Bước vào phòng khách sân bay, trong số mấy người bạn ra đón tôi không nhìn thấy Tường, Nguyễn Tường, trưởng tý Thủy lợi. Tôi mới biết Tường qua mấy lần anh về họp tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đã mến anh lắm và nếu tôi không nhầm thì anh cũng có ý quý tôi. Anh mời tôi lên chơi với anh vào dịp Tết nhưng mấy ai đã dứt đi được những ngày cuối năm nếu không phải là việc tác chiến. Nên tôi xin hoãn. Hoãn đi hoãn lại đến hôm nay mới nhào lên được với bạn bè, vì ngoài anh tôi cũng còn vài người bạn đang công tác trên cao nguyên. Khách lên nhưng chủ vắng mặt, đi đâu nhỉ? Hoặc giả Tường lại ra Hà Nội họp cũng nên. Tôi lên đây vì một phong trào nhưng cũng còn vì riêng một người, nói cho thật, trước hết là vì một người. Với người viết bỗng dưng nhận được ra một mẫu người quan trọng, lý thú là hết sức may mắn. Nó có thề đổi được một cách nghĩ, đôi khi đổi cả được một cách viết. Mà cái duyên ấy không phải ngày nào cũng gặp, không phải năm nào cũng gặp, lúc tìm chưa dễ đã gặp nhưng tình cờ có khi lại gặp.
Hoài, phóng viên thường, trú của báo Nhân dân tại địa phương, một bạn cũ của tôi, nói rằng Tường mắc họp tỉnh ủy mất mấy ngày nên không ra đón tôi được, có nhờ Hoài nói giùm, lại cũng muốn Hoài sẽ cùng ăn ở với tôi suốt thời gian tôi làm việc trên này cho có bạn, nhà văn di với nhà báo là phải nhất, giúp đỡ nhau được nhiều nhất. Tôi sợ rằng nhà văn đi với nhà báo rồi sẽ tán gẫu với nhau nhiều hơn. Mà cái trò tán gẫu thì tôi đã ngán quá. Ơ Hà Nội đã tán vào nhau chán rồi. Vào đến thành phố Hồ Chi Minh lại vẫn tiếp tục tán. Càng tán càng thấy mệt, thấy bực, thấy buồn. Đã thoát những nơi hay tán mà đi là cốt nói những chuyện khác, nghĩ đến những việc khác nào ngờ lại vẫn vấp vào nhau, vẫn quấn lấy nhau.
- Chiều nay tội có được gặp anh ấy không? Tôi hỏi.
- Chiều nay anh với tôi đi dong dong trong thị xã ngắm cảnh ngắm người.
- Thế, tối nay?
- Vẫn có hai anh em mình thôi.
- Ngày mai?
- Ngày mai ty sẽ mời anh đi thăm một công trình thủy lợi.
- Anh Tường cùng đi, hả?
- Không, đã bảo mắc họp mà. Có đồng chí chủ nhiệm công ty quản lý thủy nông cùng đi.
Tham quan, nghe giới thiệu, ghi thành tích, phát biểu cảm tưởng, ăn cơm, và hôm sau lại tham quan nơi khác, lại nghe giới thiệu, lại... Nếu chương trình làm việc của tôi trong những ngày tới chỉ là thế thì tôi sẽ biết làm gì với một cuốn sồ tay dày cộm những tài liệu cả mọi người đều biết. Một chuyến đi bình thường, không may mắn, không có duyên, “không gặp” như tôi thường tự nhủ. Chiều hôm đó tôi đi thăm mấy người bạn ở trường công đoàn của tỉnh, ở phòng Bảo tàng và một nhạc sĩ Ê Đê rất nổi tiếng ở ty Văn hóa và Thông tin. Lên vùng cao vào mùa khô đi lại có tiện nhưng nắng quá, khô quá, bụi quá. Những súc gỗ ngổn ngang ở vệ đường, xe ngựa dong lững thững giữa phố, đậu xanh, đậu tương, cà phê hạt phơi trước hè nhà và những vầng bụi khô vẩn đỏ theo gió cuốn mù mịt ở phía xa. Người sống ở tỉnh nhò rất khác vời người sống ở những thành phố lớn. Ở tỉnh nhỏ dễ gặp những say mê đắm đuối, những tính cách khác thường, những gương mặt rành rọt, sáng rõ. Nói chuyện với bạn bè sống lâu năm ở tỉnh nhỏ không phải giữ ý, yêu ai ghét ai cứ nói trắng ra, thèm gì muốn gì cũng cứ nói trắng ra. Người thành phố lớn thường gọi cái sự nói nôm, diễn nôm ấy là không khí tỉnh nhỏ, chuyện xì xèo của tỉnh nhỏ, cái tầm thường tẻ nhạt của tỉnh nhỏ. Nói thêm một điều này nữa, anh em ở tỉnh nhỏ rất quý bạn, rất quý người. Công việc của bọn tôi ở Hà Nội ra sao anh em đều biết cả, từng việc từng người đều có sự bình phẩm rất chính xác. Còn công việc của anh em chúng tôi đâu có rõ, năm này tháng nọ chỉ hí húi với nhưng lo âu của riêng mình, của cơ quan mình, còn bụng dạ nào nghĩ đến những nơi xa. Cho nên buổi chiều cùng Hoài đi thăm vài người bạn cũ là một buồi chiều vui, là một ngày vui, là thêm một lần được vui. Nó cũng giúp tôi quên đi cái buồn bực không được gặp người muốn gặp lúc thoạt đến. Chúng tôi còn hẹn sẽ lại thăm nhau nhiều lần nữa trong những ngày tôi ở đây, có anh còn nói: “Cần gì cậu phải đi đâu, gặp ai, cứ đem trà thuốc lại mình sẽ đọc cho cả một cuốn tiều thuyết mà chép”.
***
Tối hôm đó tôi định bụng sẽ đi ngủ sớm, một ngày đầy đặn mãn nguyện, đầu óc thư thái, ngày mai chưa hẳn đã tẻ nhạt như tôi nghĩ, có khi vẫn là một ngày vui. Hoài ăn cơm chiều xong là vội vã đi ngay, hai ba tiếng sau mới quay về bảo rằng vừa đến gặp Tường để báo cáo công việc ngày mai của “đoàn”, Tường có lời hội thăm tôi, hứa tạo mọi điều kiện để tôi làm việc có kết quả.
- Tối nay anh ấy không đi họp à? Tôi hỏi.
- Không, tối nay nghi, ngày mại lại họp tiếp.
Tôi chép miệng phàn nàn:
- Có cả một buổi tối rỗi rãi mà anh ấy chẳng nghĩ tới chuyện lại thăm tôi một chốc lát. Chúng tôi cũng có một vài việc phải bàn với nhau.
Hoài nói lúng túng:
- Chắc là anh Tường sẽ gặp anh thôi, trước sau là phải gặp.
Trong khi chờ...
Tôi thở dài:
- Có gì mà gặp với chẳng gặp. Rỗi rãi thì đến với nhau một tí cho nó có tình.
- Để tôi nói lại với anh ấy.
- Thôi, thôi, mời khách đến thì chủ phải ra mặt chứ, sau dó làm gì thì làm, có ai buộc anh ấy phải ôm chặt lấy tôi đâu.
- Ờ, ờ, lý ra là phải như thế.
- Tại sao lại không phải là như thế?
- Cái vị trí của Tường ở đây cũng lắm cái khó lắm. Tỉnh nhỏ mà, cái cung cách làm việc ở tỉnh nhỏ có lắm sự phiền phức lắm.
- Lại tỉnh nhỏ! Tỉnh nhỏ mới quấn quít đâm ấm chứ, đâu có cái thói lạnh lẽo, kiêu kỳ của tỉnh lớn.
- Anh em bọn tôi đây đều là bạn của Tường cả, có thể gọi sõng là Tường, đủ biết hắn là người chịu chơi lắm. Một người có nhiều bạn chắc chẵn không phải là người lạnh lẽo kiêu kỳ.
- Thế tại sao...?
- Thì đã bảo có lắm cái khó mà.
- Anh thử ví dụ tôi nghe?
- Nhẽ ra anh em văn nghệ lên đây là do ty Văn hóa và Thông tin mời chứ không nên là ty Thủy lợi mời.
- Thì ai mời mà chẳng được!
- Cơ quan văn hóa không mời, anh lại mời thì ra anh muốn tuyên truyền cá nhân, hả?
- Công trình thủy lợi ở đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, không phải là công việc của một ty.
- Dẫu sao cũng nên để người khác mời, chứ anh chủ quản không nên mời.
- Khó chịu nhỉ!
- Thì đã bảo tỉnh nhỏ mà. Tất cả xắp hàng ngang mà tiến, anh nào định xông lên làm mũi nhọn hãy cọi chừng! Muốn vào tỉnh ủy chăng? muốn lên thường vụ chăng? hày muốn làm thứ trưởng?
- Nều muốn thế có gì là không phải?
- Cách sống ở tinh nhỏ là không nên chói lọi quá, rực rỡ quá. Nên để người ta thương chứ đừng để người ta ganh. Thương thì được yêu mà đã ganh thì dễ ghét. Cậu Tường ở đây được Thường vụ rất thương, anh em dưới họ cũng thương, nhưng không phải không có người ghét, có phải không?
- Đã làm việc là phải có người thương kẻ ghét, tránh sao được.
- Ở tỉnh nhỏ, cố tránh được chừng nào hay chừng ấy, những chuyện không đâu nó khó chịu lắm kia.
- Nếu thấy việc làm của mình là đúng thì cứ làm, không nên tránh, cách tránh tốt nhất là không làm gì cả.
- Theo tôi Tường không nên mời anh lên đây, nên gợi ý cho các cơ quan khác họ mời thì hay hơn.
- Tôi lên đây là cốt được trò chuyện với anh Tường, tôi thích anh ấy mà.
- Cơ quan khác mời rồi anh sẽ sang ty Thủy lợi làm việc.
- Tôi lên đây không được đúng lúc chăng?
- Không phải lỗi ở anh mà là lỗi ở Tường. Nhẽ ra Tường không nên mời anh.
- Nhưng tôi đã có mặt ở đây rồi?
- Thì đành vậy, nhưng ông trưởng ty Thủy lợi không nên tỏ ra quá vồn vã.
Tôi nói chán nản:
- Các anh làm việc rất chân chính, có gì mà phải e ngại cái dư luận thị phi.
Hoài cười nhỏ:
- Thế anh không e ngại à?
- Tôi làm cái nghề chịu sự chi phối của dư luận nên tôi phải e ngại. Còn công việc của anh Tường thì có gì mà e ngại?
- Nghề của anh sợ dư luận làm hỏng cái kết quả, còn nghề của Tường sợ dư luận làm hỏng cái dự tính. Có những dự tính rất cao đẹp bị ung thối chỉ vì dư luận.
***
Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường đi thăm đập nước K1 như trong chương trình. Cùng đi với hai chúng tôi có anh Vinh là một cán bộ quân sự của tỉnh và anh Hưng, chủ nhiệm công ty quản lý thủy nông. Gọi là “tiếp lén” nhưng cũng đàng hoàng lắm đấy chứ! Anh Vinh lớn hơn tôi khoảng dăm sáu tuổi, vóc người nhỏ nhưng thuộc tạng bền dai, nói năng nhỏ nhẹ khiêm tốn như một cán bộ bên dân chính. Nghe anh nói giọng Thanh Hóa nên tôi mới hỏi anh lên công tác trên cao nguyên đã được bao lâu, anh trả lời là ba mươi lăm năm từ cuối năm 1946 đến nay đã là đầu năm 1981. “Ở Thanh Hóa tôi chỉ thuộc đường đi lối lại có một huyện, còn trên cao nguyên tôi có thể nhắm mắt đi suốt ba tỉnh. Mấy chục năm nay chỉ nghe người ta gọi Ama Vinh, chứ có ai gọi cái tên móc nôi là Bách đâu”. Những món ăn anh thích nhất là món ăn hàng ngày của người Ê Đê hay Mơ Nông. Thịt nạc vằm nhỏ bóp với huyết lợn trộn thêm muối ớt và xả hành; thịt rữa của thú rừng phết lên mặt đá phơi dăm nắng như phơi bánh tráng nấu bánh canh; nước trong ruột non các thú vật ăn cỏ trộn với da sống, lòng sống, đựng ống nứa vít chặt làm mắm. Những món ăn ấy không thể mời khách, vợ con cũng không dám ăn, không biết cả cách làm, anh tự làm, thỉnh thoảng dọn ăn riêng cho khỏi nhớ. Anh hoàn toàn là người của cao nguyên rồi, chiến đấu cho cao nguyên và khi chết sẽ gửi xác lại ở một vùng đất của cao nguyên.
Xe chạy trên đường 21 được một tiếng, anh Vinh trỏ về đám núi phía tay mặt:
- Lát nữa chúng ta sẽ tới đó, đập nước ở K1, cái buôn cơ sở đầu tiên của tôi khi đặt chân lên đất này là K2, cơ quan tham mưu của tỉnh đội đã đóng ở đó suốt bảy năm trời.
Hoài hỏi :
- Triền núi phía tây đập K1, anh em hay gọi là T45. Là một căn cứ của mình, hả anh?
- Là trạm giao liên đầu tiên bên này đường 21. Hai năm đầu nhóm công tác chúng tôi nhận nhiệm vụ mở một hành lang từ khu 6 qua nam cao nguyên vào tận Phước Long. T45, T47 rồi T5, T10, T15 đến T30 là sang phần đất của Nam Bộ. Xây dựng trạm 45 vào tháng 9 năm 1959, xây dựng trạm 30 đã là tháng 11 năm 1961. Một trận đánh kéo dài hăm bẩy tháng, trận đánh đầu tiên, gian nan không có giấy bút nào viết hết được, bên ta không hy sinh một ai, phía địch cũng thế, nhưng dưới chân chúng nó đã là một cái huyệt khổng lồ.
Xe chúng tôi bỏ đường nhựa chạy sang đường đất đỏ, đâm vào phía núi. Nắng đã gắt lắm, lại gió, lại bụi. Gió bốc từng cuộn bụi ném thốc vào lòng xe, quần áo đổi màu dần, mặt người bàn chân cánh tay cũng đổi màu dần, mồ hôi trộn với bụi đỏ dính nhem nhép quanh vành cổ, trong hốc mũi, trong kẽ mắt, há miệng cười chân lợi, vành môi cộm lên những bụi, hút thuốc lá cũng chỉ ngửi thấy có mùi bụi, uống hớp nước cứ lạo xạo như bụi đã bám vào trong cổ, trên mặt lưỡi. Và nhìn ra phía trước, nhìn sang hai bên không thấy đường, không thấy cây, không thấy nhà, chỉ thấy những tảng bụi đỏ tầng tầng lớp lớp cuốn lên bay ràn rạt ra bốn phía. Khi chiếc xe ngật ngưỡng lội qua một đoạn suối cạn, chợt anh Vinh thò cổ ngoái nhìn lại sau, rồi bảo người lái : “Sang bên kia cho dừng xe một chút nhá!”. Một người đàn ông mang cái gùi chân ngắn thân dài, loại gùi đi chợ, đủng đỉnh bước tới. Anh Vinh gọi to:
- Y Mé!
Người đàn ông nhìn ngơ ngác rồi bước nhanh lại:
- Ama Vinh! Đồng chí đi họp à?
Anh Vinh nói tiếng Ê Đê tự nhiên, thông thạo:
- A xây mờ lây pờ ran mớ? (anh có khỏe không?)
Người kia cười :
- Pờ ran! (khỏe)
- A nác đôn chô? (mấy con rồi?)
- Lao chô (ba đứa)
Rồi anh lại hỏi bằng tiếng phổ thông:
- Đi đâu thế?
Người kia cũng đáp lại bằng tiếng phổ thông, giọng Quảng Ngãi:
- Đi chợ, bà già đi sau tôi.
Anh Vinh nhẩy luôn xuống xe:
- Mí Nhơn đâu? lâu lâu chưa về thăm chắc bà già giận lắm.
- Giận nhiều chứ, cán bộ tỉnh dạo này đều bận cả mà.
Mí Nhơn chào chứng tôi, nắm lấy một cánh tay anh Vinh nhìn ngắm từ đầu tới chân, nói tiếng phổ thông cũng rành rẽ như người con trai :
- Mày làm to lắm trên tỉnh nên không thích về thăm mẹ nuôi phải không? Tao vẫn bảo thằng Mé là rất giận anh nuôi của mày.
Anh Vinh cười ngượng ngập :
- Đường không xa, lòng tôi cũng không xa, nhưng dạo này tôi đau luôn nên không đi đâu được.
Bà cụ nói mếu máo:
- Xưa kia tao nhổ cỏ nuôi chúng mày, bây giờ cỏ nó lôi tao còn chúng mày thì về trên tỉnh hết.
Khi xe chạy, anh Vinh kể cái năm anh còn ở trên tận đỉnh cái ngọn núi mờ xanh kia, cách một ngày Mí Nhơn lại lên thăm một lần, lần nào lên cũng giắt vào cạp váy đủ các thứ : cà, ớt, bàu non, nụ mướp, rồi cua, nhái, cá con, nói buông một câu : “giam oong nề!” (canh của mày đấy) rồi lại tất tả quay xuống, lên nửa ngày, xuống nửa ngày, một ngày làm nương với con trai, một ngày đi nuôi cán bộ, Anh nói thêm, vẻ ngậm ngùi:
- Tôi không thể về sống ở dưới xuôi được, vì dưới đó tôi là người lạ, lạ cảnh, lạ người. Còn trên này đi tới đâu cũng có thể nhớ lại một câu chuyện cảm động về những năm xưa. Lát nữa tôi sẽ chỉ cho các anh một cái gò, nghĩ rằng thân tôi phải vùi sâu ở đó, không phải bị thương, mà lên cơn sốt rét ác tính, nằm mê man đến mấy ngày, rồi dân họ đi qua khiêng về cứu chữa. Tôi đặt tên cái gò ấy là gò Quân Dân, về sau khi chỉ đạo tác chiến anh em cũng quen miệng gọi là gò Quân Dân.
Anh Vinh là một mẫu người rất quen thuộc của tôi. Suốt hai cuộc kháng chiến tôi đã được gặp rất nhiều anh Vinh. Mà không phải tìm kiếm đâu xa, là nhiều đồng chí trong cùng một cơ quan tôi đang làm việc, là những ông hàng xóm của khu tập thể quân đội tắt lửa tối đèn đều có nhau, là những bạn bè rải khắp bốn phương, mỗi lần gặp lại ồn ã chuyện thời thế, chuyện cách mạng và cả cái chuvện viết lách của tôi nữa. Tôi thuộc họ, thuộc cái phô ra, thuộc cả cái che kín, với những trường hợp như thế, như thế, họ sẽ tính toán ra sao, sẽ xử sự theo cách nào tôi đều ít nhiều hình dung được. Nếu chưa viết được một cái gì thật xứng đáng với họ là do cái tài mình kém chứ không phải do mình thiếu am hiểu. Nhưng với lớp cán bộ như Tường thì có khác, tôi chưa hiểu họ lại càng chưa thể thuộc họ. Với tôi họ luôn luôn là một ngạc nhiên, một bất ngờ, ý kiến bất ngờ, việc làm bất ngờ, mọi phản ứng tự nhiên đều bất ngờ. Nói chuyện với họ tôi phải đắn đo, phải dò hỏi, và chẳng dám đưa ra một kết luận nào thật mạnh bạo. Năm nay Tường đã bốn mươi lăm, tôi thì năm chục, cách tuổi nhau không phải là nhiều, đều là cán bộ của Đảng cả, đều nhắm một mực tiêu mà phấn đấu cả, lại có những tiêu chuẩn chung để suy nghĩ và hành động. Ấy vậy mà lại khác nhau, đôi khi còn rất khác nhau. Khác nhau trong phong cách lãnh đạo, trong lề lối làm việc, trong nhiều quan niệm về mọi sự ở đời.
***
Chúng tôi ngồi nghỉ ở căn nhà lợp tạm của công trường, rồi kéo nhau đi bộ vào đập. Anh Vinh hỏi:
- Đập này có nhiều đoàn đến tham quan không?
Hưng đáp:
- Nhiều chứ, vì ở đây có mấy cái cửa cống rất rân kỳ, còn ở K2 thì nổi tiếng vì máng nước treo, cũng là của lạ cả.
Anh Vinh lại hỏi:
- Công trường K2 thì ai là “tư lệnh”?
- Vẫn là tôi, ty giao cho một mình tôi đảm nhiệm bốn công trình đột xuất cách nhau cả trăm cây số, nhận lệnh vào cuối mùa khô chỉ còn khoảng chục ngày để chuyên chở mọi vật liệu trước khi mùa mưa đến. Riêng công trình K2 phải vận chuyển bằng xong trong tám ngày một trăm mét khối đá, bốn chục tấn xi-măng, hai chục tấn sắt thép. Ấy là trên họ tính toán trên giấy bảo mình thế, chứ đã làm gì có đủ vật liệu, mà cũng không có cả xe. Tùy anh, anh muốn làm sao thì làm, cách tính toán của tôi là thế, không thể thay đổi được.
- Xưa kia bọn tôi nhận lệnh của tỉnh ủy cũng vậy, có một đại đội lính ngụy đóng quân trong buôn, các anh phải tiêu diệt nhưng không được động đến dân, bị thương một người dân cũng không được. Các anh muốn làm sao thì làm. Nhận một cái lệnh tóc bạc một nửa đầu.
Tôi hỏi:
- Anh Tường cũng ở luôn tại đây với các anh chứ?
Hưng nhăn nhỏ:
- Ông Tường hả? ông ấy ngồi trên ty chứ đâu có xuống đây. Chỉ xuống đây có ba lần thôi, một lần kiểm tra các tài liệu ban đầu, một lần thăm chỗ ẩn ở của anh em công nhân, còn lần cuối là dẫn các đồng chí lãnh đạo xuống khánh thành đập và chụp ảnh. Đúng là có ba lần. Mấy anh nhà báo của tỉnh của trung ương còn ở đây với bọn tôi lâu hơn. Anh Hoài cũng phải tới đây đến mấy lần?
Hoài:
- Bằng số lần của đồng chí phụ trách quý ty. Công trình K2 kỹ thuật lắp ráp các ống máng rất phức tạp, chắc là trưởng ty phải xuống nhiều hơn.
- Ít hơn thì có, đâu chỉ một lần. Lần ấy ông ta đứng trên ống máng nối chênh vênh qua vực để chụp ảnh.
Tôi kêu lên:
- Vậy ai là người chỉ đạo các công trình này?
- Là ông Tường chứ còn ai! Ngồi trên tỉnh nhưng lão ta tính toán mọi việc không sai một ly, từ cách hạ cửa cống đến những mối hàn, cứ thử làm chệch xem, lão ấy biết liền tức khắc.
- Khó tin nhỉ!
- Họ có bản lĩnh cao là họ tính được hết. Chỉ cần gọi một anh công nhân lên hỏi lúc mở cống nặng tay hay nhẹ tay, nước chảy mạnh hay yếu là biết ngay cách hạ cửa sai hay đúng. Nói thật với các anh tôi làm việc ở ty này đã bốn năm chưa lần nào dám tự tiện sửa đổi một chi tiết trong bản vẽ hay các điều quy định. Chỉ có thể làm theo cho thật đúng, chệch đi một chút là có bao nhiêu sự rắc rối. Mà tôi cũng là một kỹ sư về thiết kế hẳn hoi.
Đi bên ngoài thì nắng là thế, bụi là thế, càng vào gần đập không khí bỗng dịu hẳn, mát hẳn, gió rất nhiều nhưng không còn bụi. Cái hồ nước mênh mông này, ba mặt giáp vào chân núi đã thay đổi khí hậu của một vùng. Mà việc làm như thể quá dễ. Núi sẵn đấy, đồi sẵn đấy, mà nước trong một mùa mưa lại quá sẵn, nối liền các chiều cao tự nhiên lại là lập tức thành hồ. Vùng cao nguyên nơi nào cũng có thể đắp thành hồ nước. Mùa mưa không sợ ngập lụt, mùa khô không sợ nẻ cạn, đất tốt lại có nước quanh năm trồng gì chẳng được, trồng cà-phê được, trồng lúa nước được. Việc giản dị đến thế mà từ thượng cổ không ai nghĩ ra nhỉ, lại cứ phải chịu khô khát nửa năm, lũ lụt nửa năm. Chúng tôi cởi quần áo tắm lội một lúc lâu, rồi leo lên những phiến đá thật rộng, thật nhẵn, nằm duỗi thẳng chân ngửa mặt nhìn lên cái khoảng xanh cao tít mà tán các thứ chuyện. Anh Vinh lại nói chuyên những năm ở trên núi cao, đóng khố đeo gùi, râu tóc đều dài nhìn xuống, gương suối không thể nghĩ là mình đã từng sinh đẻ ở dưới xuôi, đã từng lên xe xuống ngựa, đã từng chỉ huy từng tiểu đoàn, từng trung đoàn lẫm liệt tiến công quân Pháp khắp ba tỉnh của cao nguyên. Ấy vậy mà rồi lại đeo gùi đóng khố, quân quyền trong tay chỉ là mấy ông già bà già với dăm đưa trẻ con. Cách mạng gian nan nhỉ? con đường đi tới độc lập hoàn toàn cũng ngoắt ngoéo nhỉ? Anh kể xong, cười nhỏ:
- Thay đổi một vùng địch tạm chiếm thành vùng tự do cũng mất vài năm, có nơi mất cả chục năm. Mà đâu đã chắc! Sểnh mắt một chút lại biến thành của địch. Mấy anh ở công trường này ra tay có nửa năm, nửa năm phải không, mà thay đồi được hẳn một môi trường sống đến vĩnh viễn. Thế mới biềt làm cách mạng xã hội là khó, thật khó, khó nắm quy luật, khó chọn mục tiêu, khó giành thắng lợi. Cái mặt trận này từ nay về sau vẫn cứ còn khó, chưa phải đã đễ đâu.
Tôi lật nghiêng người hỏi Hưng:
- Cái ông trường ty của anh không xuống đây với anh em thi ông ấy làm gì ở nhà? Đi họp à? Lại vẫn các cuộc họp lớn nhỏ phải không?
Hưng trả lời nhấm nhẳn:
- Lão ấy sợ đi họp còn hơn cả bọn ta.
- Thế làm gì? Đọc tiểu thuyết hay viết thư tình?
Hoài cười váng lên:
- Hắn viết thư tình thì dở nhất hạng. Học sinh lớp vỡ lòng. Còn cũng là tay chịu đọc.
Hưng nói thêm:
- Sáng tác nhạc nữa chứ, đã có mấy bài được đăng trên báo.
Tôi vẫn thăm dò:
- Làm trưởng ty Thủy lợi mà nhàn quá nhỉ? Việc chất như núi mà người lãnh đạo chủ chốt lại nhàn? Cách làm việc của Tường mà hay đấy.
- Lão ấy làm việc ung dung chứ không thể bảo là nhàn, Hưng nói. Lầu trên là một bản vẽ, một đèn máng và một cây dương cầm. Sân dưới là cái xưởng gò hàn lộ thiên với dăm ba anh thợ, trưởng ty không ngồi ở chỗ này thì ngồi ở chỗ kia, chứ cũng chẳng còn chỗ chơi bời nào khác. Phía trên nổi đàn, phía dưới đe búa, ban ngày đã thế, lắm khi tối đêm cũng vẫn thế, một người nghĩ bạo, một nhóm thợ khéo tay, cái gì rồi họ cũng làm được cả, kiểu cách mặt hàng đã kỳ dị, mà sản xuất ra cũng rất nhiều, đủ dùng cho mọi công trình thủy lợi trong tỉnh. Các anh bảo cái cầu máng ở K2, phải lắp bao nhiêu ống máng? Một trăm ống! đường kính mỗi ống là một mét rưỡi, đai tạo cứng mà không bền, nước ùa vào là vỡ tức khắc. Không nhàn đâu, nhàn thế nào được, vì lão ta tính giỏi nên làm đâu được đấy, không thiếu thừa, không nhanh chậm nên nhìn ngoài luôn luôn như người nhàn.
Chủ nhiệm công ty thủy nông có một cách kể chuyện đến hay, đủng đà đủng đỉnh, lửng khửng lừng khửng, không ra chê, cũng chẳng ra khen, có sao thi nói thế, kỳ thực thì anh đã rất mê người chỉ huy trực tiếp của mình.
Tôi vừa cười vừa hỏi thêm:
- Chỉ có một mình Tường thôi, hả? Đội ngũ cán bộ khoa học của ty nhiều lắm kìa mà?
- Nhiều chứ! trên trăm người, có bốn chục là kỹ sư, nhưng lão ta vẫn là cái đầu, bởi rằng cái cách nghĩ của người cầm đầu là vô cùng quan trọng.
***
Tối hôm đó, Hoài mời chúng tôi lại cơ quan anh dùng cơm. Anh Vinh đi đường một ngày có vẻ mệt xin kiếu bữa ăn tối, lức chia tay đột nhiên anh hỏi tôi:
- Tôi nghe nói anh có một cháu bị xuyễn phải không?
- Cháu bị xuyễn từ nhỏ anh ạ. Chữa đủ các loại thuốc mà không thấy đỡ.
Anh nắm lấy tay tôi dặn dò:
- Tôi có biết một bài thuốc chữa xuyễn rất hay của bà con trên này. Trong vườn của tôi lại có sẵn mấy thử lá đó. Tôi sẽ sao vàng cho cháu mấy ấm, bữa nào anh về tôi đưa lại để cháu dùng thử.
Thấy tôi ngần ngại vì sợ làm phiền anh nhiều, anh nói gạt đi:
- Tôi đang nghỉ chữa bệnh, chơi bời cả tháng mà, giúp đỡ phần nào các đồng chí đang làm việc là một nguồn vui của tôi.
Anh đã về rồi chúng tôi còn bàn tiếp về cái đức độ của các chiến sĩ cách mạng thuộc thế hệ cha anh. Nhân nói cái tình của lớp người đi trước, Hoài lại nhắc đến Tường:
- Cách ăn ở của cậu này thì chán lắm. Với tôi là bạn thân, biết nhau từ ngày còn ở Hà Nội mà vợ tôi sinh đứa sau hắn có biết gì đâu. Nhân có việc lại nhà nghe nói vợ bạn nằm cữ, mới chạy xộc vào vén mài hỏi đúng hai câu: “Cô đẻ à? Cô có khỏe không?” Chán ơi là chán!
Hưng nói:
- Bốn năm bọn tôi làm việc cùng nhau như chân với tay, hân chỉ lại thăm gia đình tôi có một lần, vì chuyện bà vợ tôi bị đụng xe. Khi tôi phàn nàn về cái lạnh lẽo, cái vô tinh của người phụ trách cơ quan với cán bộ cấp dưới, hân trả lời rất thản nhiên: “Tôi biết chứ, nhưng tôi không thích cái trò vuốt ve vặt. Ăn nhằm gì cái thứ xã giao vớ vẩn ấy”. Tôi quát lên: “Không thích cũng phải thích, thế nào là người phụ trách!” Hắn nín lặng, rồi hỏi tôi: “Mấy năm làm việc với tôi anh có vui không!” Tôi nói thật: “Vui chứ, rất vui, không vui sao gánh nổi từng nấy công việc mà không nghỉ một ngày nào”. “Chị với các cháu lên đây với anh có được vui không?”. “Ông chủ gia đình đã vui thì cả mọi người đều vui, lẽ thường tình mà”. Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, cười khì: “Vậy anh còn muốn gì ở tôi nữa?”.
Tôi nhớ có lần một anh ở ty Thủy lợi lại thăm tôi và đưa thư của Nguyễn Tường mời tôi lên cao nguyên ăn tết. Thấy tôi có ý ngần ngại, người kia liền nói luôn vế mùa xuân trên cao nguyên, về vẻ đẹp những ngày đầu năm ở một thị xã tỉnh nhỏ, về cái huyện K tổng diện tích còn lớn gấp đôi một tỉnh Thái Bình đang từng ngày biến đồi nhờ những công trình thủy lợi, về cảnh đẹp ở Hồ Tây và những bày vịt trời trên hồ nhân tạo K8. Nói liền cả giờ, phải yêu lắm, say lắm mới diễn tả quyến rũ đến thế. Về sau hỏi ra mới rõ cái người đến với tôi bữa đỏ chỉ là đồng chí lái xe của ty vì việc chung mà mời chào, níu kéo một anh viết văn phải lên thăm vùng đất thơ mộng nhất theo anh, nơi sống khoái trá nhất theo anh.
Tôi đặt câu hỏi:
- Với một người phụ trách thì đức tính nào cần trước nhất?
Hưng trả lời không đắn đo:
- Biết dùng người và biết tin người,
Hoài nói thêm:
- Đã dùng thì phải tin, chưa đủ tin thì không nên dùng. Dùng nửa vời chỉ làm hỏng cán bộ.
Đã đĩ với nhau một ngày đường để đủ tin, lại thêm chút rượu tẩy trần vào buổi tối để đủ say, từng người đều muốn trủt bỏ thật nhanh cái vỏ bọc của mình, cho nó nhẹ, cho nó thật. Nên Hưng mới đà đận bộc bạch nỗi niềm:
- Tôi là người Thái Bình, tốt nghiệp đại học lại về tỉnh nhà nhận việc, vẫn là cái việc nước nôi mương cống này thôi. Mười năm công tác mà nhiều trắc trở quá, nhiều buồn bực quá, cái đầu lúc nào cũng nặng, vừa nặng vừa đau. Vẫn làm nhưng là cái máy làm chứ không phải con người làm. Làm gì có niềm vui, làm gì có sáng tạo. Lỗi do ai? Do trên một phần, do mình một phần. Tôi có nhiều nhược điểm trong cách ăn ở lắm. Tính nết lừng khừng, ăn nói thô thiền, lại có tật hay cãi. Người trên không ưa, anh em trong cơ quan không ưa, đến những người giúp việc gần gũi nhất cũng không ưa. Nhìn lại mình mỗi năm như tiều tụy hơn, hư hỏng thêm, như xấu đi rất nhiều. Những ngày sống vô ích, có lúc tôi đã nghĩ thế, chẳng những mình đã vô ích mà còn gây trở ngại cho công việc chung. Cái năm tôi xin lên đây vẫn còn chiến tranh. Đã vui hơn nhưng chưa vui hẳn vì chưa có dịp thi thố tài năng vào những công trình lớn. Năm sau miền Nam được giải phóng, Nguyễn Tường từ Bộ về. Tường bốn mươi tuổi, tôi mới ba mươi lăm, hắn là phó tiến sĩ về kiến thiết cơ bản của ngành, tôi cũng đã qua trình độ đại học, hẳn từ chân trắng mà lên, thì tôi cũng thế, hẳn ương tôi ương, tính nết đều lừng khừng, không lạnh mà cũng không nóng, có nghĩa là hai chúng tôi đồng đẳng với nhau về nhiều phương diện. Có thể rất hợp nhau mà cũng có thể xung sát nhau mỗi việc mỗi ngày. Rồi làm việc. Hắn giao tôi nhận. Đầu năm một công trình, giữa năm một công trình, ngày hết tháng tới, chẳng còn kịp nghĩ mình là ai, mình đang được yêu hay dang bị ghét, mình xấu hay mình tốt, một ngày làm việc mười tám tiếng, hai mươi tiếng, rút lại trong bốn năm cũng làm được bảy tám công trình, là người có ích chứ chưa đến nỗi đã phải bỏ.
Hoài rót thêm rượu vào các ly:
- Vất vả mà vui, phải không anh?
Hưng tớp một ngụm rượu, quầng mắt đã hơi tím lại.
- Quả tình là cái vui đã làm mình quên hết những gì không liên quan tới công việc. Chỉ có công việc và công việc mà vẫn thanh thản, vẫn nhẹ nhõm, vẫn rất vui. Chẳng cứ một tôi vui mà nhiều anh em khác cũng thế, họ đều rất vui, sẵn sàng xả thân vì công việc.
- Biết giải phóng năng lực hành động của cán bộ là giỏi lắm, tôi nói đầy khâm phục. Một người phụ trách rất giỏi.
Hưng nhìn tôi, cái nhìn còn tỉnh táo lắm, có đắm đuối hơn so với lúc thường nhưng chưa phải cái nhìn ầm ướt của người say.
- Làm việc với Tường mình luôn luôn tin chắc không thể thất bại. Rủi có thất bại cũng không ai dồn hết trách nhiệm lên riêng đôi vai mình. Cứ vững tâm mà chạy tới, có hở lưng có phơi sườn cũng không sao. Làm việc mà phải chú ý quá nhiều tới sự an toàn của bản thân thì buồn quá, làm gì cho nồi, hả các anh?
Tôi nói:
- Mẫu người như anh Vinh mình cũng có thể tin được, làm việc với họ cũng không phải đề phòng.
Hưng nín lặng một lúc lâu rồi nói đắn đo:
- Tôi rất quý Tường không chỉ vì hắn là người tốt. Sống với người tốt thì yên tâm nhưng chưa thể đủ. Tôi quý hắn vì hắn đã giúp tôi lập nên sự nghiệp. Chí làm trai ai chẳng muốn làm nên một sự nghiệp ở đời.
***
Sáng hôm sau chúng tôi định đi thăm một nông trường trồng cà phê, nhưng chờ mãi không thấy xe tới đón, đành nằm khan ở nhà tán mảnh về cái xấu và cái tốt ở đời, về những mẫu người mình đã từng gặp, ở nơi này và nơi kia, dân dà dẫn đến một nhân vật cho đến hôm nay vẫn còn làm bừng cháy nhiều ý kiến rất trái ngược của anh em cán bộ trong tỉnh. Nhân vật đó là anh Thụ, một cán bộ lãnh đạo rất có uy tín của tỉnh nay đa đi nhận nhiệm vụ nơi khác. Là một chiến sĩ cách mạng kỳ cựu, một tấm gương về sự hy sinh và lòng trung thành với lý tưởng cộng sản, có hai đứa con lớn đã lập gia đinh riêng sống ở Hà Nội, ở đây chỉ có hai ông bà già, cả hai đều ăn cơm cơ quan, nhận một căn buồng nhỏ vừa kê đủ một cái giường đôi, một bàn làm việc, bộ bàn ghế tiếp khách và một cái rương gỗ đựng quần áo. Từ tỉnh về trung ương đồ đạc khuân lên xe chỉ có một cái rương gỗ. Từ trung Ương xuống tỉnh cũng vãn là cái rương gỗ một nửa xếp sảch và tài liệu, một nửa xếp quần áo. Sống như cán bộ sơ cấp và làm việc, làm việc. Sáu chục tuổi đầu, người ốm nhom, tóc bạc trắng nhưng hoạt động mãnh liệt như còn đang tuổi thanh xuân. Ăn tốt, ngủ tốt, hội họp, quát gắt, suốt tháng trên đường đi, nơi nào dân đói, dân lo lập tức anh đã có mặt, giải quyết mọi việc tại chỗ. Người lãnh đạo sống như thế, làm việc như thế nên lời nói có sức mạnh, không ai dám chần chừ, không ai dám bàn cãi. Nồng trường Chiến Thắng năm đầu trồng có 12 héc-ta cà-phê, năm sau lên 450 héc-ta, nhà nước chỉ đòi nạp có 298 tấn nhân, nhưng nồng trường thu được những 360 tán. Thắng lợi quá to. Anh Thụ xuống khen ngợi và yêu cầu mở rộng diện tích cà-phê thêm 1.200 héc-ta nữa. Phải đưa cà phê lên đồi cao mới đủ đất, nhưng sẽ tưới tắm thế nào? Đến mùa trổ hoa sự mất còn chỉ trong gang tấc, đủ nước tưới thì có quả, thiếu nước tưới thi công không. Một triệu gốc cây, mỗi gốc đòi tưới một thùng nước mà cũng chỉ đủ giữ ẩm trong một giờ, trời ơi! làm sao nhỉ? Làm cách nào nhỉ? Trồng một ngàn héc-ta cà phê chỉ là cướp chính quyền thôi, chăm sóc nó cho đến ngày thu hoạch mới là giữ chính quyền. Cướp chính quyền tiếng thế mà còn dễ, giữ chính quyền mới thật khó, thậm là khó. Người lãnh đạo đã có cách giải quyết nào chưa? Có! Gánh nước lên mà tưới! động viên anh em chịu thương chịu khó gánh nước lên đồi mà tưới, các anh mua thùng đi, mua cả một kho thùng để gánh nước. Rồi các sáng kiến: đào hố lót ni-lông đổ nước vào để giữ nước tưới, xây bể giữ nước tưới, nhưng vẫn là gánh có phải không? Mọi sáng kiến đề quay quanh đôi thùng và cái dòn gánh, không thoát ra được. Mà đã gánh là không thể đủ nước, không đủ người để gánh nước, không thể luôn luôn có nước tưới ẩm các gốc cây. Nông trường cầu cứu ty Thủy lợi, Tường phóng xe máy lên xem xét một lúc rồi cười phì: “Cái cày đi trước con trâu, hỏng là phải!”. Mà thế thật, nhẽ ra, nhẽ ra phải bỏ công làm thủy lợi đã chứ? phải có mương lớn máng nhò để tưới tiêu đã chứ? Bây giờ đã lỡ vậy thí phải làm máng tưới bằng ống cao-su vậy. Ờ, tại sao các anh lại chỉ nghĩ có gánh mà không thể nghĩ ra một hệ thống ống cao su dẫn nước đến từng hàng cây? Rút lại vụ thu hoạch năm đó hỏng cả, 450 héc-ta cũ thu hoạch kém, còn hơn một ngàn héc-ta mới thì hỏng quá nửa, không phải chỉ thiếu nước mà còn thiếu phân bón và cả trăm thứ khác để nuôi trồng cho cây. Cũng có không ít người đã nghĩ tới những khó khăn của sự mở rộng diện tích vô tội vạ, nhưng không ai dám nói cả, không ai dám đưa ra bàn cả, nó tiêu cực thế nào, nó nhụt chí thế nào, nó thiếu tinh thần tiến công thế nào. Lại một chuyện khác cũng vẫn là chuyện khai hoang. Tức là san phẳng ba trăm héc-ta rừng khộp thuần, cây rất cao và rất đẹp để trồng sắn. Mua hom sắn tận Thuận Hải rồi để cả tấn hom sân ở ngoài trời cả tháng, lúc đem trồng hỏng mất chín chục phần trăm. Rồi huy động cán bộ nhân viên các cơ quan trong toàn tỉnh đi phá rừng trồng sắn. Đến ngày có sắn không ai đi thu cả, biến thành kho lương thực dự trữ cho đám tàn quân ngụy còn sống lần khuất trong rừng. Những đợt ra quân liên tiếp nhưng không đạt được mục tiêu đã làm quần chung căng thẳng, mỏi mệt và e ngại mọi đự tính táo bạo vào những vùng chưa quen biết. Hưng nói: “Đi với anh Thụ mấy năm, tự xét mình không trưởng thành là bao nhiêu. Anh ấy thích làm việc nhưng lại chưa biết cách tổ chức cho người khác làm việc”. Còn thái độ của Tường thì khác hẳn. Tường yêu quý người lãnh đạo ấy rất thật lòng. Họ đã ngồi với nhau là chỉ có tranh cãi, một người thì hò hét, một, người thì cặm cụi tính toán, rồi cả hai cùng hò hét, cuối cùng lại vỗ đùi vỗ vai nhau cười ha hả. Hoài hỏi tôi họ khác nhau đến thế lại có thể là tri kỷ của nhau? Riêng tôi nghĩ họ là hai mẫu người hơi khác thường, ở trên cái bình thường, hai tính cách mạnh, nếu không ghen nhau thì lại dễ dung nạp nhau, bổ sung được cho nhau. Một người dám khai phá, dám mở đầu, một người biết tiếp nối trong những ràng buộc cụ thể. Một người là tia lửa, một người biết giữ gìn và nhen nhóm cho nó cháy bùng lên. Ấy là tôi đoán thế chứ chưa từng biết rõ cả hai người. Rồi thi tôi cũng sẽ được trò chuyện nhiều ngày với Tường, nhưng anh Thụ đã đi xa rồi, biết ngày nào mới được gặp và sẽ gặp anh ở đâu.
***
Tối hôm đó, anh em ở công trường K8 mời tôi lại ăn cơm. Công trường này bắt đầu đã ba năm nay nhưng chưa hoàn thành, đập chính vẫn tiếp tục đắp cao, mạng mương tưới sẽ kéo dài tới những vung đất hiện còn chưa kịp khai khấn. Nơi mời ăn là nhà riêng của đồng chí chỉ huy trưởng công trường, nhà hẹp và tối như cái ống, sân trước ngõ bên ngồn ngang những gỗ, những bao bì, khung sắt, vỏ lốp, bình điện. Bàn ăn kê ngang ra vào phải lách, đâu bếp, chủ nhà, khách khứa và cả chục đứa trẻ con chạy quần vào nhau, mời chào hò hét cười đùa, cái không khí cống trường, cách sống của người công trường, ầm ã, tạm bợ, phóng khoáng, bỏ qua mọi chi tiết, thủ tục, văn lễ phiền toái. Chúng tôi uống được một tuần rượu thì Tường nghênh ngang bước vào, giương mặt lơ láo nhìn mọi người, rồi bước nhanh lại phía tôi, kéo cái ghế nhỏ ngồi cạnh.
- Sáng nay không có xe đón các anh xuống nông trường hả? Tường hỏi tôi tự nhiên cứ như chúng tôi vốn đã gặp nhau hằng ngày rồi.
- Chắc là xe lại mắc bận chuyện gì dó. Tôi cũng khủng khỉnh đáp lại.
- Sáng nạy anh làm gì? Tường lại hỏi, nét mặt chẳng lươi hơn một chút nào.
- Nằm tán róc chứ còn biết làm gì. Tôi vẫn nói bằng cái giọng dửng dưng.
- Ờ, nằm tán trên cao nguyên vẫn là hay hơn năm tán đưới Sài Gòn. Ăn cơm đâu nói chuyện đó mà.
Tường nói không cười, nhưng tôi đã hơi mủm mỉm cười. Hoặc giả vì đã trót mến nhau từ trước nên dễ quên cái giận không đâu chăng? Đến lúc ấy tôi mới nghiêng mặt lại, nói dịu dàng:
- Mấy bữa nay tôi muốn gặp anh quá, nhưng biết là anh bận.
Tường nhìn xuống, nói nhỏ:
- Chúng tôi muốn anh đi thăm vài nơi trước, rồi bữa nào mời anh lại ty chơi.
Tôi nói cho có chuyện để nói:
- Nhìn ảnh chụp cái ty của các anh coi khang trang quá.
- Nhưng hơi xa, cách thị xã những năm cây số.
- Xưa kia là cơ quan nào của ngụy?
- Chúng tôi mới xây cất đấy chứ, trước đây chỉ là một bãi đất trống.
Tôi chép miệng:
- Chắc là cũng tốn kém lắm?
- Nhất định là có tốn kém, nhưng không nhiều lắm.
- Không có nhà nào cũ để ở tàm tạm à?
- À, cái gì làm được thì làm phắt đi, cứ tàm tạm rồi dăm năm nữa vẫn không có gì mới hơn là cái đang dùng tàm tạm.
Rồi Tường quay sang hỏi người phụ trách công trường:
- Các anh định xây dựng một xưởng cơ khí để sửa xe phải không? Vậy cái xưởng của anh có cấu tạo cầu chạy không?
Chỉ huy trưởng công trường cười hề hề:
- Làm thế quái nào được cầu chạy, xưởng của tỉnh còn chẳng có nữa là bọn tôi. Sửa chữa tàm tạm thôi, cốt lấy nhanh ấy mà.
Tường gắt to:
- Mình ghét nhất mọi thứ tàm tạm. Không làm thì thôi, đã làm phải đàng hoàng. Cứ làm cầu chạy di, mình sẽ vẽ kiểu rồi đưa chuyên gia sang giúp.
Ông phụ trách công trường vẫn cười:
- Thằng Tạo phải không? Thợ gò hàn làm thế nào được cầu chạy?
- Nhầm rồi, mình mới moi ra một tay thợ máy tuyệt giỏi. Hắn có thể làm giám đốc cái xưởng tương lai của các anh đấy.
Rồi họ quay sang bàn với nhau về tiền nong chi tiêu cho công trường trong quý hai, cách hạ lắp một kiểu cửa cống mới, về quy tắc phân nước cho xã A và xã B, cử người đi kiểm tra một số trạm thủy điện làm giúp cho mấy đơn vị biên phòng.
Họ nói chuyện họ, mình nghĩ chuyện mình, ngồi giữa họ, là khách của họ mà như người thừa. Phải nhằm lúc thật nhàn rỗi, trà dư tửu hậu, họ mới có thể tiếp khách văn và bàn chuyện văn chương. Rồi cũng có phải xem họ có chịu dọc văn mình và khảo khát được trò chuyện cùng mình? Minh đã giúp ích được gì ngoài cái việc tuyên truyền như phần đông bạn đọc của chúng ta quan niệm. Làm người tuyên truyền, người cổ động cũng là tốt, là có ích lắm nhưng còn chức năng giáo dục? Cũng không thể đòi bạn đọc phải xem mình như thế này hay như thế nọ, cứ viết di, viết cho hết lòng rồi qua cái viết mà bạn đọc sẽ định chỗ đứng cho người viết. Tôi cứ luẩn quẩn trong những ý nghĩ buồn bã ấy suốt cả bữa ăn, cho đến lúc về nơi nghỉ. Hoài hỏi:
- Anh có vẻ say phải không? hay mệt?
- Tôi có uống đâu mà say, có lẽ hơi mệt.
Hoài cười:
- Chưa ra quân mà đã mệt thì còn đánh đấm gì.
Tôi cũng cười ngượng nghịu:
- Chịu thua trước là xong, chuyến này mình xin chịu thua rồi.
Hoài nói rất thật bụng:
- Mà cũng phải, anh nhi? Anh cũng hơi già rồi, viết về đám người ồn ào của hôm nay nên là những cây bút trẻ hơn. Họ hiều nhau có dễ hơn.
Tôi nhủ thầm: có lẽ là thế, cũng nên là thế, tôi chỉ có thể viết được những chuyện của hôm qua thôi, mà chuyện của hôm qua còn vô ối, viết về anh Vinh sẽ thuận lợi biết bao, khoan khoái biết bao, người biên tập và người viết văn dễ dàng thống nhất với nhau trên nhiều quan niệm, nhân vật quen thuộc, vấn đề quen thuộc, tất cả đều đã quen thuộc, đã có tiêu chuẩn, khỏi phải bàn cãi sai dúng, nên hay không nên, được hay chưa được.
Cái mặt của tôi lúc ấy chắc là ủ dột lắm, sầu não lắm nên Hoài có vẻ chán, anh không nói gì thêm, ngồi thu người vào một góc giở sổ tay ghi chép. Một tối buồn với những ý nghĩ buồn, một chuyến di có lắm sự buồn bực vặt vãnh, những sự không ưng ý vặt vãnh. Xét cho cùng, chỉ vì một người, cái người ấy mình yêu mến, mình hy vọng, nhưng vừa mới xáp gần đã cảm thấy vướng, không thuận, chưa được vừa ý. Tôi yêu anh Vinh hơn, quen thuộc với anh hơn, anh trân trọng khiêm nhường, biết, săn sóc bạn bè bằng những cử chỉ âu yếm. Trong chuyến đi một ngày nói cho thật, tôi cũng không thích cả Hưng. Nó ngông nghênh thế nào, khoe khoang thế nào. Một lớp người nghĩ rất khỏe, sống rất khỏe nhưng còn nháp, còn thô, thiếu hẳn cái dịu ngọt, cái tinh tế, bảo là bề ngoài cũng được, dầu sao muốn sống được với nhau cũng cần có chút ít cái bề ngoài.
Hoài chợt hỏi to:
- Ai gõ cửa thế nhỉ?
- Đâu? có ai đâu?
Có tiếng gõ cửa rất rụt rè, không phải ở buồng bên mà là buồng của hai chúng tôi. Tôi đưa mắt nhìn Hoài với cái ý hỏi: ai thế nhỉ? Ai đến vào cái giờ này nhỉ? Chỉ ngại lại một bạn thơ nào tới đọc thơ và bàn luận về thời thế về văn chương thì chết tôi. Tôi đã mệt quá, càng mệt hơn nếu lại phải nói chuyện văn chương. Hoài đã ra mở cửa, Tường, chính là Tường lửng khửng bước vào hỏi bọn tôi:
- Có anh nào bị say không? Tôi sợ nhất phải ăn cơm với đám công trường. Họ uống khỏe lắm, như hũ chìm ấy.
Hoài mừng rỡ đến tội nghiệp, anh ở đây đã quá lâu nên tự coi như người của địa phương rồi, tôi là khách của Tường mà cũng là khách của anh, tôi âu sầu vì sự lạnh nhạt của người chủ thì anh vui sao được. Anh hỏi Tường xoắn xuýt.
Thế nào? ngày mai bọn tôi vẫn lại rỗi việc hả?
- Sáng mai chúng tôi mời các anh lại thăm ty. Ngày mốt chúng ta sẽ xuống công trường K8, ông chỉ huy công trường mời mọc tha thiết lâm.
Rồi Tường quay lại tôi lần đầu anh hỏi thăm tôi về sức khỏe. Tôi trả lời là rất khỏe, chỉ buồn một nỗi chưa được trò chuyện lần nào với nhân vật chính. Anh chàng ngồi im, vẻ mặt như sượng vì cách âu yếm hơi sỗ sàng của tôi. Tường không thuộc loại bảnh trai, cũng không được dễ mến lắm, người anh thô, dáng điệu cũng thô, mới gặp như người có máu lạnh, it nói và khi nói lại thiếu cái hòa hoãn, cái êm dịu. Người này kiếm bạn trai cũng khó huổng gì là bạn gái. Thật ra, Tường lại có nhiều bạn, bạn cùng tuổi thì ít, mà bạn bè trong đám thanh niên lại nhiều, nghe anh em họ nói thế. Lại nghe họ nói anh đã từng yêu nhiều người và cũng được yêu lại, tức là cũng đã có người thương anh, chẳng hiểu vì những nguyên do nào đến nay anh vẵn chưa vợ.
Tôi nói với Tường:
- Anh kéo dài cái tuổi trẻ trung lâu quá. Phần tôi năm ba mươi đã hơi già, có một gia đình đề lo lắng là rất mau già.
Tường cười nhăn nhó:
- Sống độc thân mãi cũng chán. Lắm lúc cũng bối rối vi cái tự do vô hạn của mình.
Hoài nói:
- Ông này có thói quen đến chơi nhà bạn vào khoảng nửa đêm và ra về khi đã tảng sáng. Mình thức được thì tiếp, không tiếp được thì cứ ngủ, mặc anh ta ngồi tư lự một mình.
- Với anh sống độc thân, Tường nói, không có sự phân biệt thật rõ rệt đêm với ngày, giờ nghỉ với giờ làm việc, giờ nào cũng thế, ngày nào cũng thế, rồi lại tưởng lầm ai ai cũng nghĩ thế.
Hoài hỏi:
- Anh rất hay nói trong đời chưa từng chịu thoái lui trước mục tiêu nào, chẳng lẽ cái việc lập gia đình còn chưa là một mục tiêu?
Tường thú nhận rất tự nhiên:
- Có chứ, đã có từ lâu nhưng lần đánh chiếm nào cũng thất bại, thất bại sau còn đậm hơn cả thất bại trước.
- Không rút kinh nghiệm được à? Tôi hỏi.
- Không, không bao giờ rút được kinh nghiệm rong tình yêu, không một ai rút được kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Ông già bẩy mươi khi đã yêu cũng ngớ ngần, vụng dại như thằng con trai mới lớn.
Tôi nói chớt nhả:
- Thì ra sự thất bại nào cũng có cái cớ đề an ủi nhỉ?
Tường trả lời rất nghiêm trang:
- Tai họa của tôi là không bao giờ chịu dừng lại ở cái trung bình, ở cái số đông. Tôi luôn luôn say mê cái hoàn hảo nhất mà không hề tính toán cái vốn liếng có thực của mình. Khốn khổ là chỗ ấy mà niềm vui tột cùng cũng là ở chỗ ấy.
Tôi kêu to:
- Nhưng anh đâu có hoàn toàn thất bại?
- Trong nghề nghiệp tôi đã chịu thất bại mười lăm năm, còn trong tình yêu thì đến hôm nay vẫn là kẻ thất bại.
Tôi lại hỏi:
- Bài học kinh nghiệm của mười lăm năm thất bại trong nghề nghiệp?
- Bớt cái lãng mạn đi, thêm cái hiện thực vào.
Tôi cười nhỏ:
- Bây giờ trong anh có còn chút lãng mạn nào nữa không?
- Vẫn còn, còn nhiều, còn lãng mạn nhưng đã nhận ra những ràng buộc. Lãng mạn là vận động. Vận động nào cũng có hệ số ma sát của nó. Không có cản làm sao có đẩy. Có điều muốn đẩy được nhanh thì nên bom vào chút ít dầu.
Tôi vẫn cười:
- Bữa nào anh phải kề cho tôi nghe cái “nghệ thuật bơm dầu” của anh.
Tường nói thêm:
- Thành công nào cũng có cái phần may rủi trong đó. Năm năm qua tôi gặp may nhiều hơn là rủi. Nhiều cái may lắm. May nhất là gặp được tri kỷ. Anh chưa được biết anh Thụ, phải không? Một con người có những mơ mộng đến táo bạo, chỉ tiếc rằng anh ấy chưa biết dung nạp cái phần mình còn thiếu, chưa biết kết hợp, chưa biết hài hòa. Nhưng với riêng tôi lại là một trường hợp khác, hơi đặc biệt, nhưng lý thú lắm. Để bữa nào rảnh tôi sẽ kể anh nghe.
***
Tòa nhà của ty Thủy lợi rất đẹp, là cái nhà đẹp nhất so với các công thư khác trong thị xã. Nhưng bãi đất xung quanh vẫn còn nguyên vẹn cái bắt đầu, lại chưa có tường bọc, không có cả cổng, giống nhự một anh chàng thắng bộ đồ rất sang, nhưng chân không mang giày, nó trớ trêu, nó nghịch mắt thế nào. Nói rằng rất ghét cái làm tạm mà xem ra vẫn chưa thoát khỏi cách tính toán tàm tạm. Tàm tạm thì được quá rồi, có chỗ ở, có chỗ làm việc, lại không phải chung đụng với cơ quan khác cũng đã là tốt lắm. Nhưng mùa mưa thì người phải vác xe lội vào cơ quan. Làm nhà nhưng không cần làm đường đi, cũng không cần làm hệ thống thoát nước, ngồi trong nhà là người thành phố, bước chân ra khỏi nhà đã lầm lội như cảnh làng quê, văn minh một nửa, tiến lên một nửa, không hẳn đã thiếu liền, không hẳn đã thiếu vật liệu, chỉ vì không ai nghĩ rãng những thứ phụ đó cũng rất căn, những cái vặt vãnh đó cũng rất cần.
Tôi hỏi Tường:
- Nhà cửa xây dựng như thế đã coi là xong chưa?
Tường trả lời rất tự nhiên:
- Xong từ cuối năm ngoái. Khóa sổ chi tiêu rồi.
- Tôi lại nghĩ là anh đòi hỏi hơn số đông, hỏa ra anh cũng giống như nhiều người.
Tường vẫn nói dửng dưng:
- Tôi cũng là người biết nhân nhượng, chuyện gì không quan trọng tôi đều tìm cách nhân nhượng.
Những bình phẩm xung quanh việc cất nhà của ty Thủy lợi tôi đã được nghe qua một lần, nghĩ là chuyện nhỏ, kỳ thực đã làm xôn xao dư luận các cơ quan trong tỉnh từ lúc khởi công đến tận ngày sắp hoàn thành. Anh muốn chơi trội mà, muốn làm cơ quan to mà, hẳn là thế! Ủy ban Nhân dân tỉnh còn ở nhà nhỏ, một ty Thủy lợi đùng đùng bỏ tiền xây cất nhà to! Ngạo quá! Ngông quá! Cái đó gọi là sự ràng buộc của dư luận xã hội, quá đắn đo cũng chẳng nên mà tỏ ra bất cần càng không được. Trong trường hợp này nên làm thật nhanh cái lõi, còn cái bọc thì từ từ, chậm lại một hai năm cũng không sao. Tôi nghe Tường kể lại vừa ngao ngán vừa buồn cười, nhưng làm sao được. Không thể làm khác được. Làm khác đi là ảo tưởng, là mơ mộng, là thất bại cầm chẳc.
Tường làm việc, tiếp khách, ăn ngủ trong có một căn phòng nhỏ hẹp ở lầu hai, như phòng riêng của một sinh viên nội trú chứ không ra chỗ ở của ông trưởng ty. Một cây đàn đương cầm, một cái bàn rất dài bừa bộn những sách vở, thước bút, ảnh chụp, bản vẽ, một cái giường gỗ năm một người, dưới gầm là chậu rửa mặt, bát đũa, ca chén. Và quần áo phơi vắt phấp phới khắp nơi. Chúng tôi uống một lượt cà-phê, xứ cà-phê mà không biết cách rang, không biết cách pha, nước lại nguội như uống nước bã. Tôi vẫn đinh ninh là chỉ ngồi đây một lát rồi sẽ qua một nơi nữa, như phòng tiếp khách chính thức của ty chẳng hạn, ở đó sẽ có một hoặc hai đồng chí phó trưởng ty và một số cán bộ, rồi các anh ấy sẽ nói cho chúng tôi nghe cái tình hình làm thủy lợi của cả tỉnh và những công trình nổi tiếng mà mọi người đều biết. Giản dị nhất cũng phải là như thế, một dịp chính thức giới thiệu nhau, làm quen với nhau, một bên yêu cầu một bên giúp đỡ. Tôi vốn không thích các thủ tục phiền phức, nhưng làm gì cũng phải cho đàng hoàng, càng đàng hoàng càng tốt. Đã uống thêm một bình trà, lại đã cho thêm trà thêm nước mà vẫn chẳng đi đâu cả, vẫn ngồi nguyên một chỗ với những câu chuyện vẩn vơ.
Tôi hỏi ướm:
- Bữa nay có đồng chí phó ty nào ở nhà không?
- Một anh đi họp ngoài Hà Nội, hai anh khác xuống chỉ đạo dưới huyện cả tháng nay rồi, ở nhà chỉ có một tôi thôi. Tôi rất ít đi, có đi đâu cũng chỉ trong vòng một hai ngày.
Hoài nói thêm:
- Căn phòng này và cái cơ xưởng dưới, sân kia là phòng thí nghiệm của trưởng ty. Lát nữa anh xuống coi, có nhiều thứ lạ lắm.
Tường dứng lên kéo tôi lại bên của sổ nhìn xuống một vùng sân đất rất rộng ngồn ngang những đầu máy, những ống máng và các bộ van cửa cống các kiều. Vì đã được nhìn ảnh chụp, được nghẹ kề qua nên mới biết những khung sất, thùng sắt, móc sắt kỳ quái nọ là các bộ van cửa cống. Vài anh thợ đang hí húi hàn điện, mấy gian nhà gỗ lợp tôn vừa thấp vừa hẹp, chứ có thấy cái gì là cơ xưởng đâu, dầu là một cơ xưởng giản đơn nhất. Tường ghé đầu qua vai tôi nói thì thào:
- Trông thế nhưng chớ có coi thường nhà văn nhá! Riêng một năm ngoái cái tổ cơ khí gò hàn kia đã làm được hai trăm ngàn đồng sản phẩm. Chỉ có sáu anh thợ thôi, nhưng sự thông minh và tay nghề của họ thì thợ bậc năm cũng chưa ăn được.
- Những tay thợ tài giỏi kia anh tuyền lựa ở đâu thế?
Tôi hỏi.
Tường đã cởi phăng áo ngoài, đánh trần, bắp vai cánh tay rất to và đã hơi có bụng:
- Nhiều anh tới thăm các hồ chứa nước của bọn tôi đều kêu lên: dễ dàng quá nhỉ! Nước có sẵn, cái thế để ngăn nước cũng có sẵn, chỉ đắp lên vài con đập đã thành hồ. Có gì mà khoa học với kỹ thuật! Quá dễ! Mấy anh thợ này không do tôi đào tạo, đều có sẵn cả, họ vốn sống ngay tại thị xã này không phải tìm kiếm đầu xa Ồ! quá thuận, ai mà chẳng dùng được, chỉ lo không có mà dùng. Cũng vẫn là dễ! Đến là dễ!
Tường nói xong cười ha há, hình như anh ta định nói thêm: nếu dễ thế sao các anh không làm đi! làm liền đi! lại phải đợi đến tôi! Nhưng nói thế thì kiêu kỳ quá, dễ ghét quá, dầu thật tình có là như thế.
- Thật ra lúc đầu nhìn vào dâu cũng đều khó, quá khó nữa. Tiền vốn không có, cán bộ kỹ thuật không có, đất ba-dan lại bở, đắp đập be bờ làm sao, nếu đắp được thiên hạ đã đắp từ lâu rồi, thậm chí làm máng dẫn nước cũng khó, lũ lên cao nguyên là lớn lắm, cây rừng theo lũ lao vào đến máng đá cũng vỡ nói gì máng sắt, mất công thôi, làm nhỏ thì được, khoanh lại từng vũng nước nho nhỏ thì có thể được, mùa này hỏng mùa sau làm lại, mất công một chút nhưng không tốn kém. Toàn một giọng ấy cả, có mấy ai nghĩ đến phải khảo sát lại từ đầu, đo đạc tất cả lại từ đầu, rồi tính toán lại, suy nghĩ lại...
- Vậy những ai đã dám tính toán lại, suy nghĩ lại?
- Trước nhất là anh Thụ, rồi đến anh em bọn tôi. Chúng tôi đã gặp nhau, tâm đắc với nhau vì có cùng một cách nghĩ.
- Cũng ít ỏi nhỉ?
- Thoạt đầu là thế, còn đội ngủ bọn tôi hôm nay thì đông lắm. Một sự nghiệp đúng tạo ra đến là lắm nhân tài. Mà là người cũ cả. Người của hôm qua cả.
- Còn anh Tạo nào đó là tổ trưởng cái tổ gò hàn dưới kia?
Tường đưa mắt nhìn Hoài, nét mặc anh như biến đổi khi có người nhắc đến những bàn tay cửa anh, những bàn tay thông minh, khéo léo, tận tụy.
- Cậu ấy là người của hôm xưa chứ không chỉ là người của hôm qua. Đầu năm 1976 anh chàng còn thất nghiệp, vốn là dân sửa chữa ô tô, không tìm được việc làm ở Sài Gòn mới lên cao nguyên kiếm sống, mà vẫn không sống nổi, lại vợ bỏ, lại con chết, chán quá, buồn quá thì có người bắn tin tới tôi, mà tôi lại đang rất cần người. Thử tay nghề biết là khá nhưng không ngờ lại có thể tài hoa đến thế. Cái tài hoa chỉ đến với anh ta từ sau ngày giải phóng, từ cái ngày anh về làm việc với bọn tôi.
- Lương tháng thế nào?
- Lương nào cho xứng với hai bàn tay ấy, với trái tim ấy. Ngày hai bữa cơm rau với bọn tôi, tháng tháng lãnh ít tiền trà thuốc, mà xem như là đủ, như rất vui, Cũng là một con người lạ.
Niềm vui đắt lắm, đắt hơn mọi thứ ở đời. Đã có được niềm vui thì còn cầu gì khác. Bữa trước Hưng đã nói với tôi về niềm vui của anh từ ngày được gặp Tường. Cả Hoài nữa, có ai buộc anh phải đi cùng với tôi đâu, phải nâng niu chiều chuộng tôi đâu, mà chỉ vì một lời nhắn gửi, anh tự nguyện làm, vui vẻ làm, cũng vẫn là cái niềm vui, A! con người đang ngồi trước mặt tôi đây đã có bí thuật gì để tạo ra niềm vui cho bè bạn, cho anh em cộng tác, cho mọi người? Tôi lại hỏi:
- Cải cậu Tạo ấy có ý định làm việc lâu dài với các anh không?
Hoài rnủm mỉm cười:
- Cái đỏ còn tùy.
Tôi nhướn mắt, nhìn Tường:
- Tùy cái gì?
- Tùy ở mình thôi, Tường nói. Tôi tin ở Tạo dẫu rằng cậu ấy đã nói hết với tôi về quãng đời phiêu bạt lang thang của minh. Mội người biết làm việc tận tụy, biết tưởng tượng, biết sáng tạo không thể là người xấu.
Tường đứng đậy mở nắp đàn dương cầm, quay lại nói với chúng tôi trịnh trọng:
- Các anh thử nghe một bản nhạc tôi làm hồi vào trong này, năm 1973, nhan đề “Tiếng hát người lái xe”.
Rồi anh nhấn phím luôn, vừa dàn vừa hát, giọng hát lại rất dịu đàng:
Đường trập trùng xe tôi đi
Tiếng máy reo, gió reo hòa theo tiếng hát vui
Lướt nhanh nhanh trong hương thơm đồng lúa chín vàng.,,
Suy nghĩ không sáo, làm việc không sao mà lời thơ đến là sáo, nét nhạc cũng sáo, đàn gõ tiếng một, giọng hát lại quá đắm đuối quá dịu dàng. Trời ơi! tôi đã hiểu ra rồi, thảo nào anh chàng luôn luôn thấi bại trong yêu đương, chắc hẳn đã nghĩ mình đàn được, hát được, viết nhạc cũng được, khéo chừng còn tự tâng bốc là có sức quyến rũ riêng nữa cũng nên. Có lần Hoài bảo tôi Tường rất kiêu ngạo trong tình yêu, kiêu ngạo và chủ quan, chỉ với tay là có. A ha! chỉ với tay là có thì đến việc nhỏ cũng chẳng bao giờ có, huống hồ là một việc chính Tường đã phải nói không một ai rút được kinh nghiệm, không một ai dám tự cho là đã nhiều từng trải.
***
Chúng tôi đi thăm hồ nước K8 những hai xe, do trưởng ty Thủy lợi dẫn đầu. Anh Vinh cũng được mời đi, vì địa phương đó là nơi hoạt động mấy năm đầu đánh Mỹ của anh. Và một người khách nữa, cô giáo dạy Trường cấp I ở nông trường Chiến Thắng. Tôi đã được gặp cô giáo một lần tại đội văn nghệ không chuyên nghiệp của công đoàn tỉnh nhân đến thăm anh chị em tập dượt cho một tối biểu diễn. Cô giáo có cái tên gọi thật khuê các, thật hoàng tộc, thật Huế, Tôn Nữ Diễm Tố, nhưng gia đình đã rời vào Sài Gòn sinh sống từ mấy chục năm nay. Cô tôn nữ - nhà giáo lên cao nguyên dạy học ngay từ sau ngày giải phóng, được học trò và các bậc cha mẹ rất thương, lại hát được, ngâm thơ được. Và đẹp. Một cái đẹp không Huế chút nào, khỏe khoắn, tự tin, tháo vát. Tôi cũng nghe anh em nói loáng thoáng là họ đang gán ghép cô giáo với Ông trưởng ty hơi muộn vợ, thí nhiều cặp vợ chồng cũng được bắt đầu bằng sự gán ghép có sao đâu, họ vẫn ăn ở với nhau rất hạnh phúc. Tường đi ủng, đội mũ nhựa của anh em công trường lượn đi lượn lại nhưng chỉ đưa mắt hỏi cô giáo có môt lần. Anh hùng chưa! phách lối chưa! cái điệu bộ gà sống cậy cái mã đẹp còn làm anh ta khổ. Rồi cái buổi đi hôm nay mà vui đấy, sẽ rất là vui. Chúng tôi đi một xe, mấy anh em ở công trường đi một xe. Người lái xe của chúng tôi đẹp trai, ăn mặc chải chuốt, cử chỉ lịch sự, lại đeo cả máy ảnh. Nghĩ là dân trong này mà hóa ra người Hà Tĩnh, là trưởng phòng thiết kế của ty. Cô giáo mặc quần âu mầu xanh đậm, áo sơ-mi trắng cộc tay cổ bẻ có thêu hai chùm hoa nhỏ màu xanh lợt trước ngực, Tóc cắt ngắn, mắt dài, miệng rộng, gò má cao, không phải là những nét đẹp, vậy mà lại đẹp, lại quyến rũ và cũng rất kiêu kỳ. Xe quân sự đít vuông, Tường ngồi cạnh người lái, sát lưng anh là cô giáo rồi đến anh Vinh, rồi đến Hưng. Phía ghế bên này là tôi, là Hoài và một anh kỹ sư ở công trường. Anh Vinh xem như khỏe hơn lần đi trước, anh luôn tay chỉ trỏ giới thiệu những loại cây nổi tiếng của cao nguyên: cây na-ghia dùng đóng hòm xương thịt đặt trong đó rất lâu nát, cây kơ-nia như là một thứ cây gạo vùng xuôi, cây cầm lai đóng đồ càng dùng càng đẹp. Xe chạy qua một vùng nổi tiếng là lắm voi, là nơi săn voi, anh Vinh xoa tay, màu mắt đã bạc chợt lóng lánh:
- Mùa này là vào mùa sắn dây. Voi kẻo gỗ không thể cho đi săn được. Con nào ham săn là hay mài ngà vào mùa mưa, mài sáu tháng mưa thì ngà đã bén lắm. Voi đã có ngà bên trái thì còn mọc ngà bên phải, nếu chỉ mọc có ngà bên phải thì mãi mãi chỉ có một ngà. Voi một ngà là rất dữ. Trước đây tôi thường theo phường săn lên tận đỉnh Chư Giang Sinh, ngọn núi cao nhất của phía nam cao nguyên, trên đó có một hồ nước, voi rất hay ở đấy.
Tường quay nghiêng người bảo:
- Tôi đã trèo lên cái hồ nước đó, một hồ nước mênh mông trên chóp núi cao nhất, thiên nhiên cũng lắm vẻ đẹp đến lạ kỳ. Công trình của con ngưới bì sao được với thiên nhiên.
Cô giáo vẫn nghiêm nghị nhìn qua vai người lái xe về phía trước không hề nhếch môi, cũng không tỏ vẻ gì cả. Cả hai đều quá tự tin, đều quá ngạo mạn mà. Tường cúi người bật lửa châm thuốc, từ đó anh không nói gì thêm. Vẫn chỉ có anh Vinh nói:
- Lát nữa chúng ta sẽ qua buôn Răng, ở đó năm 1960 chúng tôi đã kết nạp vào Đảng một ông già người Ê Đê, ông Y Dui, đồng chí bí thư người Ê Đê đầu tiên của cả vùng này. Chà, chà, tôi cứ nhớ mãi những đêm trăng sáng, mỗi lần họp xong lại cùng nhau hát “Bài ca cách mạng”. Ngồi hát trên đỉnh núi, giữa một vòm trời mờ mịt khói sương, nhìn về phía nào cũng chỉ thấy những vệt lửa đỏ rực đốt rẫy:
A giang a tây kờ rú.
Cho ê lan nao tlâu
Tách pa mơ nui bun xăng
Chen kớ cơ lây ê ngây
Lan kơ chư
Sí ê lan đẵp nống...
(Anh em cách mạng
Dẫn đường đi trước
Lãnh đạo đồng bào
Đi đến Độc lập Tự do
Nhìn rừng núi cao
Coi như đồng bằng...).
Đến lúc này mới nghe cô giáo cất tiếng hỏi;
- Những năm ở rừng các chú sống bằng gì? Ai nuôi mấy chú?
- À, một năm ở với ông Dui tôi chỉ đi hái có lá trầu rừng đem về cho bà vợ ông ta đưa ra chợ đổi gạo. Không đủ gạo thi sống bằng hoa quả, như loài hầu ấy, soài rất nhiều, mít rất nhiều, củ mài cũng nhiều, củ từ gai heo rừng không ăn được thì mình ăn, nhổ một bụi ăn cả tuần. Còn nõn cây dác thì ngon tuyệt, bùi mát hơn cả nõn chuối. Có đói, lúc nào cũng đói, đói quanh năm, đói cả chục năm, nhưng rất vui cô ạ, chưa một ngày nào tôi cảm thấy buồn.
Cũng vẫn là cái niềm vui. Niềm vui! cái chất men làm say đẳm lòng người, biến dạng mặt người, cải tạo con người.
Đoạn đường có vài chục cây số mà xe chạy mất cả buổi, chạy một quãng lại dừng xe, tất cả đổ ào xuống nhốn nháo chụp ảnh, hút thuốc, uống cà-phê đã pha sẵn, trà đã pha sẵn đổ trong các bình. Một chuyến đi pích-ních chứ không ra “đi thực tế”. Quả tinh trong đám người ngồi đây cả hai xe chỉ có tôi là làm việc, vì cái nghề của tôi là làm việc bằng các chuyến di, còn anh em là đi chơi thôi, chơi bời dọc đường là chính, ăn uống dọc đường là chính. Cả cô giáo cũng thế, đi chơi chứ đâu phải vì cái hồ nước của anh Tường “em đã đến đó cả chục lượt rồi” như cô nói lúc lên xe. Nên cô có vẻ rất vui mỗi lẩn xe dừng lại dọc đường. Khi Hoài giới thiệu tôi với cô giáo, cô hơi mỉm cười, miệng rộng, vành môi rõ và mỏng nên nụ cười có cái duyên lạ của nó.
- Em rất hân hạnh. Nhưng em được đọc của anh ít quá. Chỉ có mấy đoạn trích ngắn trong sách giáo khoa thôi.
Được mấy đoạn trích văn cũng là may rồi, còn hơn không có gì cả. Tôi hỏi cô có ý định ở lại đây lâu dài không, cô đáp rất thẳng thắn:
- Em muốn ở mỗi nơi một vài năm, những nơi em thích, chứ ở mãi một chỗ thì buồn lắm, anh à.
Ví thử cô ta buộc phải ở lại một nơi mãi mãi thì sao? Chắc hẳn sẽ mất đi cái niềm vui của hôm nay và mỗi ngày sẽ là một nhọc nhằn phải chịu đựng. Sẽ là một cô gái già khó tính khó nết, chẳng được ai mến, chẳng được ai thương. Chỉ vì đã mất đi cái niềm vui của những năm đầu. Lại niềm vui! Nói mãi về cái niềm vui! Thì hãy nhìn cái anh lái xe kiêm thợ chụp ảnh kia! anh ta mới vui thích làm sao! tóc xõa xượi, cầm ống ảnh chạy lui chạy tới, tự mình bỏ tiền mua phim, tự mình bỏ tiền mua giấy ảnh chụp cho cả mọi người, anh ta thích thế chứ có ai buộc. Buộc thế nào được! Nếu hỏi: lấy tiền đâu mua phim? lấy tiền đâu mua giấy? anh sẽ trả lời rất thẳng thắn: tôi đi chụp hình cho bà con quen biết trong thị xã những ngày nghỉ lấy tiền mua giấy mua phim. Nếu lại hỏi, lại hỏi, lại hỏi, anh ta sẽ cất máy ảnh đi, xếp đồ rửa tráng lại và sẽ làm việc mệt mỏi, máy móc như một ông già sắp được hưu nghỉ.
***
Tôi không thể tin được vùng hồ trải ra đến mông mênh trước mắt tôi cách đây ba năm là đồi tranh, là rừng già, là lam sơn chướng khí. Như từ thuở khai thiên lập địa vùng này đã có hồ. Ven hồ có nhà chài và lưới đánh cá, dân vùng cao làm nghề mới này từ hồi nào? Như đã lừ lâu lắm, như là nghề của tổ tiên truyền lại. Một việc làm đúng chẳng có gì xóa bỏ được, nó tồn tại như tự nhiên, xương thịt các tác giả công trình đã hư nát từ lâu, cái công trình vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Cứ cho răng trong mấy năm qua, anh Thụ đã làm nhiều việc chưa thật đúng, nhưng chỉ riêng được một việc đắp hồ trên cao nguyên cũng đã là được rất nhiều.
Chúng tôi đi hơn mười người, tự nhiên tách làm hai nhóm, một nhóm trẻ và một nhóm những ông già hoặc đã ngả về tuổi già, có tính nết của người già. Tất nhiên là cô giáo phải tách khỏi bọn tôi mà đi với đám trẻ. Họ dễ nói chuyện với nhau quá, dễ thân nhau quá, mới chuyện trò thăm hỏi loáng thoáng đã xưng hô với nhau bằng tên không, đã hẹn sẽ lại gặp nhau một ngày nào đó trong tuần tới. Là người của họ mà, ghen tị thế nào được. Ông Tường ơi! yêu làm gì một cô gái mới ngoài hai chục tuổi, chiều họ còn chẳng được huống hồ còn cao ngạo lạnh lùng. Chúng tôi chụp chung với nhau rất nhiều kiều ảnh và ở mỗi kiểu anh em đều cố gán ghép cho “họ” đứng cạnh nhau. Cô giáo nhận sự đun đẩy hữu ý rất tự nhiên, cô ta đứng cạnh người hùng của cao nguyên với bộ mặt khinh khỉnh và nụ cười bỡn cợt. Rồi thì cô gái cũng thắng thôi, thắng một cách oanh liệt, tôi biết thế, nếu như họ có yêu nhau thật.
Nắng đã tắt hẳn, mặt hồ sẫm lại và khung cảnh rõ nét đến từng cánh vạc đang bay lên. Chúng tôi ngồi xung quanh một cái bàn dài kê gần sát mép nước. Gió quá, gió thổi rát cả da mặt, phải cuộn cả khăn bàn lại và mỗi người cầm chắc ly rượu trong tay. Bất chợt anh Vinh hỏi to một người còn trẻ nhưng tóc đã hoa râm ngồi ngay trước mặt:
- Oong thâu câu mớ? (mày biết tao không?)
Người kia trả lời điềm đạm:
- Thâu! (biết)
Anh Vinh giới thiệu người bạn cũ đó với mọi người:
- Ông thổ công của vùng này suốt những năm đánh Mỹ đấy! Thần gò thần đống đấy! bữa nay sao lại ở đây, hả?
- Chẳng ở đây còn ở đâu, bây giờ tôi là thần hồ mà.
Đồng chí chỉ huy công trường đứng lên, dáng vẻ trịnh trọng:
- Anh Tư là phó chủ nhiệm công ty xây dựng thủy lợi...
Anh Vinh giơ tay cắt ngang :
- Tôi đã có nghe nói, nghĩ là Tư nào, hóa ra bạn chiến dấu cũ. Đã mấy năm chưa gặp lại nhau nhỉ?
- Mười năm, từ sau ngày bị thương, lúc chữa khỏi tôi lại về Quảng Ngãi.
- Thằng Lài còn sống không?
- Chết rồi, chết ở Ninh Hòa.
- Còn thằng Y Ơn?
- Tiến bộ lắm, trung đoàn phó công binh đóng ở Thuận Hải.
Anh Vinh quay lại nói với chúng tôi :
- Tôi cứ nhớ mãi cái năm đưa cho Y Ơn một ống muối, bảo: “Chúng ta chia đôi ống muối này rồi cùng nhau làm cách mạng”. Hắn trả lời liền: “Mười một năm tôi ăn lạt có lúc nào tôi không làm cách mạng mà phải đợi có muối”. Con người khí khái lắm, tài giỏi lắm.
Tường ngồi cạnh tôi, nghiêng mặt về phía cô giáo ngồi nghiêm trang ở một đầu bàn. Đi một ngày đường mà họ chưa hề nói chuyện với nhau một lần nào, chủ gì mà lạ thế, khách gì mà lạ thế, hoặc giả họ đã nói với nhau rất nhiều bằng những chuyện không đâu với bè bạn xung quanh, mặc dầu cả hai đều đang giữ một bộ mặt hết sức đáng ghét. Rút cục thì anh con trai vẫn cứ phải mở đầu:
- Đề nghị cô giáo thay mặt chúng ta hát tặng công trường một bài.
Rõ thật vớ vẩn! hết sức vớ vẩn! bỗng nhiên lại bảo hát, tại sao lại hát? tại sao lại chính cô giáo phải hát? Cô giáo vẫn khoanh tay trước ngực, cười mỉm không thèm trả lời. Bọn tôi cũng không ai hưởng ứng. Đã bẽ bàng đến thế mà anh chàng còn cố gào lên một lần nữa mời cô giáo đứng lên hát. Cô giáo hất cằm, hỏi đủng đỉnh:
- Tại sao lại là tôi hát?
- Đàn bà mà, đã là đàn bà là phải hát!
Anh ta yêu thật rồi, quá yêu rồi, phải là đang yêu mới ăn nói ngốc nghếch đến thế. Ai bảo cô giáo mới hăm nhăm tuổi, trong tình yêu cô bé già dặn, điềm tĩnh như một lão tướng:
- Nếu tôi đề nghị chính là anh hát thì sao? Anh hát những bài anh sáng tác ấy.
Da mặt Tường tím đỏ, anh giơ tay nói lúng búng:
- Nhưng giọng tôi chán lắm, giọng người lao động làm sao mà hay được.
Cô giáo vẫn nói gióng một như quan tòa tra hỏi phạm nhân:
- Vậy tôi không phải là người lao động? Tôi là tiều thư thời xưa, hả?
- A, à, nói thế không phải là mình phần biệt, nhưng mà... nhưng mà.
Rồi Tường đứng phắt lên, mặt mũi cau có:
- Tôi xin hát một bài tôi sáng tác vào cái năm tôi đi dọc Trường Sơn, cái năm đó vẫn còn chiến tranh, năm 73...
Cô giáo nói đế :
- Tất nhiên là có rất nhiều bom đạn.
- Không phải tôi nói là gian nan đâu, tôi đi cuối cùng, cả triệu người đã đi trước rồi mới đến lượt tôi.
Cô giáo vẫn hếch mặt cao ngạo:
- Anh hát hay diễn thuyết? hát đi chứ! một sáng tác về Trường Sơn!
- Không, không hẳn là thế, về người lái xe của Trường Sơn
Tôi khâm phục anh em lắm, tôi...
Cứ như thế, một người thì riễu cợt, một người thì giãy giụa trong sự thanh minh, rồi đây ai là chủ nhân ai là nô lệ tưởng cũng đã rõ.
Rồi Tường hát, người thì cao lớn nhưng giọng hát lại quá nhỏ, lại uốn éo, chẳng ai dám cười, vì cố nén cái cười nên vẻ mặt mọi người trở nên trang nghiêm. Nghe hát mà nghiêm trang, mà căng thẳng, mà lo sợ. Nếu Tường, tôi thầm nghĩ, yêu một cô cán bộ hơi lỡ làng duyên phận, lứa tuổi ba mươi chẳng hạn, anh sẽ tự nhiên hơn, thoải mái hơn, do đó sẽ dễ thương hơn. Anh sẽ là anh không phải tự cải dạng thành người hùng, thành hiệp sĩ, thành chàng trai trẻ tài hoa có nhiều sức cám dỗ, sẽ nổi những câu cần nói, sẽ làm những việc cần làm mà cái đích văn đạt được hết sức tự nhiên. Ồ, thì Tường đã bảo trong tình yêu không ai tự biết mình cả, bao giờ cũng chủ quan và lố bịch, vậy mới gọi là yêu, và cũng sẽ không bao giờ rút được kinh nghiệm vì những lần thất bại. Mặc kệ! cứ yêu đi! trở thành trò cười cho thiên hạ cũng không sao! lại thất bại nữa cũng không sao! Vì trong khi yêu mình đã được đền bù, có bao giờ buồn đến thế và vui đến thế, lo sợ đến thế và tin tưởng đến thế, yếu vô cùng mà cũng mạnh vô cùng, chỉ như thế thôi cũng đã đủ, đã quá đủ để mình sẵn sàng hạ xuống thành vật chế diễu của mọi người. Tường hát xong lặng lẽ ngồi xuống, mặt cúi gằm, thở hổn hển, hai vai áo sẫm đen mồ hôi. Nét mặt cô giáo như dịu hẳn, cái nhìn như hiền đi rất nhiều, vành môi cũng mềm lại, yếu ớt, cô nói bằng cái giọng khác hẳn, hơi kéo dài, nhõng nhẽo, nũng nịu:
- Tố đã nghe nhiều bài hát về người lái xe nhưng Tố thích nhất bài này, Tố rất thích các anh à.
Hoài nói:
- Tôi rất muốn được nghe cô hát bài ấy, cô đã bảo rất thích mà.
- Con gái ai lại hát bài người lái xe?
- Các cô gái vẫn lái xe chứ! không phải xe du lịch mà là xe vận tải.
Cô giáo nheo mắt nhìn riêng có Tường thôi, nói với một mình anh ấy thôi:
- Khi nào anh Tường làm bài hát về tình yêu là Tố tập liền à, hát liền à.
Tường vẫn củi gằm mặt xuống, vẫn thở rất mệt nhọc, tội nghiệp! anh chịu thua rồi, cái cô bé đáo đề ấy đã nói được những lời thật dễ thương tức là cô ta đã thắng rồi, một cách thắng cũng đến là dễ thương.
***
Anh Vinh nói với Tường:
- Nếu không có những công trình của các anh chúng tôi biết lấy gì trả nợ bà con các dân tộc. K2 là nơi các cơ quan của tỉnh đội thay nhau đóng quân suốt mười năm. Mỗi lần địch càn, dân chạy vào núi, khi trở về chỉ còn có tro than, lại làm nhà, lại đốt rẫy lại nuôi cán bộ không oán trách một lời. Ông Nưa là chủ làng bảo tôi: “Lúc bay mới tới thì nhà tao có hai mươi cột, voi có, trâu có, bây giờ tao mất hết chỉ ở có túp lều nhưng chúng tao vẫn theo cách mạng”. Bữa khánh thành cầu máng, ông Nưa cùng đứng với tôi. Ngắm những trụ rầm cao trên chục mẻt vươn thẳng từ dưới vực sâu đỡ lấy những ống máng khổng lồ mà tôi không cầm được nước mắt, nó đẹp quá, nó hùng vĩ quá, cánh đồng K2 có nước mùa khô là chuyện đổi đời. Ông Nưa quay lại hỏi anh Hưng: “Cái ống kia bao giờ thì hỏng?”. “Cũng phải vài chục năm, hỏng lại thay, tỉnh minh làm được mà”. Lại hỏi : “Cái trụ kia bao giờ thì hỏng?”. “Cũng phải cả trăm năm”. Ông Nưa nói: “Tao nuôi cách mạng có một đời, cách mạng nuôi lại bọn tao rất nhiều đời” tao đã bảo làm cách mạng đâu có mất”.
Trời tối dần. Chỉ nhìn rõ có nửa mặt bồ, còn nửa bên kia đã chim trong sương tím. Gió dịu lại nhưng lạnh, cái lạnh dìu dịu của cuối thu miền Bắc. Tôi hỏi đồng chí chỉ huy công trường:
- Cái hồ này rộng bao nhiêu, anh?
- Khoảng ba trăm héc-ta, trữ được mười bốn triệu mét khối nước. Nhưng chỉ là đợt 1, còn đợt 2 dâng đập cao thêm sẽ trữ tới hăm nhăm triệu mét khối nước.
- Khoảng nào thì xong đợt 2?
Tường nói thay:
- Trong một hai năm gì đó.
- Trả lời gì mà lưỡng lự thế, một năm hay hai năm?
- À, một lưỡng lự đã có tính toán, đã được bàn cãi và số đông đã chấp nhận.
Đồng chí chỉ huy công trường giảng giải:
- Đất ở đây độ dính kết kém lắm, cho xuống nước vỡ bở như vôi. Đầm nén thật kỹ khoảng một tấn ba đất trên một mét khối thì cũng tạo được độ trơn trượt của nó. Nhưng còn phải đợi thử thách qua vài mùa lũ.
Tường nói năng đã tỉnh táo:
- Có cái cần làm nhanh, có cái cần làm chậm, Lao cầu máng ở K2 thì phải nhanh trong vòng vài tháng để tránh lũ, còn dâng đập ở đây lại phải chậm, phải nhờ vài cơn lũ kiểm tra công việc của mình, Vì còn nhiều ẩn sổ lắm, chúng tôi thường gọi đùa là “hệ số dốt”, bỏ qua là sẽ bị thiên nhiên trừng phạt thẳng tay. Với người còn cãi được chứ với trời thi mình nói lại làm sao?
Lại là một người khác, phóng khoáng, tự chủ, ăn nói tuy nhấm nhẳn nhưng lời lẽ đến dễ nghe. Anh đã trở lại với chính anh, không còn bị ràng buộc phải rập theo một hình ảnh nghĩ rằng mình có thể có.
Chỉ huy trưởng công trường nói:
- Một công trình kéo dài là tốn kém lắm. Ai chi tiền cũng phải hỏi: Các anh định bao giờ mới làm xong? Nghe hỏi mà khó chịu, hết sức khó chịu.
Tường tiếp lời:
- Cấp trên cũng khó chịu chứ, vì còn có cấp trên nữa hỏi: các anh định bao giờ sẽ làm xong? Thì cũng có thể làm xong ngay trong năm nay nhưng tôi sợ sẽ có lúc phải làm lại, làm lại thì vừa tốn lại vừa chán vì là một công trình hỏng.
- Có cần thiết phải dâng đập cao hơn nữa không? Tôi hỏi.
- Với mực nước này có thể tưới những khu đất thấp khoảng trên dưới hai ngàn héc-ta. Nhưng muốn tưới những vùng đất cao hơn thì phải dâng mức nước cao hơn, mà là rất cần thiết, vì sẽ là vùng đất trồng cà-phê.
- Chuyện đã rõ ràng thế có gì phải tranh cãi?
- Vấn đề phải tranh cãi là nên làm đứt đi hay nên kéo dài? Anh em chúng tôi chủ trương kéo dài, anh Thụ muốn tập trung lực lượng làm cho dứt. Tường nói tiếp, ở những công trình lớn mọi việc phải làm theo đúng sự tính toán, không nên quá nhanh về thời gian, quá rẻ về chi tiêu, quá hài lòng ở mọi quy trình kỹ thuật. Đã lắm việc lớn phải biết bỏ ra ngoài mọi yếu tố kích thích nhất thời, chỉ nhằm có một mục tiêu: vì lợi ích lâu dài của tổ quốc, Vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chính vì tôi giữ vững cái thái độ ấy nên mới thuyết phục được anh Thụ dẫu rằng đã có lúc anh ấy định thay tôi để anh khác về phụ trách công trình.
***
Rượu đã rót được vài lượt, trong giọng nói đã có cái nhão nhợt, cái nhả nhớt, cái chuếnh choáng. Đám thanh niên bá vai nhau hát ầm lên, hát chay, không có đàn nhưng cái giọng trẻ của họ vẫn vang động, vẫn say đắm. Cô giáo cầm một sợi mứt dừa trắng muốt đưa ngàng miệng và trong cái tư thế đẹp đã chọn cô đưa mắt nhìn ngắm suốt bàn, thình thoảng cố dừng lại một chút trên mái tóc bờm xờm của Tường vẫn cúi xuống. Có thể họ đã yêu nhau thật, tôi đưa mắt với Hoài ngụ cái ý ấy, nếu là một cặp vợ chồng thì cả hai đều sắc sảo, đều là những tính cách mạnh, ngâm ngoài thì đẹp nhưng e khó ở với nhau được bền. Ấy là nghĩ vu vơ thế chứ đã có gi làm bằng, biết đâu họ chẳng sẽ tìm ra những giới hạn để không bao giờ vượt, những khu vực có thể sẵn sàng nhân nhượng, hòa hoãn. Cả hai đều rất thông minh mà.
Rồi anh Vinh cũng hát, anh hát lại bài ca cách mạng của năm xưa, cái thời mà đêm đến ngồi trên đỉnh núi cao chỉ mong có một ngày được xuống dưới mặt đường.
... A giang a tây kờ rú
Cho ê lan nao tlâu
Tách pa mơ nui bun xăng...
Hát hết bài, hát một mình, anh đứng lên uống cạn một hơi ly rượu vừa rót, cười ha ha:
- Một đời người được nhìn thấy non sông tự do, lại được nhìn thấy non sông rời đổi là hiếm có lắm, cái thời của anh em mình là một thời rất hiếm có!
21 -7-1981
NK.
vannghequandoi.com.vn
|