tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
05.03.2015
Vũ Hùng
Đò trăng


Nhà văn Triệu Xuân: Năm 2001, khi đang làm Trưởng Chi nhánh NXB Văn học tại TP Hồ Chí Minh, tôi nhận được hai tập bản thảo của nhà văn Vũ Hùng từ Pháp gửi về: Đò trăng và Mây trôi. Tôi đã biên tập rất kỹ và đề nghị cấp Giấy phép xuất bản. Rất tiếc, lúc đó... việc chưa thành! Nay, nhân dịp những tác phẩm của Vũ Hùng được NXB Kim Đồng tái bản, tôi lần lượt post những truyện ngắn trong tác phẩm Đò trăng, in tại Pháp.


 


. Minh và Toàn được điều động sang giúp chiến trường Lào. Đi chiến trường xa, chẳng biết ngày nào mới có cơ hội trở về, họ được hưỏng một chút ưu tiên dành cho những người làm nhiệm vụ đặc biệt: hành quân qua khu Ba, họ sẽ được nghỉ phép mười ngày về thăm gia đình, trước khi đến đơn vị mới.


 


 


Vượt gần bốn trăm cây số đường núi vương vất mây mù của miền cực Nam Trung Quốc, qua vùng biên giới hiểm trở đầy những dốc đá cheo leo phía Bắc tỉnh Hà Giang, chân họ đã mỏi. Đến Tuyên Quang, họ quyết định xuôi đò. Chân đỡ mỏi, lại được đường vì đò xuôi đêm. Tới bến Sơn Tây, họ sẽ chuyển sang đò sông Đáy về Vân Đình. Từ đó họ sẽ đi tiếp về phía những dãy núi của huyện Kim Bảng, Hà Nam, nơi gia đình họ tản cư...


SÔNG NƯỚC


Bước xuống thuyền, Minh đã hỏi:


- Đò giang sông nước, các bác lái có kiêng cữ gì không?


Minh có kinh nghiệm từ ngày mới tản cư khỏi Hànội: người dân quê vui lòng nhường nhà cửa cho người tản cư nhưng vẫn nhiều kiêng kị. Họ không cho những cặp vợ chồng trẻ ngủ chung giường, không cho sản phụ đẻ trong nhà, tin rằng những chuyện đó mang lại rủi ro. (Thật lạ lùng: chuyện ốm đau, tang tóc thì họ lại không kiêng)


Người sống trên sông nước, thuyền của họ luôn luôn bị máy bay lùng tìm đánh phá, ngày đêm bị ám ảnh bởi những chuyện đắm đò trôi sông, vì thế đầu óc mê tín càng nặng nề hơn.


Nghe hỏi, ông lái đò ngẩng lên:


- Ôi dào! Ông sởi lởi trả lời. Bây giờ tiến bộ, chẳng kiêng kị gì . Hai anh cứ tự nhiên như ở nhà.


- Ông lái xếp cho chúng tôi ở đâu?


- Hai anh cứ vào khoang, còn hai chỗ, chỗ nào rộng thì các anh tự xếp lấy mà nằm.


Trong khoang đã có sẵn một cặp vợ chồng với mấy đứa bé, chắc là một gia đình tản cư tìm đường về xuôi để tránh sốt rét cho các con. Ở một góc thấy hai cô gái xinh xắn, áo cánh phin màu gụ, mỗi cô có một chiếc bị cói đeo vai đặt bên cạnh. Trong bóng mát dìu dịu của khoang thuyền, màu áo xẫm làm nổi rõ hai khuôn mặt tươi trẻ bầu bầu, trăng trắng.


Một cô nhanh nhảu nói:


- Hai anh bộ đội vào đây, chỗ này còn rộng.


- Chỗ nào hả em?


- Cạnh em đây này.


Vừa nói, cô gái vừa ôm sát cái bị cói vào người, chỉ chỗ cho Minh.


- Còn anh kia, em chẳng biết tên, anh sang ngồi cạnh cái Huệ, bên ấy còn một chỗ.


Cô gái phía bên kia, Huệ, chào họ rồi nói:


- Con Cúc này! Sao mày rẽ đôi các anh ấy thế?


- Tạm thôi mà! Bao giờ lên bờ các anh ấy lại đi đôi.


