tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
29.11.2016
Phạm Thành Hưng
Chuyện của Liệt



Nói là chuyện của một người tên "Liệt", nhưng năm nay Liệt đã 64 tuổi rồi. Rất khó gọi là ông Liệt, vì con trai Liệt mới lên 10 tuổi, vì gặp lại Liệt sau 40 năm, tôi vẫn thấy ở Liệt những nét hồn nhiên, ngây ngô, trong sáng của một chàng trai mới qua tuổi dậy thì.


Liệt qua tuổi dậy thì, bước vào tuổi 17 bẻ gẫy sừng trâu vào năm 1970. Năm ấy, cùng với những Trần Nho Thìn, Phạm Nguyên Bảng, Đỗ Xuân Định, Nguyễn Sinh Xô, Phùng Huy Thịnh, Lê Đỗ Khanh, Nguyễn Văn Du… thì Nguyễn Văn Liệt được xếp vào hàng những chàng trai đẹp giai, khôi ngô và thông minh, dĩnh ngộ nhất Khóa 15 khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Liệt có cặp môi son, lúc nào cũng như nụ hoa mười giờ chờ mặt trời lên để nở. Da Liệt trắng, dáng người thanh tú, giọng hơi trầm, cất giọng đọc thơ là xung quanh mọi người nín thở lắng nghe. Lúc tập quân sự năm học thứ nhất, Liệt đi một vài bài quyền và múa ra ràng vài thế võ, mọi người mới biết Liệt đã có tiếng ở lò vật Bắc Giang. Bắc Giang và Bắc Ninh hai tỉnh thời ấy ghép vào thành một tỉnh lớn gọi là Hà Bắc. Học sinh cấp 3 Hà Bắc dăm bảy năm thời ấy ai cũng biết tên Nguyễn Văn Liệt: anh Liệt học giỏi toàn diện và là người đoạt Giải Nhất học sinh giỏi Văn kỳ thi Học sinh Giảo lớp 10 - năm 1970.


Liệt có làn da trắng, lại có chiếc áo sơ mi pơ-pô-lin trắng rất diện, nên khi đi, con gái gặp hay giật mình, nhìn trộm. Còn tôi, tôi nhìn Liệt như nhìn một ngôi sao đang lên. Ngôi sao đó tỏa sáng hơn trong mắt tôi vì sau học kỳ I, điểm thi của Liệt gần như toàn điểm tuyệt đối: 5/5. Thời bấy giờ chưa có chuyện thi vào đại học khối xã hội ( Văn- Sử - Địa ) đạt điểm cao mà đi nước ngoài. Nếu lấy điểm cao ba môn đó mà tuyển lưu học sinh nước ngoài có lẽ khóa 15 chúng tôi đi gần hết. Mà nếu đi, chắc Liệt thuộc số xếp danh sách đầu tiên. Tôi nhìn những Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Liệt, Hoàng Văn Đốp, Phùng Huy Thịnh, Phạm Quang Long… mà tiếc cho bạn, mà cũng tiếc cả cho mình. Khóa chúng tôi, những nam thanh nữ tú, đều là những “mầm tài năng” của thủ đô và mọi tỉnh thành miền Bắc bấy giờ hội tụ về trường đại học Tổng hợp.


Học sang cuối kỳ II, đột nhiên Liệt chuyển chỗ nằm bên cạnh tôi và rủ tôi ăn chung một cặp lồng. Thế thì còn gì bằng. Gần đèn thì sáng là lúc này đây. Tôi và Liệt rủ nhau sang khu nhà kho của Công ty biên giới gần ký túc xá, ăn trộm những tấm gỗ dán về lót lên sàn xi măng thay giường nằm. Hai thằng tỉ tê bao chuyện, ăn chung rồi có lúc ngủ say, ôm nhau như vợ chồng. Liệt có người anh trai đi bộ đội, gửi về cho Liệt chiếc áo xanh vải Tô châu. Tôi được Liệt cho mượn áo. Áo rộng, tôi mặc rộng thùng thình, nhưng vẫn thích. Áo mới, còn thơm thơm nguyên mùi hồ. Tôi xúng xính trong chiếc áo lính, trong lòng thầm mơ ước: giá mình cũng có một người anh đi bộ đội, gửi về cho chiếc áo Tô Châu!


Nhưng niềm ao ước Tô Châu của tôi đã sớm thành hiện thực. Cuối học kỳ II, tôi cùng hai chục bạn trai cùng khóa được lệnh nhập ngũ. Khi đó tôi mới 17 tuổi nhưng lý lịch lại khai tăng một tuổi (để vào học lớp 8) nên vẫn phải im lặng lên đường. Nhà tôi chưa có ai nhập ngũ, nếu có khiếu nại, xin xác minh lại năm sinh thì năm sau cũng vẫn phải đi. Tôi viết đơn tình nguyện theo lệnh của Bí thư chi đoàn, nhưng viết rất uể oải. Lòng buồn rười rượi, tôi chả muốn học, cũng chả muốn thi.


Biết tôi buồn, chán học, Liệt động viên tôi. Tôi chả muốn nghe, nhìn Liệt thờ ơ. Có anh trai chiến trường, Liệt không phải đi, động viên ai chả được… Đột nhiên, một buổi chiều, có bạn nào đó trong lớp gặp tôi rỉ tai nói nhỏ: “Thằng Liệt nhà có mả hủi đấy”. Tôi nghe, đứng phắt dậy. “Sao lâu nay mày không nói cho tao biết”. “ Tao sợ Liệt nó buồn, không còn ai chơi với nó… Mà tao cũng tưởng mày biết, nhưng không sợ... Hóa ra cả lớp biết, trừ mày”. “Chúng mày là đồ tồi” – Tôi quát.


“Tao thì không tồi. Nếu tồi, tao đã không nói… Nghe đây: Liệt là con trai út. Bố Liệt mắc bệnh nặng nên đã bị dân làng đưa đi… chôn sống”.


Đêm hôm đó tôi không ngủ. Một tuần sau tôi ngủ chập chờn với những giấc mơ lập lòe đom đóm, ma trơi. Tôi xa lánh Liệt rất kiên quyết: không ăn chung nữa, tôi nằm dạt ra một góc phòng. Phá quan hệ bạn bè đột ngột, nhưng tôi không thấy Liệt tỏ ra phật ý, thậm chí có vẻ dửng dưng. Rõ ràng là Liệt đã đoán trước sự phản bội của tôi.


Tôi cầm giấy gọi nhập ngũ về hè trình bố mẹ. Tôi tưởng mẹ tôi khóc thương tôi đi lính trước tuổi. Nhưng mắt bà ráo hoảnh, chẳng thấy vết lệ nào, thậm chí còn tặc lưỡi : "Đi là chuyện con trai thời loạn". Tôi thất vọng, bèn tung chưởng thứ hai: “Có lẽ con nhiễm bệnh hủi rồi”. Bà sững sờ. Tôi kể cho bà nghe chuyện ăn nằm với Liệt. Bà lại bảo: “ Chắc không lây được. Làng Nga Thành có cả trại hủi, người ta sống lẫn lộn mấy đời nay vẫn khỏe mạnh, bình thường”.


Bà này chả hiểu gì cả! Không khóc.


Trước ngày lên đường, nhiều đêm tôi mơ bị bệnh nặng, rụng ngón tay, giật mình tỉnh dậy, thở phào, bẻ khớp ngón tay răng rắc. Buổi làm lễ xuất quân, tôi không chào tạm biệt Liệt. Mà hình như Liệt cũng xa lánh tôi và xa tất cả bạn bè.


Tôi ra trận với nỗi ám ảnh tâm lý bệnh nhân. Thỉnh thoảng tôi thấy ngưa ngứa đâu đó, trong xương, trong máu. Không khéo mình nhiễm bệnh của Liệt rồi. Có nhiều lúc, nỗi ám ảnh đó lại biến thành sự an ủi tích cực. Chết trên chiến trường là cái chết vinh quang, còn hơn sống cuộc đời con hủi. Những hành động dũng cảm bột phát của tôi trên chiến trường đôi khi chỉ vì cái tặc lưỡi trong đầu: đằng nào chả chết. Chết trẻ còn hơn sống đau đớn, nhọc nhằn. Tôi xông lên, không sợ đạn.


Nhưng tôi không chết. Tôi chỉ bị thương, thủng hộp sọ, thủng màng nhĩ, thủng cánh tay, bị quân đội sa thải, cho về trường học tiếp. Không biết có phải bị mất máu, máu chảy cuốn luôn vi trùng phong cùi ra đất đồi Quảng Trị, hay bệnh phong không lây, mà sau ba năm trở lại trường tôi thấy khỏe mạnh, thảnh thơi kỳ lạ. Các bạn k15 lớp tôi còn ở lại học vẫn chưa kịp ra trường. Tôi gặp được tất cả, trừ Liệt. Liệt cứ lảng vảng đâu đó, như là xa lánh tôi. Xem ảnh chụp tập thể lớp Văn, lớp Ngữ, tôi cũng không thấy Liệt. Tôi có hỏi đến Liệt, bạn bè K15 cũng trả lời rất miễn cưỡng.


Tốt nghiệp ra trường, Liệt được phân công về Thông tấn xã.


Gần chục năm sau, một hôm Liệt đến thăm anh Đào Anh San và tôi. Một cuộc thăm viếng không hề báo trước làm tôi ứng phó hơi bạc bẽo. Trong chiếc áo măng tô đen, nặng nề, cổ kính, Liệt thọc tay sâu vào túi, hỏi chuyện tôi, nhờ tôi tìm cho Liệt một ít tài liệu về soạn giáo trình. Liệt kể đã chống quyết định phân công về Thông tấn xã, hiện tại đang dạy ở Đại học Sư phạm Việt Bắc. Có lẽ tiếng tăm về chàng trai thủ khoa năm 70 và khuôn mặt điển trai đã giúp Liệt ung dung bước vào trường Việt Bắc. Tôi tiếp Liệt với thái độ đề phòng, ngần ngại, vừa sợ, vừa thương. Trời thì nóng, Liệt vẫn diện áo dạ. Một chiếc áo dạ có nhiều vết cáu bẩn, có lẽ đã chục năm liền không giặt. Cách nói chuyện của Liệt không còn như xưa. Mọi câu trả lời của Liệt chỉ đại khái, nhát gừng. Cái miệng hoa mười giờ ngả màu tím của Liệt chỉ buông ra vài từ cần thiết, quan trọng nhất. Tôi băn khoăn không biết có nên vay tiền đâu đó đi chợ, nấu cơm đãi khách hay không. Tới khi Liệt buông ra một câu dài như thế này: “Tôi thấy giáo viên dạy đại học ở ta chỉ xứng đáng dạy cấp 3 là cùng”, thì tôi và anh San quyết định không tiền nong, chợ búa gì sốt. Hình như biết đã làm chúng tôi tự ái, Liệt nói muốn đi dạo quanh Mễ trì cho đỡ nhớ.


Liệt đi, tôi cũng về phòng. Một lúc sau tôi ân hận, vội chạy đi quanh ký túc xá, tìm Liệt, nhưng chẳng thấy bóng dáng Liệt nơi nào.


Bao nhiêu năm qua, vì mải mê kiếm sống, có lúc chúng tôi gần như quên hẳn Liệt. Nếu ngẫu nhiên gặp người dạy (hay học) Sư phạm Việt Bắc, tôi hỏi cũng chỉ biết phong thanh đôi điều: Liệt vẫn không lấy vợ, sống cô đơn lang thang đâu đó, hết Đại học lại xin chuyển sang Cao đẳng, chán làm thày văn, lại đi vào Nam dạy võ.


***


Thấm thoắt thoi đưa, nay K15 chúng tôi đã thành các ông các bà tuổi 60. Người già hay sống bằng kỷ niệm. Kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi tìm lại hơi hướng buổi tựu trường. Chúng tôi đi tìm Trường xưa, Khoa xưa. Chúng tôi đi tìm nhau, và chúng tôi đi tìm Liệt.


Ngày 27 tháng 11 năm nay, 2016 sẽ đi vào trang sách kỷ yếu “Mùa thu tôi yêu” của k15 chúng tôi như một sự kiện khảo cổ. Chúng tôi đã tìm được Liệt, như tìm được một di vật quý, bị đời chôn vùi sau 40 năm.


Người đi tiền trạm (Trần Hoành) vào làng hỏi bác Liệt. Dân làng trả lời bằng câu hỏi xác định lại danh tính: Có phải hỏi tìm "Liệt Điên" không ? Trần Hoành đau đớn, cải chính: Không, chỉ bị tâm thần thôi”. Người làng chép miệng: “ Cũng là một”, rồi chỉ cổng vào nhà.


Trần Hoành tháo then cổng. Một ông già mặc áo len xanh, húi trọc, đầu bạc phơ chạy ra. Sau vài giây nhận diện kỹ càng, ông già chạy tụt vào trong, giống như chạy trốn. Trần Hoành đuổi theo thông báo:


- Lớp Ngữ Văn Tổng hợp khóa 15 đến thăm ông đấy


- Bảo vào cũng được, mà không vào cũng được. Vào cũng chỉ có nước trắng thôi đấy.


Chúng tôi kéo nhau vào nhà. Con chó mẹ từ góc vườn bỏ ổ con xông ra sủa quyết liệt. “ Nó không cắn đâu” Ông già áo xanh trấn an rồi vội vã ngồi thụp xuống. Một kiểu ngồi vừa thoải mái, tự nhiên, vừa rất vô lý. Ông ngồi xuống, chợt xấu hổ, lại vội đứng lên, cười. Ôi, cái nụ cười năm xưa còn phảng phất. Liệt là đây ư ?


Chúng tôi cảm thấy se lòng nhưng vẫn hỏi thăm tíu tít để che dấu sự mềm yếu. “Nhận ra ai đây không, nhận ra tớ không, nhận ra không…”. Ông già áo xanh gật đầu lia lịa sau mỗi câu hỏi: Nhớ, có nhớ. Nhớ chứ.


Nhà Liệt ở Hiệp Hòa thừa kế của cha mẹ là một ngôi nhà cổ ba gian, xây từ năm 1946, mái ngói đã võng xuống, rất thích hợp cho cảnh quay một gia đình cố nông thời Pháp thuộc. Phía sau nhà Liệt, có lá cờ rách treo cao, đang vẫy rối rít như chào khách. Nhìn lâu, có thể nhận ra nó vẫn là lá quốc kỳ: Một mảnh cờ rách nát, màu lòng tôm, có bóng sao vàng chỉ còn ba cánh, tả tơi. Có thể cờ này đã được treo từ ngày mừng giải phóng miền Nam, treo cao quá, không ai muốn hạ.


Tôi nhìn Liệt, nhìn mái ngói, nhìn mảnh cờ treo cao, bâng khuâng nghĩ tới số phận đất nước, con người.


Chờ mọi người hỏi hết, Liệt biết hết mọi người, tôi mới lân la hỏi Liệt:


-Ông còn nhớ Đào Anh San không?


-Nhớ anh San lắm


-Thế có nhớ cái thằng bạn với anh San, là thằng Hưng không?


Liệt nhìn giây lát rồi chỉ thẳng vào mặt tôi, reo to: “thằng Hưng!”. Liệt cười tươi, rạng rỡ, trong tiếng hò reo bạn bè. Tôi biết mình đã nhăn nhúm, quá già, Liệt không nhận ra tôi, nên phải gợi ý dần cho Liệt. Con đường vòng đã đến đích, bằng hai tiếng "thằng Hưng" sảng khoái.


Chúng tôi bày lễ, thắp hương. Bàn thờ nhà Liệt khá rộng nhưng đơn sơ, lạnh lẽo, chỉ có ảnh mẹ, không có ảnh cha. Liệt bảo chúng tôi: “Ngồi đi, thích ngồi đâu thì ngồi”. Nhưng Liệt thích ngồi sụp xuống đất tiếp khách. Chúng tôi bắt Liệt phải ngồi lên giường, tra vấn tiếp. Hỏi: “ Thế, Liệt có ghét nhất ai, yêu nhất ai trong lớp không”. Liệt bảo: “ Không ghét ai đâu”. Câu trả lời của Liệt làm chúng tôi thanh thản, nhẹ lòng.


Xa lánh, sợ Liệt, bỏ rơi, biến chàng trai thông minh dĩnh ngộ đến nông nỗi này, là lớp chúng tôi có lỗi, phải chịu một phần trách nhiệm. Bây giờ Liệt không thù oán chúng tôi, chẳng ghét người nào là chúng tôi vợi bớt nỗi niềm ân hận. Có thể Liệt không chấp chuyện bốn năm đại học ngày xưa. Cũng có thể bệnh thần kinh phân liệt đã xóa trắng ký ức. Thôi, không cần Liệt yêu, chỉ cần Liệt không thù ghét bạn đồng môn là được.


Xem kỹ cái động tác ngồi thụp xuống của Liệt, tôi ngờ đó là dấu vết của một thế xuống tấn nhanh của đô vật. Tôi hỏi dò:


- Thế ông bỏ dạy ở Cao Đẳng sư phạm, vào Nam làm gì?


- Đi nghe chuyện người ta kể, rồi dạy họ vật.


- Được nhiều tiền không?


- Chỉ được ăn thôi.


- Lương hưu được bao nhiêu?


- Không có. Về một cục. À có tiền hằng tháng năm trăm rưởi, tiền tâm thần.


- Bây giờ không làm thêm gì à.


- Coi nhà thôi, - Liệt chỉ tay bốn phía - Không coi nó vào lấy hết.


Chúng tôi nhìn quanh, phì cười. Nhà Liệt có gì mà lấy cắp. Bốn phía chỉ có hai luống rau là đáng giá. Đáng giá vì nó có ý nghĩa là rau sạch, còn thực ra trông rất cằn cỗi. Kẻ trộm nếu nhầm đường lạc vào nhà này, chỉ con chó đẻ kia xồ ra là đủ chạy mất dép.


Lớp tôi gom góp, kẻ ít người nhiều, cộng thêm quỹ lớp được chục triệu, tặng Liệt. Nhìn phong bì đựng tiền trao tay, Liệt đùng đùng nổi giận. Lòng tự ái của người đàn ông bừng tỉnh, Liệt hất tiền ra. Thuyết phục, an ủi mãi Liệt mới đồng ý với giải pháp “cho con giai”, rồi chạy đi tìm vợ về. Liệt chạy ra khỏi nhà, mấy người trong đoàn chúng tôi chạy theo, sợ Liệt vứt tiền dọc đường. Nhưng chúng tôi không ra nổi khỏi nhà vì con chó mẹ xông tới, chực cắn. Mấy đứa đang tìm gậy phòng thủ, yểm trợ cho nhau qua cổng thì thấy vợ Liệt hớt hải vào nhà. Vợ Liệt là một thôn nữ gần 40,không trọng nhan sắc, nhưng khá nhanh nhẹn và hay cười. Nàng đã sinh cho Liệt một cậu con trai khôi ngô, năm nay đã lên 10, rất ham đọc sách. Vợ Liệt ca ngợi chồng: “Anh ấy không đập phá đồ đạc, không đánh vợ con bao giờ đâu. Hiền ấy mà, chẳng mấy khi ra khỏi nhà”. Mới nghe qua, cứ tưởng nàng đang nói về chó.


Nhân cơ hội đám bạn gái trong đoàn đứng cách xa, chúng tôi hỏi vui: “Hỏi thật ông Liệt nhé, vợ trẻ thế, cái món ấy tối nào cũng có chứ?”. “Món nào”. Thấy Liệt đần mặt ra, không hiểu, Phan Trọng Thưởng lớp tôi giải thích thêm: “Mỗi tối phải làm một choác chứ?”. Liệt lắc đầu quầy quậy: “Không, không, lâu rồi”. “Ông nói dối”. Liệt nhăn mặt: “Không, không”. Trông thái độ kiên quyết của Liệt, chúng tôi vừa buồn cười, vừa thương bạn. Tôi nhớ, các bà mẹ trẻ cai sữa cho con thường xát lá mướp vào đầu ti. Trẻ bập miệng vào là nhăn mặt, quay ra. Liệt lúc này cũng ngán chuyện ấy như trẻ bị cái ti lá mướp. Đắng lắm.


Chúng tôi lần lượt ôm bạn, tạm biệt ra về. Nhìn gương mặt Liệt càng lâu, chúng tôi càng nhận ra những nét đẹp của Liệt năm 1970. Mấy tiếng đồng hồ vui với bạn bè, Liệt đang trẻ lại. Dưới lồng ngực phủ áo len xanh hình như có trái tim đang phập phồng ca hát. Liệt không ra quá cổng tiễn chúng tôi. Liệt cứ đứng, lặng nhìn theo từng người khuất ngõ.


Cái ngõ ngắn, rẽ rất đột ngột. Chỉ vài bước chân, ngoái lại tôi đã không thấy Liệt, chỉ thấy ngọn cờ rách trên cao. Tôi chợt nghĩ: chưa chắc mình đã là người hạnh phúc hơn Liệt. Hạnh phúc chỉ là một thứ cảm giác. Ngây dại đi ở cái thời này, có khi lại là thảnh thơi, vô tư trôi đi trong hạnh phúc. Liệt là cái dấu chấm than kết thúc một thời đại dã man, thiển cận, bạc bẽo, vô tình. Vào cái tuổi lục thập rồi, Liệt và cả lớp chúng tôi, mỗi người cũng như mẩu cờ rách kia thôi. Nó đã rách, nó đang quằn quại trong gió mùa đông đấy. Hay là nó vẫn vui, nó đang vùng vẫy với gió, giữa bầu trời tự do, và hoàn toàn không biết mình bị rách.


Liễu Giai, 28/11/16


PTH


Nguồn: Mạc Yên Facebook 29-11-20016


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »