Con suối chiều qua trôi hiền hoà, còn lội ngang được, sau đêm mưa, lũ về, đã gầm réo, tung nước trắng xoá những tảng đá nằm chắn giữa dòng chảy. Đoàn dân công, với những gánh gạo nặng nề, đứng tắc nghẽn trên bờ. Người đoàn trưởng mượn chiếc đòn gánh của một cô dân công chọc xuống dòng suối để thăm dò mức nước. Đòn gánh không chạm đáy, bị nước lật nghiêng, rung lên bần bật.
Đưa dân công đi lại thường xuyên trên đường vượt Trường Sơn, người đoàn trưởng đã có kinh nghiệm. Cơn lṹ sẽ kéo dài nhiều ngày, có khi cả tuần. Mùa này đường đất sang Lào vẫn thế, chợt nắng chợt mưa!
- Các đội cho anh chị em làm lán tạm nghi, chờ nước rút! Người đoàn trưởng ra lệnh.
Đoàn dân công liền tạt vào ven đường. Lát sau tiếng chặt cây dựng lán đã vang khắp rừng sâu.
Giữa lúc đó thì bọn họ đi tới. Hắn là một người trong bọn. Một nhóm sĩ quan học bên Trung Quốc mới trở về. Những chàng trai này tràn trề sức lực và quyết tâm. Chừng như họ muốn thử sức với mọi hoàn cảnh. Họ đứng nhìn dòng suối.
- Nước chẩy xiết quá! Một người nói.
- Cũng phải vượt thôi! Về đơn vị mới, không nên đến muộn, dù có lí do.
Họ rất có kỉ luật và rất trọng danh dự.
Nghe họ bàn việc vượt suối lúc này, người đoàn trường dân công liền nói:
- Nguy hiểm lắm, mấy anh ạ! Từ lúc chúng tôi đến, mới đó mà nước đã dâng ngập bờ. Có thể sang được một vài người nhưng sang được người này còn phải tính đến người kia.
- Chúng tôi sẽ có cách để cùng sang bên kia bờ an toàn.
Hắn là người có kinh nghiệm vượt sông vì hắn đã qua một khoá huấn kuyện Thuỷ quân. Ngày ấy trường hắn, trường Thuỷ quân Việt Nam, đóng trên bờ sông Chảy, một dòng sông lớn của chiến khu Việt Bắc bốn mùa nước chảy xiết. Tên sông là sông Chảy kia mà! Mỗi sáng vào giờ thể dục, các đơn vị bộ binh tập chạy thì đơn vị hắn tập bơi.
Hắn đề nghị các bạn tập trung lại cho hắn những cuộn dây dù vẫn dùng để mắc võng. Nối thành một cuộn dài, đầu buộc một hòn đá lớn, hắn tung sợi dây sang một cành cây bên kia bờ. Có lẽ phải đến lần thứ hai mươi, sợi dây có hòn đá mới cuốn được mấy vòng quanh cành cây. Hắn giật giật thử xem sợi dây đã bám chắc chưa rồi buộc dây quanh bụng và bơi sang. Sợi dây căng rùng rùng, nước cuốn bạt hắn xuống phía dưới dòng chảy. Cuối cùng hắn đã sang được bên kia bờ. Hắn tháo sợi dây, buộc thật chắc chắn vào một gốc cây rồi ném đầu buộc đá lại cho các bạn ở phía bên kia. Lần này mọi việc đã dễ dàng. Trước hết các bạn hắn bọc balô trong tấm vải nhựa vẫn dùng để che mưa khi hành quân rồi buộc vào dây cho hắn kéo sang. Sau khi đồ đạc đã sang hết, hắn kéo người. Họ đã vượt cơn lũ an toàn, trước con mắt khâm phục của đoàn dân công...
Hắn tiếp tục cuộc hành trình, cùng các bạn lên đường trong niềm phấn khởi.
Hồi còn ở trường, hắn rất thích một câu trong một bài hát Trung Quốc mà hắn cùng bè bạn đã hát cả trăm lần, hát trong nhịp hành tiến từ doanh trại ra thao trường, từ thao trường về doanh trại hoặc khi có những dịp diễu hành nghi thức.
Hướng tiền! Hướng tiền! Hướng tiền, hướng!
Ngã môn đích đội ngũ hướng thái dương
Túc thác Tổ quốc đích đại địa. . .*
Tiến! Tiến! Tiến! Tiến! Tiến! Tiến! Tiến !
Bộ đội của ta nhìn hướng thái dương
Đội trời đạp đất núi sông hùng cường...
« Đội trời đạp đất », từ ngày còn là học sinh Trung học hắn đã thích cái ý tưởng ngang tàng ấy của Cụ Nguyễn Du. Cả một lứa bè bạn của hắn cũng yêu thích :
Đội trời đạp đất ở đời...
Mỗi khi vượt qua một khó khăn, một hiểm nghèo, hắn lại nghĩ đến câu thơ này. Hắn đã từng xông pha chiến trận, từng đặt gót phiêu lãng lên nhiều xứ sở, từng lên đến ngọn nguồn của sông Lô, từng leo rặng núi hiểm trở Thập Vạn Đại Sơn, từng vượt Trường Sơn, vượt thác ngàn mưa lũ. Và lần này, hắn sang đất Lào. Một ngày nào đó, hắn sẽ xuôi ngược trên dòng Mêkông, con sông lớn của những dòng sông lớn. . .
Hắn cũng « đội trời đạp đất » lắm đấy chứ !
*
Bọn họ đã tới căn cứ.
Đó là một vùng lèn đá, lèn nọ nối tiếp lèn kia nổi lên giữa đồng bằng bao la. Bộ chỉ huy đóng trong những hang động. Cây lá làm ánh sáng của mặt trời Lào bớt chói chang và hơi núi làm dịu cái nóng hầm hập của nắng lửa. Ve kêu miên man khiến hẳn tưởng trời đất đang thanh bình. Hắn hạ ba lô, ngồi tựa lưng vào một phiến đá lớn, lơ mơ hưởng một chút cảm giác êm mát toả ra từ đá.
Người đội trưởng bỗng gọi :
- Các đồng chí đưa «bản mệnh » nộp lên ban Tổ chức.
Hắn mở ba lô, lấy « bản mệnh » của hắn trao cho người đội trưởng. « Bản mệnh » là cái gì nghe kì vậy ? Đó là cuốn lí lịch, một cuốn sổ nhỏ và mỏng nhét trong một phong bì màu vàng rơm, có dấu xi niêm phong. Nhỏ và mỏng nhưng nó quyết định vận mệnh của mỗi người ! Theo nề nếp có từ ngày tư tưởng và tác phong Trung Quốc nhập vào Việt Nam, do học viên của trường hắn bị chọn làm « thí điểm », « bản mệnh » đi theo người trong mọi cuộc thuyên chuyển. Người được điều động tự mình cõng « bản mệnh » của mình đến giao nộp cho đơn vị mới, hoàn toàn không biết cấp trên đã và sẽ ghi chép những gì về mình trong đó.
Hắn tiêu hoá được nhiều điều trong kĩ thuật tác chiến, trong chuyên môn dạy ở trường, nhưng việc này thì hắn không sao tiêu hoá nổi. Nhiều bè bạn của hắn cũng vậy.
Người ta giáo dục hắn phải tuyệt đối tin tưởng và phục tùng Tổ chức : Tổ chức luôn sáng suốt và công minh. Tổ chức là ai mà siêu việt vậy ? Những người làm công việc này chẳng qua cũng chỉ là người như hắn. Họ có những đức tính mà cũng có tật xấu, nhiều khi còn xấu hơn những người mà họ cai quản, có lúc sáng suốt mà cũng có lúc tối tăm.
Hắn rất bực mình với cái dấu xi niêm phong «bản mệnh ». Nhưng hắn sợ ! Bàn tay hắn mạnh mẽ, chỉ một cái bóp nhẹ là dấu xi sẽ vỡ tan tành. Vậy mà nó cứ trơ trơ trước mắt hắn, vững vàng như tường đồng vách sắt. Như một thứ bùa yểm ! Với lời nguyển : Ta yểm cho mi không thể nào ngóc đầu lên được!
Thời thế mỗi ngày mỗi xấu đi một cách khó hiểu. Không còn thấy đâu không khí hồ hởi của buổi dầu cách mạng, khi hàng chục ngàn học sinh như hắn tình nguyện rời bỏ nhà trường văn hoá, nhập ngũ vào học các trường quân sự.
Đáng lẽ hắn phải kêu lên lời cảnh báo : Không ai chọn trước được nơi mình sẽ ra đời. Sinh ra từ một tầng lớp khác với tầng lớp công nông không phải là tội lỗi. Các người làm công tác tổ chức ! Hãy công khai bản lí lịch! Đừng bí mật ghi chép vào đó những gì không đúng sự thật!
Suốt ba mươi năm làm lính, hắn nhẫn nhục, chưa bao giờ dám mở miệng nói những lời như thế. Hắn dũng cảm ở đâu đâu, nhưng ở việc này, liên quan đến ý nghĩa và danh dự của đời người, thì hắn chẳng «đội trời đạp đất » chút nào! Hắn chỉ là một kẻ hèn nhát !
*
Ba con voi Bạc-heng, Bạc-mày và Sao-nọi được tắm rửa sạch bóng, trang sức thật lộng lẫy. Hai con voi đực, mỗi con đeo sáu cặp vòng bạc lấp lánh ở đôi ngà. Còn Sao-nọi vì không có ngà, được bác Thao Phêng kẹp cho hai mảng lá đồng lấp lánh ở hai tai. Cả ba con voi cùng mang ngù hoa trên đầu, má bôi sơn thành những hình như một tấm thổ cẩm. Chúng quàng ở cổ một dây hoa rừng đủ màu sắc và những chiếc lục lạc sáng ngời, mang trên lưng tấm đệm sặc rỡ đầy tua xanh đỏ. Theo mỗi bước chúng đi, dây tua rung rinh và lục lạc lanh lảnh reo vui.
Bác Bun-mi, bác Thao Phêng cùng các quản tượng trịnh trọng giong chúng ra bãi voi làng trong nhịp khèn dìu dặt của hàng chục trai làng. Họ buộc mỗi con cạnh một chiếc bàn, trên có để một cây đòng sáng loáng và một kẹp lá dài như lá cọ. Đó là tập lá "bay lan", một thứ lá bền dai và mịn bóng, có rất nhiều trong các rừng Lào.
Từ bao lâu nay, "tiểu sử" của lũ voi nhà được người các làng voi ghi trên lá "bay lan" để truyền lại từ đời ông cha đến đời con cháu. Không phải người làng voi thiếu giấy nhưng họ đã quen dùng thứ lá rừng này từ ngàn xưa vì chỉ có nó mới giữ được bền, thích hợp với đời sống dài lâu của loài voi.
Bác Bun-mi lần lượt dẫn các chiến sĩ tới chỗ từng con voi, trước hết đến chỗ Bạc-heng. Bác đưa tập lá "bay lan" để trên bàn cho tiểu đội trưởng Hưng đọc.
Tập lá ghi con Bạc-heng bao nhiêu tuổi, về với người trong trường hợp nào, thái độ ngang tàng của nó sau cuộc săn bắt khi chưa quen đời sống dưới làng. Tiếp đó, tập lá chép lại sự thay đổi tính nết của con voi, tên các quản tượng từ người rèn dạy đầu tiên đến
người thường đưa dắt nó trong các chuyến đi.
Những trang lá "bay lan" tiếp sau dành để ghi công trạng mà Bạc-heng đã giúp cho làng Vông-xay. Những trang ấy dài dặc. Con voi đã dự hàng chục cuộc săn lớn, cứu người hai lần, bị thương ba lần, từng thồ hàng đi xa hơn trăm chuyến và phá hoang cho làng Vông-xay mấy chục khoảnh ruộng và nương rẫy.
Bác Bun-mi giở tập lá "bay lan", lấy cây kim nắn nót trích một hàng chữ to, viết tiếp "tiểu sử" của con Bạc-heng: "Hôm nay là ngày... tháng... năm... người làng Vông-xay tặng con Bạc-heng cho anh em bộ độ tình nguyện Việt Nam. Vậy viết giấy này làm bằng, trao con Bạc-heng cho các chủ mới".
Khi bác viết xong, một cô gái xinh đẹp bưng tới một chiếc khay, trên khay có một bát mực và một bát vỏ trấu. Bác Bun-mi lấy mực xoa vào hàng chữ, đợi cho khô rồi lấy một dúm trấu xát lên lá. Thế là hàng chữ nổi lên, đen nhánh trên nền lá đã được lau sạch mực.
Sau đó bác Bun-mi đưa các chiến sĩ đi viết tiếp trên những tập lá "bay lan" của Sao-nọi và Bạc-mày. Viết xong, bác vỗ vào vòi hai con voi và nói:
- Các con về ở với anh em cho vui vẻ nhé! Đừng luyến tiếc mãi làng Vông-xay! Ở với anh em, các con sẽ được săn sóc cẩn thận, được đi mọi nơi, khác nào ngày xưa các con từng theo bầy đi lại khắp chốn núi rừng.
Bác Bun-mi đứng lặng hồi lâu rồi tần ngần nói với các chiến sĩ:
- Lẽ ra tôi chẳng còn điều gì nói thêm với anh em. Anh em đã biết phải đối xử với bầy voi như thế nào rồi. Nhưng đời làm việc của con voi dài lắm, chúng còn có thể làm việc được ba, bốn mươi năm nữa. Rồi anh em sẽ già đi, một lớp quản tượng mới sẽ thay anh em. Lúc đó đừng quên dặn lại họ những điều mà anh em đã biết.
Rồi bác trao cho họ ba tập lá "bay lan" và ba cây đòng.
- Cặp sách và cây đòng để điều khiển chúng đây, anh em hãy nhận lấy. Từ nay đàn voi không còn xa lạ nữa, chúng là những người thân của anh em.
Nói xong, bác đến bên lũ voi, ra lệnh cho các quản tượng tháo xích khỏi chân chúng. Phường nhạc nổi nhạc. Trống vỗ bập bùng hòa với âm thanh dập dìu của những cây khèn. Bác Bun-mi trầm trầm cất giọng hát:
Phỉ phui!
Cái xiềng cái xích
Đem vứt xuống sông
Cho voi thong dong
Về theo chủ mới...
Lũ voi sung sướng đạp đạp những cái chân đã được tự do trong lúc các quản tượng đi theo bác Bun-mi gõ loảng xoảng vào đống xích và cùng hát theo...
Hắn đã may mắn được dự buổi lễ trao voi ấy. Hắn so sánh thân phận hắn với thân phận đàn voi. Và tự hẹn, trong đời hắn ít nhất một lần, hắn phải viết lại những điều này.
*
Người ta đã tặng cho cuốn sách hắn viết về làng Vông Xay một giải văn chương. Đây là giải văn chương thứ hai hắn nhận được trong đời cầm bút. Vì hắn gần suốt đời là lính nên tờ Quân đội nhân dân, tờ báo lính, nhân dịp này đã phỏng vấn hắn:
... Phóng viên Hà Phạm Phú: Trong số hàng chục truyện viết về loài vật, anh có 4 cuốn truyện dài viết về loài voi, truyện nào đọc cũng thích. Chẳng hạn "Người quản tượng và con voi chiến sĩ", đã được UNESCO đưa vào tuyển tập văn học Thiếu niên châu Á, "Phía tây Trường Sơn"… Và tất nhiên cả "Sống giữa bầy voi". Con voi có gì đặc sắc mà anh viết nhiều về nó thế?
Hắn: Một lần các quản tượng Lào tặng cho bộ đội tình nguyện Việt Nam vài con voi để lập một đội vận tải. Họ đưa ra những cuốn "lý lịch" của bầy voi. Đó là những tệp lá cọ, đóng thành xấp, trên khắc chữ. Người ta đọc to những điều ghi trong lý lịch của những con voi sắp xa làng Toàn những điều tốt lành: con voi về làng từ ngày nào, có những đức tính gì, đã lập được những công trạng gì... Chẳng có một lời nào ghi về những tật xấu hoặc lỗi lầm của chúng (chắc chắn là chúng cũng có tật xấu và lỗi lầm vì tôi đã trong thấy chính những con voi này, khi không có ai coi sóc, đã bẻ trộm cả một vạt ngô trên nương). Thấy tôi ngạc nhiên, các quản tượng nói:
- Đời con voi dài hơn đời quản tượng. Nó sẽ nhiều lần đổi chủ. Người ta ghi những điều tốt lành của nó trong lý lịch để người chủ sau tin tưởng và tự hào vì nó, yêu thương săn sóc nó hơn.
Điều các quản tượng nói làm tôi rất suy nghĩ. Đó là vào những năm 50. Thời ấy, đời lính có nhiều điều đẹp đẽ mà cũng có nhiều điều khắc nghiệt. Nhất là đối với những ai không xuất thân từ đồng ruộng hay xưởng thợ. Cái được chú ý đầu tiên là gia đình anh có dự dật hay không? Anh đi học mấy năm? (Theo cách suy nghĩ của thời ấy thì càng đi học, anh càng tiêm nhiễm cái xấu). Bạn bè của anh là ai, thuộc tầng lớp nào?
Ít ai chú ý đến điều cơ bản: anh đã từ bỏ quá khứ để theo đuổi sự nghiệp cứu nước. Những nhận xét khe khắt sẽ bám theo anh hết năm này qua năm khác, đến nỗi những điều tốt đẹp và quá trình phấn đấu của anh luôn luôn bị lãng quên.
Những buổi tiếp xúc ở làng voi làm tôi sợ cuốn lý lịch của tôi. Nó chứa đựng quá nhiều điều nghiệt ngã. Nó thuộc về tôi nhưng tôi hoàn toàn bất lực trước nó. Tùy người đọc, nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Tôi có cảm tình với các quản tượng và bầy voi từ đó. Tôi để tầm quan sát họ. Vậy mà 20 năm sau tôi mới viết được cuốn sách đầu tiên về họ và bầy voi. Bốn cuốn sách về họ sợ chưa đủ̉. Họ đáng được biết tới nhiều hơn nữa, những con người và con vật đáng yêu ấy.
Hà Phạm Phú: Đọc một số truyện viết về thiên nhiên, loài vật của anh, truyện nào cũng thấp thoáng gương mặt người lính trọng đạo lý và giàu tình cảm. Cuộc đời chiến sĩ hắn đã giúp nhiều cho sự nghiệp văn học của anh?
Hắn: Rất nhiều. Tôi nhập ngũ năm 1950 khi còn là học sinh, học khoa thông tin Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn. Tốt nghiệp tôi về phục vụ ở một trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào, hoạt động trên Trường Sơn và trong vùng đồng bằng sông MêKông. Nhờ đi lại hết nơi này, nơi khác, tôi tích lũy được những hiểu biết về thiên nhiên, phong tục tập quán, sinh hoạt của nhiều miền đất nước.
Tôi đã sống đời lính gần 30 năm. Ai đã là lính đều biết: người lính không được quyền chọn chỉ huy. Tùy may rủi, có thể ta được ở dưới quyền một chỉ huy tốt hoặc không may ở dưới quyền một chỉ huy không tốt.
Như mọi người lính lâu năm khác, tôi thuyên chuyển rất nhiều đơn vị, vì vậy vừa gặp may vừa gặp không may. Và hình như số phận tôi đen đủi, tôi gặp không may nhiều hơn. Từ số phận của mình mà tôi cảm thông và thương mến mọi người. Những tình cảm này rất cần cho người viết văn: nhà văn không thể là một người khinh bạc.
Hà Phạm Phú: Không chỉ bạn đọc nhỏ tuổi thích đọc sách của anh, nhiều người lớn cũng rất thích. Có lẽ không chỉ do những yếu tố mới lạ, theo tôi chính là chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần trong mỗi trang viết? Quan niệm của anh?
Hắn: Chiến tranh có thể rèn con người theo hai hướng: hoặc làm ta cứng rắn và vô tình hoặc làm ta dễ xúc cảm, dễ yêu thương.
Tôi được chiến tranh rèn theo hướng thứ hai. Trong văn học, tôi theo đuổi chủ nghĩa nhân đạo. Có lẽ điều này phù hợp với nền văn học thiếu niên. Văn học thiếu niên trứơc hết phải mang một nội dung nhân bản. Mọi cái tốt đẹp sẽ phát triển trên nền tảng này. . .
Có một người đã giúp nhiểu trong việc hình thành tích cách của hắn hôm nay, đó là anh hắn. Anh cũng là người cầm bút. Mọi bản thảo của hắn, anh là người đọc đầu tiên.
Một lần hắn viết về những người thợ sơn tràng: họ đóng trâu vào những súc gỗ lớn rồi quất roi lên lưng chúng, thúc cho chúng kéo...
Người anh hỏi: Họ có làm gì khác nữa không em? Có ạ! Họ lấy đòn xeo, bẩy gỗ đỡ cho sức trâu. Thế à! Một việc làm tốt đẹp thế mà sao em lại quên? Tốt nhất là không nên quên điều gì nhưng nếu có việc phải quên thì nên quên đi việc quất roi.
Ngày nay ngưòi anh đã qua đời. Nhưng lời khuyên của anh đã theo hắn suốt đời văn: dù bị thiệt thòi đau khổ, dù viết vì ai, cho ai... hắn cũng không bao giờ tự cho phép mình viết những điều hận thù, khinh bạc.
VH.
Nguồn: Rút từ Đò trăng. Tập truyện ngắn của Vũ Hùng viết và in tại Pháp sau năm 1990. www.vu-hung.com
_____
* Bài ca Quân Giải phóng
|