Minh và Toàn đặt balô, bao gạo xuống chỗ cô gái chỉ cho họ. Minh tự giới thiệu:


- Anh là Minh, còn cậu kia là Toàn. Nào, các em, chúng ta làm quen. Hai em về đâu?


- Về bến Sơn Tây.


- Công tác à?


- Không. Chúng em đi... cất hàng.


Thấy hai cô gái có vẻ rụt rè khi nói mình đi buôn, Toàn bảo:


- Mỗi người mỗi việc, việc nào mà chẳng quý. Nếu được một người vợ tháo vát, kiếm ra tiền như các em, thay mình trông nom chăm sóc gia đình thì bọn anh đi xa mới thực sự yên tâm.


- Các em ở đâu? Minh hỏi. Tuyên Quang à?


- Không! Chúng em tản cư lên Tuyên thôi! Gia đình chúng em quê ở Hà đông.


- À! Hà Đông, quê của nghề dệt lụa. Các cô gái Hà Đông vừa đẹp vừa đảm lắm đấy nhé.


Thuyền đã đủ khách. Núi Tràng Đà bên kia thị xã Tuyên Quang phảng phất bóng chiều. Đêm tối sẽ che trở cho sông nước. Ông lái nhổ sào, đẩy thuyền ra xa. Gần đầu nguồn, sông Lô trong veo, xanh biếc. Nước chảy xiết. Được buông giữa dòng, thuyền theo nước trôi băng băng.


Bốn người rủ nhau ra ngồi trên mui thuyền. Trăng đang lên. Dòng sông dần dần mở rộng. Nước bắt đầu chẩy chậm, sóng sánh và sáng như bạc. Những bãi ngô ven bờ mờ mịt lung lay. Thuyền trôi dần vào giữa những vách núi tím xẫm: đã đến bến Bình Ca...


Cúc cất tiếng hát. Những âm vang khẽ khàng:


Hỡi cô con gái giặt áo bên bờ


Thuyền tôi đỗ bến sông Lô... (Phạm Duy)


Bỗng ngừng hát, Cúc hỏi:


- Anh Minh, anh Toàn ơi! Các anh học bên Tàu về, phải không?


Minh và Toàn ậm ừ...


- Đừng giấu chúng em! Quần áo thế kia thì giấu thế nào được!


Ngày ấy, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mặc trang phục theo quân Giải phóng Trung quốc. Cả hai quân đội đều chưa có quân hàm, chỉ nhìn vào quần áo mà phân biệt: sĩ quan mặc áo "bốn túi", hạ sĩ quan và lính mặc áo "vá vai hai túi". Mở đầu là những lớp Thuỷ quân và Lục quân học ở Trung Quốc trở về.


- Cúc ơi, Huệ nói, sao mày cứ hỏi dò nhiều thế! Có để cho hai anh ấy yên không?


- Trẻ thế mà đã "bốn túi", Cúc vẫn tiếp tục.


Minh trả lời:


- Chỉ là may mắn thôi, các em ơi! Bọn anh chẳng tài cán gì hơn ai. Đang đi học văn hoá, người ta đến tuyển vào các trường quân sự, học xong thì thành "bốn túi".


- Nếu chẳng may, Toàn tiếp theo, người ta quẳng ngay bọn anh xuống đơn vị chiến đấu thì lại chỉ là "ba mươi sáu đường gian khổ".


- Cái gì mà nhiều gian khổ thế, hai anh?


- Các em không biết à? Ngoài việc chiến đấu, lính tráng còn phải làm đủ các việc khác: "nước sông công lính", "ăn no vác nặng", lại đeo súng dài, vai áo chóng bị cọ rách nên người ta vá đụp sẵn. Giống như các em có cái quần rách gối đem ra nhờ ông thợ may máy chằng chịt thêm cho mấy chục đường. Áo lính cũng thế, mỗi vai đếm được mười tám đường, hai vai là chẵn... "ba mươi sáu đưòng gian khổ"!


Họ trò truyện đến khuya. Sương buông trắng những cánh rừng hai bên bờ, khiến sông nước càng mông lung. Một thoáng se lạnh tê tê trên mặt. Cơn gió thoảng qua cũng làm rùng mình.


-Sương xuống nhiều quá rồi, Cúc nói. Chúng mình vào trong khoang đi, hai anh!


Nằm bên hai người con gái dưới ánh đèn, Minh và Toàn thấy chông chênh, ngường ngượng thế nào! Họ tháo balô, lấy chăn.


Lúc này, Cúc nhìn Minh đắm đuối. Giọng Cúc bỗng hồi hộp:


- Em lạnh! Cho em... đắp với, được không?


Minh trả lời rất khẽ:


- Sao lại không? Vào đi, em!


Rồi càng khẽ hơn:


- Nếu lạnh thì... ôm lấy anh cho đỡ!


Nhìn sang bên, Minh thấy Toàn và Huệ đã chùm chăn kín mít tự bao giờ.


Ngọn đèn treo trên khoang cháy leo lét nhưng cũng đủ để soi sáng. Từ phía lái sau thuyền, ông lái đã nhìn thấy hết. Nhưng ông thầm bảo:"Các anh ấy xa nhà xa cửa, muộn vợ muộn con, hưởng được chút may mắn giữa đường thì cũng đâu có gì thiệt thòi cho nhà đò!"


Ông gọi vào:


- Trăng sáng thế này, để đèn mãi làm gì. Hai anh bộ đội tắt giúp tôi đi!


Được lời ông lái, Toàn nằm ngay dưới ngọn đèn liền nhỏm dậy. Một tiếng thổi phụt. Từ trong chăn, Cúc ló mắt ra nhìn. Khoang thuyền đã tối om. Cô ôm riết lấy Minh.


Trong chăn bên cũng vậy, tự bao giờ Huệ đã ôm riết lấy Toàn.


CẮM SÀO


Nắng chưa lên mà đã thấy tiếng máy bay ì ầm ở xa. Vợ chồng ông lái ngừng chèo, tạt thuyền vào ven sông, dưới một lùm cây rậm:


- Cắm sào nào! Dậy thôi, các ông các bà ơi! Máy bay nó đến bây giờ đấy!


Hàng ngày, trên những con sông lớn, sông Hồng, sông Lô, sông Luộc... từ sớm đã thấy vài chiếc thuỷ phi thuyền Catalina bay là là mặt nước để doạ những con thuyền xuôi ngược. Các bác lái chè, lái thuốc lào gánh bộ từ khu Ba, khu Bốn lên Việt Bắc còn nói: trên các nẻo đường, máy bay Junker thường bay chậm và rất thấp, thả móc sắt xuống để doạ người đi đường và móc hàng của họ, khiến nhiều khi họ phảị bỏ chạy nháo nhào...


Minh và Cúc lười biếng ló đầu ra khỏi chăn. Toàn và Huệ cũng đã dậy. Bốn người nhìn nhau, thoáng chút ngượng ngùng. Nhất là Minh và Toàn, họ muốn nói với nhau một điều gì đó.


Vợ ông lái cầm chiêc rá giơ ra trước những người khách còn ngái ngủ:


- Góp gạo nào, các bác! Nhà đò thổi cơm chung, mọi người cùng ăn, các bác đỡ mất công thổi!


Bà múc trong hũ gạo của nhà mình hai bơ, trút vào rá. Tiếng những hạt gạo rơi rào rào. Mọi người lần lượt làm theo.


Cúc ngập ngừng:


- Chị em chúng tôi không mang theo gạo, chúng tôi trả tiền, có được không?


Minh gạt đi:


- Hai em đã đi với bộ đội thì đừng làm khách!


Minh cởi bao gạo, lấy ra bốn bơ. Ngoài ra, Minh còn đưa một lọ mắm kem, thứ nước mắm đã cô đặc như keo, đồ quân dụng phát cho lính tráng hành quân đường xa.


- Để nhà đò nấu canh, Minh nói


Cắm xong cây sào neo thuyền, ông lái mắc mồi vào mấy dây câu, buông xuống nước. Ông còn lấy mấy chiếc lờ buộc bên mạn thuyền, đập vỡ mấy con ốc sống, bỏ vào trong rồi thả xuống sông Vừa làm, ông vừa nói:


- Ai đi vệ sinh thì lên bãi. Đi sâu vào bên trong, còn bãi ngoài để bà nhà tôi lên kiếm mớ rau láo nháo, nấu bữa canh.


Ông lái bắc một tấm ván làm cầu cho mọi người lên bờ. Nhân lúc vắng, Toàn và Minh hội ý. Đó là nếp sinh hoạt đã được quy định của lính.


- Có gì không? Minh hỏi.


- Không! Toàn lắc đầu.


Họ lặng im nhìn nhau. Một thoả thuận không lời đã được nhanh chóng quyết định: bí mật này mãi mãi sẽ không ai nói.


Có gì nhiều đâu để nói! Không biết thực hay hư, lính tráng vẫn truyền tai nhau: "Có lần cụ Hồ đến thăm một đơn vị. Những người tháp tùng báo cáo với cụ, dân trong vùng kêu đơn vị bộ đội này "khua khoắng" lắm, xin cụ có lời huấn thị cho cấp chỉ huy. Cụ cười mà dặn: anh em cũng là người như các chú, như bác, lại đang tuổi thanh niên, tránh sao khỏi yêu đương, ham muốn. Nhưng bảo anh em phải kín đáo, đừng để dân kêu."


Đấy! Có gì quan trọng lắm đâu! Chỉ cần các em bằng lòng và đừng để dân kêu! Mà thời buổi chiến tranh thiếu vắng đàn ông, các em... thường rất dễ bằng lòng!


Khi họ trở về thuyền, bữa cơm đường dài đã chuẩn bị xong. Cơm thổi nồi đất, bay hơi ngào ngạt. Miếng xém cuối nồi chắc phải rất giòn và thơm. Có canh rau giền lẫn với rau dớn, cải xoong, rau ngót rừng và những loại rau dại khác mà người ta gọi là "rau láo nháo", nấu với trứng cáy. Lại có cả́ món cá ông lái vừa bắt dưới sông, kho nhanh trong nước mắm kem pha loãng...


Lúc này họ mới nhìn rõ lũ trẻ. Chúng gầy gầy nhưng mặt mũi đứa nào cũng sáng sủa. Cuối bữa, bà lái chia cho mỗi đứa một miếng xém. Chúng ăn rất thong thả, chừng như sợ miếng xém giòn mau hết.


Nhìn chúng ăn, Cúc thì thầm bên tai Minh:


- Anh xem: lũ trẻ ăn trông có ngon không! Nếu có con em sẽ nuôi nó lớn rồi mẹ con em dắt nhau đi tìm anh!


LẠI MỘT ĐÊM TRĂNG


Cúc lấy trong bị cói cuốn sổ tay và cây bút:


- Hai anh có bài hát nào hay, chép cho chúng em mấy bài.


Cuốn sổ nhàu nát, ghi những chi tiêu dọc đường của Cúc. Minh lấy trong balô cho Cúc một cuốn sổ mới, bìa cứng mua từ bên Trung Quốc. Toàn cũng lấy một cuốn cho Huệ. Họ ghi vài lời đề tặng và địa chỉ quê quán của mình.


- Tặng hai em. Bọn anh thuộc nhiều bài hát nhưng toàn những bài chiến đấu, các em hát không hợp đâu.


- Chẳng lẽ không có bài nào về tình yêu?


- Cũng có, nhưng ít lắm! Một vài bài để hát khi buồn. Có một bài hát Nga, nói về nỗi bất hạnh của người lính. Chiến tranh kết thúc, người lính trở về quê hương, tưởng được hưởng bình yên hạnh phúc nhưng người tình của mình không còn nữa. Em đã chết! Anh đi tìm mộ cô gái, lang thang chẳng biết tìm đâu. Bài hát mang tên người tình không may mắn của anh: nàng Soulikô.


- Hai anh hát thử cho chúng em nghe nào.


- Bài này không phải để đồng ca, chỉ để hát thầm, hát một mình. Toàn hát hay, để nó hát.


Toàn hát khe khẽ:


Đã bao ngày anh đi kiếm tìm quanh


Em thân yêu nơi đâu nấm mồ xanh... ( Soulikô )


- Chép rồi dạy chúng em đi! Hay quá, nhưng sao mà buồn thế!


- Chiến tranh có bao giờ vui đâu, các em ơi!


... Buổi chiều, thuyền ghé bến sớm để ông lái còn đặt lờ buông câu và bà lái nấu ăn cho mọi người như bữa sáng. Lại canh rau láo nháo nấu trứng cáy ngọt ngào, lại cá mới đánh bắt. Bữa cơm nhà đò thân mật và giản dị nhưng đối với lính còn sang hơn tiệc.


Đêm xuống, bà lái không để đèn sáng như đầu đêm qua. Khoang thuyền lúc nào cũng tối.


Ông lái bảo vợ:


- Bu nó không phải đốt đèn cho đỡ tốn dầu. Để khoang tối cho khách ngủ yên, sớm mai đến bến khách còn có sức mà đi bộ.


Minh và Toàn thầm cám ơn những việc làm tốt lành kín đáo của ông. Mấy lời đó, không phải ông chỉ nói riêng với bà lái.


Chèo khua đều đều. Nước vỗ róc rách. Con đò lắc lư. Khuya lắm mới thấy có tiếng ông lái bên ngoài:


- Trăng lên sáng quá. Sáng như gương.


- Về đến đâu rồi, ông lái ơi? Minh hỏi.


- Gần đến Hạc rồi! Chỉ sáng sớm là về đến bến Sơn.


Minh rủ Cúc:


- Ra ngoài nhìn trăng một lúc đi em. Ông lái bảo bên ngoài trăng sáng lắm.


- Sáng sớm đã về đến Sơn rồi, Cúc thì thầm, có còn gần nhau được bao lâu nữa đâu. Thôi, nằm trong này với em!


Minh muốn ra ngoài nhìn trăng, nói vài câu cám ơn ông lái, nhưng không nỡ bỏ Cúc một mình.


Có tiếng Huệ và Toàn thì thầm trong tấm chăn kề bên. Trong chăn bên này, Cúc khe khẽ hỏi:


- Em yêu anh, anh Minh ơi! Yêu quá cơ! Yêu anh như đã gặp nhau từ lâu lắm! Nếu trời cho sống sót, chúng ta gặp lại, anh có lấy em làm vợ không?


- Có. Nhưng anh sẽ không cho em đi buôn chuyến nữa. Đi mãi như thế hư người!


Cúc lần tìm tay Minh, nắm chặt. Có một điều bí mật, đến lúc này cô gái mới để lộ:


- Anh Minh ơi! Đừng nghĩ thế, oan uổng bọn em! Anh trai em, anh trai cái Huệ cũng đi bộ đội. Các anh ấy chẳng được học trường nào, vào lính là đi chiến đấu ngay... Chỉ là... "ba mươi sáu đường gian khổ"... Em với cái Huệ thì xuôi ngược để nuôi mẹ, nuôi em. Con trai bỏ đi cả, ở nhà biết trông cậy vào ai? Đi không phải để tìm kiếm đàn ông, gặp anh chỉ là tình cờ, may mắn...


- Xin lỗi Cúc! Anh lỡ lời!


Họ lặng im. Rất lâu Minh mới nói:


- Cúc ơi, anh cũng yêu em. Các em cũng phải gánh vác cuộc chiến tranh này, vừa chạy giặc vừa nuôi mẹ nuôi em, chẳng ai đỡ đần. Thương lắm! Nhưng anh chẳng biết tương lai sẽ ra sao để mà hứa hẹn với em. Bọn anh phải đến một nơi rất xa, lạ nước lạ người, chẳng biết ngày nào mới trở về. Lính tráng lại sống nay, chết mai, chẳng có gì chắc chắn. Bỏ qua cho anh!


- Anh có lỗi gì đâu! Đừng hứa hẹn! Cũng đừng buồn, phí mất đêm nay!


DÒNG SÔNG VẪN TRÔI


Thuyền đã cặp bến Sơn Tây, nhưng hai cô gái không ở lại cất hàng.


- Thôi, chúng em đi tiếp xuống Vân Đình. Lấy hàng thẳng dưới đó vất vả hơn nhưng rẻ hơn. Lại được đi thêm với các anh một đoạn đường. Nghĩ đến ngày phải chia tay với các anh, chúng em buồn quá!


Bốn người đưa nhau ra bến đò sông Đáy. Buổi sốm, những chiếc thuyền lớn đã đi trốn máy bay, chỉ còn lèo tèo vài chiếc thuyền con trên bến.


- Bọn mình thuê riêng một chuyến mà đi, Minh ạ! Toàn đề nghị. Khỏi phải chung đụng với ai.


- Đồng ý! Minh nói. Rồi gọi to:


- Đò ơ... ơì! Ơ... ơi đò! Đò nào đi Vân Đình cho chúng tôi thuê riêng một chuyến!


- Đò tôi đây! Một tiếng đàn bà trả lời. Mấy người?


- Bốn!


- Sáu người mới đủ chuyến. Đò nhà tôi rộng.


- Thì hãy bốn. Rồi đi đường lấy thêm khách.


- Đò đi đêm, lấy đâu ra thêm khách!


- Hãy ra gặp khách đã nào. Rồi ta bàn lại.


Người đàn bà ra khỏi khoang. Bác nhìn đám khách rồi nói vọng vào:


- Hai anh bộ đội với hai cô, nhà ạ!


Minh giải thích:


- Chúng tôi không vội. Các bác cứ buông cho đò xuôi, chẳng phải chèo chống gì, lúc nào đến bến thì đến. Chở chúng tôi không vất vả đâu.


Người đàn ông cũng đã ra khỏi khoang. Sau một chút lưỡng lự, bác nhổ sào để đẩy đò vào bờ:


- Nào! Mời hai anh và hai cô lên!


Khoang đò rộng, đủ chỗ nằm cho năm sáu người. Minh hỏi:


- Cứ thủng thẳng buông trôi thì về Vân Đinh hết bao lâu hả bác lái?


- Hai ngày một đêm. Ngày và đêm nay, xâm xẩm chiều mai thì đến.


- Sao bác không đi hai đêm một ngày để tránh máy bay? Chiều nay hãy đi, qua đêm nay, đêm mai, sáng mốt thì tới.


- Không đi đâu mà vội, các bác ạ! Toàn nói thêm. Cứ từ từ, thong thả. Đi hai đêm một ngày cho nó an toàn.


- Tuỳ khách! Chỉ sợ khách vội thôi, còn chúng tôi thì thế nào cũng được.


Lúc này vợ bác lái mới nói góp:


- Đi đêm cũng được, nhà ạ! Vừa mát, vừa sáng. Đêm nay, đêm mai trăng đang tròn.


Bác lái gật đầu.


Thấy bác đồng ý hai đêm một ngày, mắt hai cô gái bừng sáng. Họ mủm mỉm cười. Có hai chàng trai, có đêm và trăng, cuộc sống trôi giạt của họ chợt loé lên một chút hạnh phúc và bình yên.


Minh đề nghị tiếp:


- Bác cắm đò chỗ nào kín đáo vừa tránh máy bay, vừa có chỗ cho chúng tôi tắm giặt, chiều nhổ sào.


Trong khoang, Toàn lấy ra hai bánh xà phòng "Đêm Thượng Hải", mua ở căng tin nhà trường.


- Tặng hai em. Đi tắm mát rồi về nghỉ, chiều đi tiếp.


- Ôi, thích quá! Vân Đình, Chợ Đại cũng chẳng có thứ xà phòng thơm nức thế này. Cám ơn hai anh!


Đò nhổ sào khi chiều nghiêng nắng. Bác lái buông chèo, ngồi ung dung phía sau giữ lái. Vợ bác ngồi đầu mũi, tay nắm mái chèo thỉnh thoảng mới khoát nước, mắt lơ đãng nhìn mây bay.


Đò trôi lờ lững. Lần lượt những con đò đi sau, có người chèo, vượt lên trước. Những đám lục bình rung rinh hoa tím cũng đuổi theo. Chúng nhẹ bồng bềnh, được nước đẩy, chẳng mấy chốc đã bắt kịp con đò.


Sông Đáy uốn lượn giữa đồng ruộng bao la. Mặt trời vừa xuống khuất phía Tây thì trăng đã nhô khỏi luỹ tre làng. Không bị núi che chắn, trăng lên nhanh.


Ánh trăng tràn trề sông nước...


VH.


Nguồn: Rút từ tập truyện Đò trăng, viết và in tại Pháp sau năm 1990./ www.vu-hung.com

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »