làm một năm. Nhưng làm thế càng rối bét, người nào làm thì cũng chỉ biết vơ vét cho bản thân, ai ai cũng bất mãn với đội trưởng đương nhiệm, người nào làm cũng thế. Cứ vậy kéo dài ba năm, xem ra đội sản xuất nát bét đến nơi rồi. Công xã cử tổ công tác về chỉnh đốn lại, triệu tập xã viên họp bầu đội trưởng. Nhưng bầu đi bầu lại, chẳng bầu được ai. Lúc ấy có người nhắc tới bà Hạ Ốc, bảo rằng ông Bảy đã chết, bà không thiên vị. Nhưng có người phản đối, bảo là nếu bầu bà làm đội trưởng, thì các làng chung quanh họ cười vào mũi, lẽ nào không có người mà lại để một bà góa tiếng tăm chẳng ra gì chỉ huy cả làng?


Bà Hạ Ốc vốn không thiết làm cán bộ, nhưng câu nói đó đã chọc vào trái tim bà, bà liền đứng dậy nói:


- Làm đội trưởng hay không, đối với tôi chẳng khác gì nước lã. Nhưng phải nhận xét người cho đúng. Tôi làm sao nào? Nói tôi tác phong không tốt, tôi đã lăng nhăng với ai nào? Bà con xem, tôi có tội lỗi gì? Tôi chỉ không biết đẻ con chứ gì?


Lúc này, cả phòng họp không có ai nói gì hơn. Cán bộ chỉnh đốn của công xã từ đó đã nhắm vào bà, anh nói trong làng này, nếu chọn thì phải chọn một người nói được làm được, không dính dáng đến ai, liền đề nghị bầu bà Hạ Ốc. Lúc đầu bà Hạ Ốc hơi ngạc nhiên, do dự một lát, bà đã vui vẻ đồng ý.


Sau khi được bổ nhiệm, việc đầu tiên của bà là cử lại mấy tổ trưởng: một người khác họ, một người là quân nhân mới phục viên, một người thạo công việc đồng áng. Bà còn sửa lại chế độ ghi công điểm, không để kế toán kiêm ghi công điểm, mà chỉ định một học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học làm việc này.


Vậy là ầm ĩ cả làng, con cái trong họ hầu như cùng chống lại bà, nhưng bà là đội trưởng, họ không làm gì được, nên cố tình gây khó dễ cho bà trong phân công việc làm, bà cử làm ở đằng đông, thì họ làm ở đằng tây. Bà nói thẳng, nếu không làm theo cắt cử, nhất loạt không ghi công điểm. Tối nào bà cũng ngồi bên cạnh nhân viên ghi công điểm, ai cãi, bà cãi lại, không người nào cãi được bà, cuối cùng đều phải ngoan ngoãn chấp hành.


Ruộng đất của làng này quan trọng nhất là cánh đồng năm mươi sáu mẫu(1) ở đập sông. Cả năm có được ăn hay không, thì nhìn vào kết quả thu hoạch của số ruộng này là biết. Nhưng đây là ruộng trồng lúa nước, bao năm nay sản lượng rất thấp. Bà Hạ Ốc mới bàn với mấy lão nông, quyết định trồng ngô cạn trên năm mươi sáu mẫu ruộng nước này. Mùa đông năm ấy, bà Hạ Ốc tập trung toàn bộ công sức cải tạo đất.


Cánh đồng này cần phải đôn cao, mà đất thì phải gánh ở vùng đồng khô xuống. Gánh trong một thời gian mà tiến độ cứ chậm rì rì, nhiều người lười biếng quen thân, một gánh không phủ kín sảo, đi lững thững, cả một buổi không được bốn gánh. Bà Hạ Ốc liền đề ra khoán định mức, đo khối lượng, ghi công điểm. Quả nhiên tốc độ tăng lên mười lần. Nhưng cũng lúc này, bà với ông Ba trong họ có oan thù với nhau.


Để kiếm nhiều công điểm, khi đổ đất, ông Ba đã cố tình chôn bờ ruộng ở dưới, một mét khối đất thực tế chỉ có hơn nửa mét khối. Bà Hạ Ốc vạch ra việc làm giả dối, ông Ba tỏ vẻ khó chịu, từ xấu hổ biến thành bực dọc:


- Thì tôi giả dối đấy, chị làm gì được tôi nào?


- Để mọi người đều nhìn thấy anh sống thế nào!


- Thím là cái thá gì mà nói với tôi thế?


- Tôi là đội trưởng, không phải là em dâu nhà anh!


- Hừ, hừ! Đồ tan cửa nát nhà, thím đã hại đời anh em nhà tôi, lại còn định hại cái làng này ư?


- Nói láo! - Bà Hạ Ốc bỗng nổi giận đùng đùng, chửi một câu.


- Mày dám chửi tao hả? Tao đánh chết mày cho mà xem!


Bà Hạ Ốc cười gằn, nắm luôn cán xẻng, nói:


- Anh cứ đến mà đánh. Anh đánh chết tôi, tôi cũng chẳng để anh yên đâu.


Mọi người thấy to chuyện, vội vàng chạy đến tước khí giới của hai bên. Ông Ba tự thấy đuối lý, nhân thế xuống thang, hằm hằm bỏ về.


Bà Hạ Ốc ức tái mặt nhưng không khóc. Bà nói với dân làng:


- Tôi là bà góa, không con cái, tôi ăn được bao nhiêu lương thực cơ chứ? Tôi cải tạo cánh đồng này, chẳng phải vì làng ta đó sao? Ở đây có các bậc cao tuổi, có các anh chị em thanh niên hiểu biết hơn tôi nhiều. Tôi muốn làm đội trưởng là để công bằng sòng phẳng, không thiên vị dính líu đến ai, muốn để mọi người cùng góp sức. Ai muốn húp cháo, thì học kiểu làm ăn của ông Ba giải tán đi về. Nếu muốn ăn cơm thì phải làm việc. Kẻ góa bụa này chỉ có khả năng đến thế thôi!


Mấy câu ấy chí lý thực tế quá, những người thường ngày có thù, có giận với bà, lúc này lại cảm thấy thương bà, ai cũng bắt tay làm việc.


Cả một mùa đông đã cải tạo xong năm mươi sáu mẫu đất. Mùa hè một vụ lúa mạch, thu hoạch rất tốt; mùa thu một vụ ngô lại bột thu một cách lạ kỳ. Cả một thời gian, ai ai cũng ca ngợi công lao của người đàn bà góa.


Tin tức truyền tới công xã, công xã lại báo lên huyện, huyện coi là một điển hình, bảo công xã viết tài liệu phổ biến kinh nghiệm. Cán bộ công xã gọi bà Hạ Ốc lên, đọc cho bà nghe bản tài liệu đã viết sẵn, bảo bà ký vào.


Bà Hạ Ốc không được đi học, song đầu óc vô cùng minh mẫn. Khi nghe số liệu sản lượng một mẫu, bà nói:


- Chỗ này sai, sản lượng một mẫu vụ thu không phải bốn trăm năm mươi kilôgam, mà là ba trăm năm mươi kilôgam.


- Cho gọi chị lên đây là để bàn việc này. Trên huyện đòi tài liệu điển hình, điển hình mà ba trăm năm mươi kilôgam thì không lớn, nên viết là bốn trăm năm mươi kilôgam nhé!


Cán bộ công xã nói vậy, bà Hạ Ốc hơi hoảng:


- Nói vậy chẳng phải nói dối người ta ư?


- Chuyện ấy có sao đâu! Cũng là vinh quang của công xã mình mà!


Bà vẫn bảo:


- E nói vậy không tốt.


- Có gì mà không tốt!


Bà cứ do dự mãi, rồi mới ký tên.


Được mươi hôm, huyện mở đại hội, đã biểu dương công xã, biểu dương thôn này, lại còn tặng một bằng khen lồng khung kính, bà Hạ Ốc không nhận, cán bộ công xã đem treo trên tường ở phòng họp của công xã.


Nhưng không bao lâu, ông Ba viết đơn tố cáo lên huyện, nói bà Hạ Ốc báo cáo láo sản lượng, lừa bịp lãnh đạo, nói dối để hưởng vinh quang. Huyện cử người xuống điều tra, quả thật như vậy. Trong thời gian người của huyện ở thăm làng, một số người vốn bất mãn với bà lập tức hả hê, toàn nói xấu bà. Cán bộ huyện vô cùng tức giận, thu hồi bằng khen, tước luôn cả chức đội trưởng của bà Hạ Ốc.


Trong cuộc họp kỷ luật, bà không chửi ai, cũng không khóc lóc, không nói một lời. Họp xong, bà chỉ cười mấy tiếng, về nhà đắp chăn kín đầu đi ngủ.


Từ đó, trong làng lại thay phiên nhau làm đội trưởng. Chưa được ba tháng, đội trưởng mới lại bị mất chức. Trong đội lại nát như tương. Còn bà Hạ Ốc thì sao? Bà vẫn ngày ngày đi làm. Người ta làm việc, bà làm việc; người ta ngồi, bà cũng ngồi. Cuối năm chia gạo chia tiền, bà được chia ít, người khác cũng được chia ít.


Tính nết bà đã thay đổi, không còn chửi mắng ai, gặp ai cũng hỏi han tình hình gia đình, nói chuyện cuộc sống. Bà còn nuôi một đàn gà con, lúc rảnh việc thì chăn đàn gà. Khi gà đẻ trứng, phần lớn số trứng bà đem đổi dầu mỡ mắm muối, còn lại mội ít bà để dành, trẻ con nhà nào đến, bà tráng cho ăn. Bọn trẻ trong làng đều thích đến chỗ bà. Người làng khen bà:


- Bà góa thế mới giống bà góa chứ!


- Nếu ngày trước như thế, ông Bảy đâu có chết?


- Bà ấy vốn dĩ là một người tốt.


- Người tốt.


 


Bà se duyên cho nhiều đôi, song cũng làm hại một mạng người


Bà Hạ Ốc sống yên hàn được mấy năm như thế. Mùa thu năm bà năm mươi tuổi, bà bị đau răng một trận, đau đớn đến không chịu nổi, liền nhờ người nhổ răng. Cứ thế cách mấy tháng lại nhổ một cái, hàm răng đều đặn chỉ còn lại mấy cái. Không có răng, mồm bà bị móm, người càng chóng già.


Mùa hè năm nay, bà đột nhiên nhớ nhà mẹ đẻ. Từ sau ngày anh ruột chị dâu gả bà cho ông Bảy, bà đã thề không bao giờ về thăm anh chị nữa. Những ngày mới về làm dâu, trong lòng còn nhớ anh Tiểu Thủy, bà định về thăm anh, nhưng sau khi ông Bảy phát hiện ra chuyện ấy, đã giữ rịt không cho bà về. Mấy chục năm qua, bà đã lãng quên chuyện cũ, cũng quên người cũ quê xưa. Bây giờ ước nguyện trở về quê trỗi dậy mạnh mẽ, khiến bà cũng có phần ngạc nhiên.


Cuối cùng bà đã trở về huyện Sơn Dương.


Anh trai chị dâu còn hay mất, bà có gặp được anh Tiểu Thủy hay không? Sau một tháng trở về làng, bà Hạ Ốc không hề nói với ai, cũng chẳng ai hào hứng hỏi chuyện ấy. Nhưng điều làm cho làng xóm ầm ĩ lên là bà đã dẫn về một thiếu nữ cao ráo, xinh đẹp như một bông hoa. Bà nói với dân làng, đấy là cháu gái bà, ở nhà cắt may, ra đồng cắt cỏ còn giỏi hơn bà ngày xưa. Hiện giờ đã hai mươi hai tuổi, đang xuân, ở quê người đến cầu hôn như ong lao tới, chỉ có điều cô đòi hỏi quá cao, coi thường nơi ấy nghèo túng, theo bà về đây cốt là để tìm nhà kén rể. Nhưng, bà bí mật bảo với mẹ tôi, cô gái ấy là con đẻ của anh Tiểu Thủy. Anh Tiểu Thủy cũng đã già rồi, đã có cháu, bà không quên tình xưa nghĩa cũ, muốn làm một việc tốt cho cô gái. Nói xong, bà dặn đi dặn lại mẹ tôi giữ kín chuyện này.


Cô gái ấy dáng dấp quả thật xinh đẹp. Đi có dáng đẹp của đi, ngồi có dáng đẹp của ngồi, thanh thoát duyên dáng như bà Hạ Ốc ngày xưa. Cánh trai làng như lên cơn sốt, sang nhà bà ngày càng đông. Bà Hạ Ốc đón tiếp họ thân mật tử tế. Bà biết tỏng, cánh trai làng ân cần với bà là giả dối, song vẫn sai cô gái tráng trứng mời ăn, bảo cô ngồi ở cạnh mình nói chuyện với họ, một là để vừa lòng cánh trai làng, hai là tiện cho cô tự mình “nom mặt” chọn rể. Thế là cô đã lọt mắt xanh cháu nhỏ nhà An An. Trong lòng bà Hạ Ốc có phần không hài lòng, nghĩ đến nhân cách làm người của An An, sợ cháu hắn cũng hư hỏng như chú, như vậy há chẳng làm hại con gái anh Tiểu Thủy? Nhưng hai người này đều tâm đầu ý hợp, xem ra bà Hạ Ốc không ngăn cản được, đành phải chúc mừng hai đứa chung sống trăm năm, không được gây ra chuyện buồn như bà với anh Tiểu Thủy.


Trong một ngày xuân, cô gái đã về nhà chồng.


Cô gái luôn gọi bà Hạ Ốc là cô. Bà cũng gọi cô gái là cháu. Trong làng có một gia đình thân thích như vậy, An An thường hay đến nhà bà uống trà. Lúc rỗi rãi, bà cũng sang nhà cô gái chơi. Ai cũng bảo bà Hạ Ốc se tơ kết tóc rất mát tay, vì vậy có nhiều người đã đến nhà nhờ cậy bà, đương nhiên bà cũng được rất nhiều quà biếu. Từ đó, bà làm bà mối, đã se duyên cho sáu bảy đôi trai gái. Trong một thời gian không dài, bà Hạ Ốc trở thành bà mối có tiếng tăm trong vùng.


Quan hệ giữa bà và dân làng đều đã tốt lên, chỉ còn một gia đình vẫn chưa đi lại với bà, đó là nhà Lưu Ngũ Ngũ. Hoàn toàn không phải bà Hạ Ốc có thâm thù gì trong lòng, mà là Lưu Ngũ Ngũ tự biết không xứng đáng với bà góa này, thường không có mặt mũi nào gặp bà. Ở cả vùng này, Lưu Ngũ Ngũ đã mất thanh danh từ lâu, tuy cảnh nhà rất giàu có, nhưng con trai đã ba mươi tuổi vẫn chưa tìm được vợ. Hai vợ chồng sốt ruột lắm, chẳng có cách nào bèn hấp ba mươi cái bánh bao bột mì trắng toát, mang sang nhà bà Hạ Ốc thưa chuyện. Ngay lúc đó bà Hạ Ốc ra vẻ lên mặt nhưng cuối cùng cũng nhận lời.


Đúng vào tháng ba năm đó, có một người đàn bà ở làng bên cạnh quê mẹ đẻ của bà Hạ Ốc tìm đến. Bà không biết chị ta, nhưng khi chị ta nói đến bố chị ta thì bà biết, liền bảo chị ở lại nhà bà. Chị ta bảo, chị đã lấy chồng được bốn năm, chồng chị là tên đầu trộm đuôi cướp, suốt ngày lang thang ăn tiêu phung phứa, hai người thường đánh chửi nhau. Lần này lại đánh nhau trận nữa, hai người đã cắt đứt quan hệ vợ chồng. Nghe nói nơi bà Hạ Ốc ở đất tốt người hiền, bèn tìm đến nhà nhờ bà làm mối. Bà Hạ Ốc nghĩ ngay đến con trai nhà Ngũ Ngũ, nhanh chóng se duyên cho họ. Con trai của Ngũ Ngũ sốt sắng lấy vợ từ lâu, nên cũng chẳng chê gái đã có chồng, ngày mồng một mới nhận giấy đăng ký, ngày mười rằm đã cưới vợ nhập phòng.


Người đàn bà này về làm dâu nhà họ Lưu cũng rất yên phận với cuộc sống. Sáu tháng sau sinh một đứa con trai. Người làng ai cũng bảo đứa bé này không phải con của con trai Ngũ Ngũ. Nhưng cả nhà Ngũ Ngũ không đếm xỉa, vẫn tổ chức ăn mừng “đầy tháng” cho đứa trẻ. Đứa trẻ được nửa năm, Ngũ Ngũ thường bế rong chơi ở đầu ngõ, cứ luôn mồm “Cười với ông đi nào”, “Cười với ông đi nào”.


Ngày vui kéo dài thêm được ba tháng thì bắt đầu nổi cơn sóng gió. Một hôm, có người đàn ông đến làng, trông dáng dữ lắm, đưa ra một tấm ảnh cho mọi người xem. Mọi người xem, thì hóa ra người trong ảnh không ai khác mà chính là con dâu nhà Ngũ Ngũ. Người đàn ông ấy chửi một tiếng, rồi tìm đến nhà Ngũ Ngũ.


Sau đó người ta mới biết, thì ra con dâu nhà Ngũ Ngũ chưa ly hôn với chồng cũ, chỉ là tự bỏ đi sau một trận đánh nhau. Bây giờ chồng trước tìm đến, anh ta không cho phân bua, xông vào đánh túi bụi. Con trai Ngũ Ngũ được tin chạy về, hai bên đánh nhau sứt đầu mẻ trán, cả làng nháo nhác chạy đến xem.


Cả hai người đàn ông đều đưa ra giấy đăng ký kết hôn, nói người đàn bà kia là vợ mình. Anh chồng cũ lại tìm đến trụ sở công xã trách cứ sao lúc ấy không có giấy chứng nhận vẫn cấp giấy đăng ký kết hôn. Cán bộ công xã bảo, đã có bà Hạ Ốc đứng ra làm chứng. Người chồng trước cứ túm rịt bà Hạ Ốc không buông. Bà Hạ Ốc không ngờ lại đến nông nỗi này, vừa tức vừa hận, truy hỏi người đàn bà kia; chị ta khóc lóc, nhân lúc mọi người sơ ý, đã chạy ra đằng sau nhà thắt cổ tự vẫn.


Thấy có chuyện chết người, dân làng ai cũng hoang mang. Người chồng cũ ôm thằng con trai trở về huyện Sơn Dương. Tội nghiệp cho gia đình Ngũ Ngũ, đã mất con dâu, lại mất đứa trẻ. Ông Ngũ Ngũ lại nổi cơn độc ác, đổ hết tội lên đầu bà Hạ Ốc, bảo bà rắp tâm hãm hại ông, liền dở điên dở dại trong nhà bà, khóc lóc, nằm lì trên giường lò không về. Lại kiện lên huyện, tố cáo bà buôn người. Tòa án huyện nhận đơn kiện, lập tức truyền gọi bà đi.


Dân làng ai cũng thở than thương tiếc, người bảo ông Ngũ Ngũ sai, kẻ bảo bà Hạ Ốc trái. Nhưng ai cũng nhận định: Bà Hạ Ốc đã phạm pháp, đã bị tòa án giải đi, phải chịu ba năm tù.


Nhưng, ba ngày sau, bà đã an toàn trở về. Người ta hỏi tòa án bảo sao, bà không hề hé răng nói một tiếng. Chỉ có điều từ đó trở đi, bà không làm mối cho ai nữa.


Bà Hạ Ốc già đi rõ rệt, không phải vì khó nhọc, cũng không phải do lo buồn, mà quả thật là bà đã già hoàn toàn.


Bà nhổ nốt cái răng cuối cùng, từ đó không còn bị đau răng, song không cắn nổi hạt đậu, hạt dưa. Cơm và thức ăn phải nấu nhão, hầm dừ, trệu trạo mãi trong mồm rồi mới nuốt.


Bà xin đội sản xuất cho hưởng trợ cấp tuổi già. Đội đồng ý. Từ đó, bà ít ra khỏi cửa, suốt ngày nọ sang ngày kia bà chỉ quanh quẩn trong nhà. Nhưng trợ cấp tuổi già thấp lắm, tháng hai giáp hạt, bà vẫn phải xách làn ra đồng hái rau dại về luộc ăn. Tiền tiêu vặt cũng không có, bà thường đi bới nhặt các đống rác, tìm thứ gì đó đem ra chợ bán.


Mùa xuân năm ấy, trong bãi lau sậy ở bờ sông có ba xác chết trẻ con, bà đi lột vải bẩn trên người chết, đem ra sông giặt sạch, phơi trên dây thừng trong sân. Bố tôi tức lắm, lúc ấy đã mắng bà một trận. Bà không dám nói gì, chỉ lặng lẽ thu mảnh vải, đốt lửa hong khô trong nhà, rồi đem ra chợ bán cho một người phụ nữ để làm vải lót đế giày.


Bố tôi đã từng hỏi bà:


- Quả thật bà không có tiền tiêu à?


- Chứ sao, đàn bà góa chỉ có tiêu chứ không có thu...


- Tiền bà bán nhà để làm gì? Bà đã thành người sống hôm nay không có ngày mai, giữ tiền để làm gì?


- Tôi đâu có tiền, tôi làm sao bì với ông được? Nếu hôm nay ăn hết uống cạn, ngày mai chưa chết, thì làm thế nào? Tôi không có tiền.


- Bà thật là! - Bố tôi có phần bực tức.


Bà nhút nhát, nói:


- Xin ông chớ đuổi tôi đi. Tôi không đời nào để thiếu tiền nhà của ông...


Bà nói xong, nước mắt ròng ròng.


 


Bà bảo, viết điếu văn này là để mọi người quên bà đi



Tôi đã viết xong bài điếu văn, đọc cho bà nghe, bà bảo đúng đấy. Khi tôi chuẩn bị trở về thành phố, bà lại nói:


- Tôi sắp đi rồi, biết đâu lần sau anh về, không có tôi nữa. Tôi thường nằm mơ, ban ngày ban mặt ngồi ở đây cũng mơ, có lúc cảm thấy cuộc đời tôi chẳng phải cũng là một giấc mơ ư? Tôi còn tiền, khâu hết trong cái nệm này, tiêu không hết thì cho đứa cháu gái tôi. Tôi là người tốt, tôi cũng không phải là một người tốt. Tôi có lỗi với chồng tôi. Tôi còn có một cái nhẫn vàng anh Tiểu Thủy tặng, tôi luôn giữ gìn nó. Tôi đã từng ăn trộm dây khoai lang và lá đậu tương của đội, có một lần lấy cắp cả khoai lang, hơn mười lăm kilôgam. Anh có thể viết bổ sung những điểm đó vào. Tôi có lỗi với nhà ông Ngũ Ngũ. Tôi là một người đàn bà có thể là quá đáng, tôi chỉ xin nói, tôi tìm vợ cho con trai ông ấy là để bù lại nỗi lòng, ai ngờ lại làm hại ông ấy... Gia đình ông ấy nhất định chửi tôi sau lưng. Xin anh nói giúp với tất cả bà con trong làng, tôi nhờ anh viết bài này, không phải để kể công, cũng không phải để an ủi, chỉ là muốn để bà con dân làng quên tôi đi, không cần nhớ đến ưu điểm của tôi, cũng đừng nhắc đến khuyết điểm của tôi. Tôi là gì? Tôi chẳng là gì cả. Tôi chẳng có gì cả!


Tôi nhớ những lời ấy và đã bổ sung vào bài điếu văn tôi viết cho con người còn sống này, làm phần kết thúc.


Thôn Tĩnh Hư năm 1981


 


Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005.







(1) Một mẫu Trung Quốc bằng một sào tám Bắc Bộ (ND).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »