tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
07.05.2009
Viễn Phương
Hương tình ma

Đêm đã hầu tàn. Vầng trăng lạnh chênh chếch gác ngang đầu núi. Lương Sinh xô cánh liếp ra đứng nhìn trời. Từng cơn gió lạnh chạy vút trên giải lau cao. Trong gió còn vẳng nghe tiếng cười rờn rợn của ma rừng.


Lương là một nho sinh lỗi lạc của thôn Bắc. Trước kia Lương cũng từng ôm mộng phong hầu. Nhưng sinh bất phùng thời, gặp phải cảnh triều đình thối nát, quan lại tham ô, chán thế tình, Lương đã bỏ cõi đời nhơ bợn, ôm túi kinh luân lên chốn non cao ẩn tích.


Sống trơ trọi giữa gian nhà cỏ trên đỉnh núi hoang vu, Lương Sinh hằng chổi dậy giữa đêm khuya để ngâm thơ với lũ ma rừng.


Nhưng mấy hôm nay, Lương không còn ngâm thơ được nữa. Có những đàn người đói lạnh phiêu dạt về đây dưới gió rét, vào thảo trang cầu xin tá túc rồi hôm sau hấp tấp lên đường.


Hỏi ra Lương mới hay rằng: giặc đã tràn sang, kinh thành thất thủ. Nhà vua cùng triều nội lớp đầu hàng lớp chạy dạt về miền núi thẳm rừng sâu. Thảm bấy lương dân như rắn không đầu, quằn quại chết dưới gót chân tàn bạo. Bốn phương trời, giặc cướp nổi dậy như ong. Từng đoàn người đói khát bỏ làng kéo nhau đi lánh nạn.


Tim Lương sùng sục sôi lên.


Một tia sáng lóe ra trong óc:


“Phải cứu lấy quê hương!”. Nhưng rồi Lương tự nhủ: “Trước ta không hưởng tước lộc của triều đình, thì nay tội gì ta mang gánh nặng của vua quan.”.


Thế rồi từ đấy, đôi môi héo úa khép nụ cười chua chát, Lương đóng chặt cửa lều, cố quên đi những trò dâu bể của cuộc đời.


*


*           *


Một sáng sớm đầu thu, non cao còn mù mịt khí núi. Lương khệ nệ xách vò ra suối. Bỗng chàng giật mình. Bên khe suối, một xác người. Lương định thần nhìn kỹ. một thiếu nữ. Lương quỳ bên xác chết, cúi nhìn.


Nàng, một trang tuyệt sắc giai nhân, xác đã lạnh mà trên mi còn đọng hai ngấn lệ. Hình hài bé nhỏ gói trọn trong mảnh áo phơn phớt màu xanh. Nàng nằm đây như yên nghỉ, giấc ngủ nghìn thu vĩnh biệt đất trời. Lương ôm xốc nàng dậy, ẵm vào chòi cỏ. Chàng nổi lửa lên, muốn hơ mãi, hơ cho ấm lại tấm hình hài giá lạnh. Nhưng vô ích! Nàng đã chết rồi.


Buồn rầu, Lương sinh chôn xác nàng dưới cội hòe bên mái tây.


*


*           *


. Một đêm, Lương đang ngủ, bỗng giật mình choàng dậy lắng tai nghe. Tiếng ai la hét văng vẳng phía cội hòe. Chàng vội lấy thanh kiếm bước xuống giường xô cửa lách ra.


Một cơn gió lạnh chạy vút trên giải lau cao. Tiếng cười của ma rừng còn nghe văng vẳng. Lương lần sang mé tây hiên. Dưới cội hòe tiếng rỉ rên đưa lên văng vẳng. Chàng lần đến bên phần mộ rẽ cỏ ướt cúi nhìn. Quả không sai, trên đầu mộ còn những lằn roi nát cỏ. Lương đã hiểu. Hẳn lũ ma rừng đã kéo đến đây hành hạ một xác chết bơ vơ. Bỗng nhiên lệ nóng rưng rưng trào lên khóe mắt, Lương dào dạt xót thương cho linh hồn trinh nữ phải chịu phũ phàng vì roi vọt của lũ ma rừng.


Đêm hôm ấy, Lương không ngủ. Chàng đứng lặng ngoài trời, chống kiếm canh mồ cho anh hồn yên giấc.


Từng cơn gió lạnh chạy vút trên giải lau cao. Lũ ma rừng còn lởn vởn đằng xa cất tiếng cười khanh khách.


*


*           *


Đêm đã khuya lắm rồi. Sương xuống thấm ướt cả manh áo mỏng. Đã ba đêm nay Lương không ngủ, ba đêm nay chàng chống kiếm thức canh mồ!.


Đêm đã khuya lắm rồi!. Mệt mỏi, Lương ngồi xuống tựa lưng vào mộ ngủ thiếp đi tự lúc nào không biết.


Bấy giờ đã vào khoảng canh ba. Bỗng Lương giật mình choàng dậy. Chàng rờn rợn tưởng chừng như có bóng ai thấp thoáng bên mình. Chàng vụt đứng lên. Mờ ảo trong sương, một bỗng nữ nhân thoáng hiện. Lương cất tiếng hỏi:


- Nàng là ai? Hồn ma hay là người?


Tiếng trả lời thoang thoảng:


- Ân nhân! Người đừng kinh động. Thiếp là. người con gái áo xanh.


Bỗng nữ nhân rón rén đến gần nhẹ nhàng nghiêng mình thi lễ. Lương kính cẩn cúi chào. Quả là nàng, trang tuyệt sắc giai nhân. Lễ phép, chàng nói rằng:


- Nếu không e ngại. xin mời tiểu thư vào thư phòng, ta cùng đàm đạo.


Nàng khe khẽ gật đầu và rón rén bước theo Lương. Chòi tranh sáng rực ánh đèn. Ngồi đối diện trước án thư, nàng nghiêm chỉnh nói:


- Vì cảm thâm ân, nên chẳng nệ âm dương cách trở, thiếp về đây để mong đáp đền ơn người trong muôn một.


Nhân Lương hỏi qua thân thế vì đâu nên nỗi thân gái dặm trường lạc lõng giữa rừng xanh, nàng vùng sa nước mắt:


- Thiếp là Nhị Nương, con gái của Hoài Nam Hầu. Thân thiếp điêu linh chỉ vì giặc ác. Giặc tràn đến trong lúc thiếp đang vui chơi trong vườn Phương Thảo. Cha thiếp đã rụng đầu trước khi lên ngựa giao chinh. Thiếp chỉ kịp ngoảnh nhìn một giải hoàng thành ngùn ngụt lửa rồi theo làn sóng người ồ ạt chạy đi lánh nạn. Thiếp định tìm về quê ngoại náu nương. Nhưng trời chẳng chiều người. Thiếp đã chết bên dòng suối lạnh, và nhờ ân nhân mà khỏi bộc lộ hình hài. Ơn ấy thiếp ghi mãi nơi lòng và hẹn sẽ đền bồi ở kiếp lai sinh.


Tiếng gà rừng eo óc từ xa vọng lại. Nàng giật mình đứng dậy cáo từ. Lương quyến luyến xin nàng nán lại, nàng lắc đầu, buồn bã nói:


- Thiếp giờ là người của cõi âm, chỉ nương bóng đêm mà ẩn hiện. Ngày sắp đến rồi, thiếp phải về thế giới bên kia.


Lương đứng dậy tiễn nàng ra tận cội hòe, tha thiết xin nàng trở lại đêm mai.


Hình bóng nàng tan biến trong sương mù. Thơ thẩn đứng dưới cội hòe - Lương canh mồ chờ sáng.


Suốt ngày ấy, Lương bồn chồn trong dạ, ngồi đứng không yên, cứ mong trời mau tối để cùng nàng tái ngộ. Ngàn lau vừa ngả bóng, Lương đã vào dọn dẹp thảo trang, xông trầm lên hương dâng bát ngát. Và khi mặt trời đã bắt đầu khuất dưới rặng tre, Lương đã ra gốc hòe lẳng lặng đứng chờ.


Màn đêm dần xuống, khí núi dâng lên mù mịt. Đã hết canh một. Nàng vẫn chưa lên. Lương Sinh bối rối bồn chồn. Chàng bước đến bên phần mộ, cúi vỗ nhẹ vào mộ bia, khe khẽ gọi:


- Nhị Nương! Nhị Nương!.


Bỗng sau lưng chàng thoang thoảng có tiếng thưa:


- Ân nhân!


Lương ngoảnh lại. Nàng đã đứng đấy tự bao giờ.


*


*           *


Từ ấy, đêm đêm, khi gà rừng eo óc gáy đầu canh là nàng thoắt hiện về cùng chàng khi ngâm thơ vịnh nguyệt, khi bàn bạc văn chương. Và khi sao mai chiếu trên nền trời đen, tiếng gà xao xác tan canh, nàng lại hấp tấp ra đi.


Càng hiểu nhau, Lương càng phục nàng là thông tinh trác tuyệt.


Nhưng một điều khiến Lương suy nghĩ mãi là không khi nào trên mặt nàng hiện lên một nét vui tươi. Đôi mắt xanh suốt tháng ngày như đẫm lệ, và vành môi thắm, triền miên không hé nở một nụ cười.


Có lần Lương ngỏ ý hỏi, thì nàng vùng sa nước mắt than rằng:


- Nợ nước chưa trả xong, thù nhà chưa rửa sạch, thì ân nhân nghĩ thiếp làm sao vui được!.


*


*           *


Nhà Lương có một bức tranh “Bình Sa Lạc Nhạn” tuyệt đẹp. Một hôm, Lương ngỏ ý xin nàng đề thơ, nàng liền tay, hạ bút nên mấy dòng thương cảm. Thơ rằng:


Gửi nhạn:


“Nhạn hỡi! Bình sa đã trắng xương


Giờ đây sông núi hóa sa trường


Chiều nay nhạn xuống chân trời thẳm


Thấy máu hờn lên ngập đại dương?”


Lời thơ ảo não, thê lương quá, và lạ lùng nhất là khi đề xong, sắc mực bỗng đỏ thắm lên như sắc máu. Lương kinh ngạc hỏi, thì nàng đáp:


- Xưa Kinh Kha vì quá tức giận nên đứng trên bờ sông Dịch hơi thở hắt ra đã hóa cầu vồng. Thiếp nay vì uất hận vò nát tâm can, nên viết vần thơ sắc mực đã biến thành sắc máu. Ân nhân chớ nên kinh dị.


Lương càng thêm phục chí khí của người thiếu nữ.


Một hôm nhân giữa cuộc cờ, nàng bỗng dừng tay lại, hỏi Lương rằng:


- Ân nhân có thích công danh không?


Lương ngạo nghễ cười:


- Nàng thử nghĩ, nếu say bả công danh thì ta đã không ẩn tích giữa chốn rừng núi này!


Nàng lại hỏi:


- Thế ân nhân đã làm xong hiếu tử chưa?


Lương lắc đầu buồn bã:


- Cha mẹ đã khuất núi từ lâu rồi, dẫu muốn làm hiếu tử cũng không còn được nữa.


Nàng lại hỏi tiếp:


- Thế hẳn ân nhân đã trọn nghĩa trung thần?


Lương cười nhạt:


- Sinh ra chỉ gặp bè lũ hôn quân vô đạo, Sinh này còn biết bền lòng nghĩa khí với ai?


Nhị Nương tỏ ý không phục, bảo rằng:


- Trung với nước non, trung với dòng giống. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Sông núi nghiêng ngửa thế này mà chàng điềm nhiên tọa thị được sao?


Lương không đáp được, chịu lời nàng là chí lý.


*


*           *


. Một dạo, bỗng nàng ra đi biệt dạng. Lương bồn chồn trong dạ, ngồi đứng không yên. Chàng quên cả ăn, bỏ cả ngủ, đêm đêm cứ ra thơ thẩn dưới gốc hòe tới sáng.


Một đêm kia, quá nhớ thương mòn mỏi, chàng ngủ thiếp lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên mộ, dưới cội hòe, Nhị Nương đang quỳ bên cạnh. Nàng dìu Lương vào nhà mà trách rằng:


- Sao ân nhân không bảo trọng lấy thân mình. Nếu thiếp không về kịp, lỡ ra chàng mệnh hệ nào thì còn biết làm sao?


Lương tỏ ý giận dỗi, nàng nghiêm mặt bảo rằng:


- Thiếp chạnh lòng ái quốc, tạm biệt ân nhân về viếng cố đô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống gạch tro vùi xác chết. Nhân tiện, thiếp ghé qua thôn Bắc thay ân nhân mà thăm mồ tổ phụ. Nhưng chàng ơi! Lăng miếu hoang tàn, trầm hương khói lạnh, chỉ có mấy đống xương khô phơi trắng. Vì lũ giặc đã truyền quật mồ của những bậc danh nho khoa giáp đem trút xuống dòng sông lạnh.


Lương nghe nói nghẹn ngào, lòng trào sôi uất hận. Suốt đêm ấy chàng không ngủ, nước mắt đầm đìa. Nhị Nương ngồi trước án nhìn chàng im lặng thẫn thờ.


*


*           *


Đêm sau, nàng vừa đến, Lương đã hỏi:


- Em ơi! Ý ta muốn làm kẻ trung thần!


Một tia sáng vụt lóe trong mắt, lần đầu tiên Nhị Nương hé nở nụ cười:


- Ấy là sở nguyện của thiếp.


Sinh lại hỏi:


- Tôi muốn ra đi. nhưng lòng còn e ngại.


Nhị Nương nhìn suốt tâm hồn chàng, khẽ hỏi:


- Ân nhân có e ngại điều chi?


- E ngại vì Nhị Nương sẽ bơ vơ một mình một bóng giữa chốn rừng núi thâm u này. Mồ em rồi sẽ lên đầy cỏ loạn.


Nàng cám cảnh nhìn chàng ứa nước mắt:


- Xưa kia, khi còn sống, thân trinh trắng giá đáng nghìn vàng, thế mà khi nước mất nhà tan xương thịt cũng nát lầy dưới gót chân man rợ. Nay chết rồi, có đáng gì một nắm xương khô với một oan hồn. Chàng cứ yên dạ ra đi.


Hai người lại nhìn nhau mà khóc. Mãi đến lúc gà rừng eo óc gáy, nàng mới dục Lương lên đường cho sớm và dặn rằng:


- Đêm qua, xem thiên tượng thấy sao Thiên Vương chiếu về hướng Bắc, minh quân tài tuấn, yêu nước thương nòi đều tụ về phương ấy. Vậy ân nhân hãy đi về hướng ấy ắt sẽ gặp người anh hùng áo vải, đấng cứu tinh của dân tộc.


Lương bịn rịn cho đến lúc ánh ngày lên, bóng nàng tan theo đêm lạnh, chàng mới ủ rũ lên đường.


*


*           *


Từ ấy, gian lều cỏ của Lương Sinh đã thành một mái tranh hoang lạnh, nơi ẩn náu của lũ ma rừng.


Thỉnh thoảng những đêm giá rét mới có đôi người thợ săn say rượt con mồi quên trời tối, tạt vào tá túc, hoặc giả vài kẻ chạy loạn lỡ bước tìm vào nương náu để rồi qua đêm thâu, khi trời rựng sáng lại hấp tấp lên đường.


Ngôi mả loạn giờ đây đã chìm trong lau sậy hoang vu. và cội hòe xưa đã rũ xuống bên mồ vì không đủ sức chống chọi với thời gian, hay vì để ấp ủ xác nàng trinh nữ.


*


*           *


Năm năm qua. Chinh chiến đã tàn, cuộc đời lại sáng. Vị anh hùng áo vải đã cùng nhân dân đánh đuổi quân thù ra khỏi nước. Máu xâm lăng chảy ngập núi sông, lũ giặc khiếp oai đêm ngủ còn giật mình run sợ.


Giờ đây, mây lành che ngang đỉnh núi, ruộng xanh vun vút roi cày. Dòng nước thanh bình ngân cao tiếng hát ngư phu.


Chân núi Tung Sơn, những đêm sương xuống mịt mờ. Đoàn ngư phu chèo thuyền trên bến lạnh lấy làm lạ vì thấy chập chờn trên đỉnh núi hoang vu leo lét có ánh đèn.


Và đám tiểu tử cũng bảo nhau rằng những hôm chậm bước giữa rừng hằng nghe văng vẳng giữa đêm thâu hoang lạnh tiếng ngâm thơ ảo não u buồn.


Chu Phượng, một tay thợ rừng trẻ tuổi, máu còn nóng, mật còn đầy, muốn tìm ra hư thực. Một đêm nọ, đơn thân độc mã, Chu càn rừng lướt bụi lên đỉnh Tung Sơn. Đến nơi, Chu chỉ thấy một căn nhà hoang lạnh, bìm leo, cỏ mọc um tùm. Nhưng lạ thay, phía tây hiên có ánh đèn le lói. Chu nhẹ bước lần sang. Từ trong vẳng ra tiếng ngâm thơ ảo não. Chu lắng nghe:


            Từ buổi đầu rơi giữa chiến trường


            Hồn còn vương vấn mộng yêu đương.


            Bơ vơ sương gió vi vu lạnh


            Về chốn rừng hoang kiếm Nhị Nương


 


            Đêm đã về đây, đêm của ta


            Của người cõi chết, của hồn ma


            Em ơi hãy hiện lên đầu mộ


            Xao xác rừng khuya mấy tiếng gà


 


            Ta đi tìm em trong cõi âm


            Mịt mờ u lạnh đường tăm tăm,


            Em ơi! Em ở phương nào nhỉ?


            Có biết hồn ta nước mắt đầm.


Chu xô cửa bước vào. Một bóng văn nhân chợt biến theo luồng gió lạnh.


Rợn cả người, Chu vội vã ra ngựa thoát nhanh xuống núi.


Từ ấy không còn ai dám bén mảng đến đỉnh Tung Sơn nữa. Người ta xầm xì bảo nhau rằng ấy là lũ ma rừng hiện hình về phá quấy dân làng.


Nhưng. có ai biết đâu, đó chỉ là một linh hồn ái quốc, sau khi hy sinh đền xong nợ nước, anh hồn phảng phất về đây để tìm một hình bóng yêu đương. Nhưng hình bóng yêu đương đã phiêu bạt phương nào.


Rồi từ ấy, hận lòng tràn ngập, đêm đêm hồn ma tuyệt vọng lởn vởn bên nấm mồ hoang ngâm thơ than khóc với lũ ma rừng.


 


Sài Gòn, 1958


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »