1- Đào bom nổ châm
Đi đầu là chú Út A, người thấp, gân guốc nổi vồng, rắn rỏi như một vồ([1]) đá. Đầu chú bịt khăn rằn, râu dài đen, chân mày rậm. Đôi mắt nhỏ luôn luôn ánh một tia sáng vui. Chú vác đứng cây cuốc như người vác cờ, vừa đi vừa rao:
- Bom chậm đã đào hết rồi. Bà con ai trở về nấy nghe!
Phía sau, mười hai thanh niên lực lưỡng trần trùng trục chia làm sáu cặp xỏ đòn ngang è ạch khiêng ba trái bom đen sì, bước cóng róng.
Kế đó là Út Đực, gánh nguyên một cây tầm vông dài, máng([2]) lổn ngổn đủ thứ: dây da trâu, dây luộc, nồi cơm, búa tạ, đe cột lòng thòng, cả hai quày dừa tươi và mấy nải chuối các má vừa cho nữa.
Phía sau là má Ba, má Năm, má Tám rồi tới các chị và các cô nữ thanh niên gánh chè, cháo, bún, cari, bưng sầu riêng, măng cụt, thoăn thoắt bước theo, nói cười tíu tít. Hai bên đường trẻ nít xô đẩy nhau kéo rần rần như đi mừng bộ đội. Bỗng chú Út hạ cuốc xuống.
- Thôi! Ngừng lại!
Đã tới gốc cây điệp([3]), địa điểm của mọi cuộc hội họp, liên hoan trong xã. Ông địa ngó ra cười.
Chú Út đi về phía các má, sắp xếp:
- Mấy chị coi chỉ huy bọn nữ dọn tiệc. Mấy đứa công trường du kích, thanh niên nghỉ ráo mồ hôi rồi xuống suối tắm rửa, xong liên hoan.
Dưới tán cây điệp, bóng mát rượi. Mấy má, mấy chị, mấy cô nữ thanh niên sắp xếp, dọn dẹp tất tả, lu bu. Mấy cậu thanh niên vẫn luôn luôn thảnh thơi, nằm dài trên đất gối đầu lên rễ điệp, phì phà điếu thuốc rê([4]) ngon lành. Gió thổi lao rao, cành điệp đu đưa , nhìn lên tưởng chừng chính cây điệp già kia đang phe phẩy cành, quạt ra gió vậy.
Lúc ấy, đám trẻ nít bu lấy ba trái bom. Lúc đầu còn đứng xa xa. dòm, lần lần thấy không có gì đáng sợ, mấy đứa dạn nhứt xích lại gần, lấy đất cục chọi thử. Có đứa lấy cây với chọt chọt. Vẫn thấy nó nằm trơ trơ ra đó, hiền khô, vài đứa xáp lại rờ rờ.
Má Năm đang lo bày tiệc bỗng nghe mấy đứa nhỏ cười ó. Má ngoảnh lại thấy một dọc mười mấy đứa đang chen lấn nhau giành với ba trái bom, vừa nhún, vừa “họ, họ” như cỡi ngựa.
Má la thất thanh:
- Nó nổ! Nó nổ!
Mấy đứa nhỏ giựt mình chạy tản. Chú Út vuốt râu cười hà hà:
- Út Đực nó tháo cái đề-tô([5]) rồi. Chị có lấy búa mà nện nó cũng không nổ được.
Rồi nhớ tới mấy cái lỗ đìa trong xóm coi bộ cũng hơi ớn, chú quay sang nạt mấy đứa nhỏ:
- Nè, con nít đi chỗ khác chơi! Nó ì một cái thì không còn miếng thịt đa!
Má Tám cất tiếng mời nhập tiệc. Vừa lúc ấy Ba Ánh xợt xợt về tới. Ba Ánh là chi ủy viên phụ trách công trường([6]). Anh thành phần bần nông, vốn là cán bộ chí cốt([7]). Trong xã ai cũng tin tưởng và thương mến anh. Có điều anh em hơi ngán là anh cứng nguyên tắc lắm.
Vừa thấy anh, chú Út đon đả:
- Ngồi vô! Ngồi vô, Ba Ánh!
Má Năm cũng nói:
- Thằng Ba mầy về vừa đúng! Ngồi vô đó cho vui đi con!
Ba Ánh nhìn thấy mấy trái bom hơi khựng lại, chú Út thấu ý mỉm cười. Bỗng má Ba hỏi:
- Thằng Đực đâu rồi?
Chú Út sẵn trớn nói luôn:
- Thằng Đực nó rủ tụi nhỏ đi đào bom mà không có hỏi ý của Ba Ánh. Nay thấy Ba Ánh về chắc nó sợ Ba Ánh nguyên tắc với nó nên nó lui rồi!
Có tiếng xì xào bên phía nữ. Má Ba lên tiếng:
- Thằng Út nó lo đào bom cho đồng bào là ưu điểm. Thằng Ba Ánh, con phê bình nó khuyết điểm má không chịu đa nghe!
Bên phía nữ có tiếng xì xào:
- Đúng! Đúng! Má Ba nói đúng!
Mấy chú thanh niên, du kích bấm nhau cười, khoái chí.
Ba Ánh coi bộ bị cô lập dữ, cười dã lã([8]):
- Chú Út nói vậy chớ con đâu có phê bình tụi nó má!
Má Ba nói:
- Ừ, mầy phê bình nó, má không có chịu đa Ánh.
Ba Ánh vừa cười vừa dạ dạ.
Đầu đuôi câu chuyện như vầy:
Cách đây năm hôm, buổi sáng trời vừa tan sương, thì từng bầy khu trục ào tới trút bom xuống xã Nhuận Đức nầy. Cuộc ném bom kéo dài suốt buổi sáng. Thôi thì đủ các loại: bom xăng, bom bươm bướm, bom miểng. Mấy anh bộ đội thấy nó làm dữ quá, sợ hao đồng bào liền phân nhau tốp chạy ra đồng trống, tốp chạy lên sở, trương cờ lên rồi nổ súng chận đầu hút nó theo. Nhưng bọn khu trục cứ châu đầu trút bom miết xuống xóm, làm như nó thù oán bà con mình từ hồi nào vậy.
Sau trận bom, kiểm lại thì không ai chết, chỉ vài người bị thương nhẹ. Nhưng tài sản thì thiệt hại khá nhiều. Trâu bò chết, nhà cửa cháy, vườn tược hư. Điều nguy hiểm là trong xã còn rất nhiều bom bươm bướm và mười ba quả bom chưa nổ. Trên quận xuống coi nói là bom nổ chậm. Liền đó có lịnh cấm đường và đồng bào tạm thời di chuyển.
Thôn xóm bỗng nhộn lên rồi vắng lạnh. Xã Nhuận Đức nầy, một trong những xã trù phú nhứt của Củ Chi bỗng trở nên vắng lạnh. Thật là một điều không chịu nổi.
Đã năm đêm rồi Út không ngủ được. Sau giờ học tối Út lại lặng lẽ đi ra ngoài xóm. Chị Minh, vợ anh Ba Ánh, cô giáo của ấp và của công trường, không dám cản, chỉ nhìn theo lo lắng, rồi nói khe khẽ:
- Đi kỹ lưỡng nghe Út!
Út vẫn làm thinh, lầm lũi bước.
*
* *
Trăng sáng. màu xanh lạt lẽo.
Cây điệp vẫn đứng, im lặng, uy nghi. Cây điệp quê hương, không biết nó có từ bao giờ. Ngày Út lớn lên, nó đã như thế, uy nghi, vững chãi, che rợp một vùng trời.
Nó vẫn đứng đó, chia sẻ mọi nỗi buồn vui của đất Nhuận Đức nầy. Chính tại gốc cây điệp nầy ngày xưa Việt minh đã họp dân chia đất. Chính tại gốc cây điệp nầy bao lần các mẹ đã làm lễ tiễn con lên đường bảo vệ quê hương. Và mới đêm nào ngọn lửa đồng khởi đã hừng hực sáng rực gốc điệp nầy. Rồi những buổi mít tinh, những đêm văn công, chiếu bóng, những cuộc hội họp bàn chuyện xóm làng.
Thường lệ, những đêm trăng như đêm nay, xóm Cây Điệp vui biết bao. Đội văn công xã, đội vũ thiếu nhi tập tành ca hát. Rồi những đoàn cán bộ, bộ đội đi công tác dập dìu, tốp bộ, tốp xe. Những quán giải khát bên bờ suối Sa Nò đèn nước giăng giăng, khách ra vào tấp nập.
Thanh niên nam nữ không thi đua đào hầm, tập trận giả, thì cũng luyện đâm lê, yếu lĩnh mãi đến khuya rồi xuống suối Sa Nò tắm mát.
Và các cụ già râu bạc vẫn ngồi yên nhìn con cháu, lòng tràn ngập một niềm vui sâu xa. Đêm về khuya, khi tiếng hát hò lắng xuống, giữa đám con cháu quây quần, các cụ mới cất tiếng trầm trầm bắt đầu kể chuyện ngày xưa:
“. Ngày xưa, nơi nầy là trụ sở của bọn hội tề hương chức. Mảnh đất Cây Điệp nầy là nơi tập trung uy quyền của bọn chủ đất. Nơi các con múa hát kia chính là nơi đã rụng đầu bao nhiêu chiến sĩ cách mạng trung kiên. Và vùng đất các con luyện súng nầy chính là nơi chúng ta và mẹ các con hằng bị đòn roi tra tấn. Nhưng rồi cách mạng đến. cách mạng của Cụ Hồ.”.
Bọn hương chức hội tề bị quét sạch. Ngôi nhà công sở thấm máu của chúng bị đập tan. Nơi ấy một mái trường nho nhỏ đã mọc lên, và trên mảnh đất hành hình kia dân làng đã dựng lên một ngôi đài liệt sĩ. Rồi những ngày vui. Một ông địa tươi cười hiện lên ở gốc cây điệp, không biết do ai xuống nét khắc đầu tiên. Rồi mỗi người thêm một nét. Ông địa đã thành tác phẩm tập thể của địa phương. Ông ngồi đó cười híp mắt với mọi khách qua đường như mời mọc hãy dừng chân giây lát cùng chia niềm hạnh phúc của đất trời Nhuận Đức tự do.
Nhưng. bây giờ thì vắng ngắt. Bọn giặc Mỹ muốn dùng bom đạn tàn phá tất cả, bôi xóa tất cả mọi hạnh phúc, mọi ước mơ.
Mấy đêm nay, ngồi trong cơ quan giữa rừng mà Út có cảm giác là cái vắng lạnh từ ngoài xóm lan tới trong rừng và rừng càng lạnh.
- Mầy đó hả Út? Một câu hỏi từ trong im lặng.
Út quay lại:
- Đi đâu khuya vậy chú Út?
Chú Út A không trả lời. Một lát chú hỏi:
- Còn mầy đi đâu?
Út nói nho nhỏ:
- Sầu riêng bà con rụng nhiều quá.
- Ờ!
Chú Út “ờ” mà lòng dạ như để đâu đâu. Chú lặng lẽ ngồi xuống gốc điệp. Đất Nhuận Đức nầy là đất sầu riêng, măng cụt. Một gia đình hai vợ chồng già đơn chiếc có được hai gốc sầu riêng, giỏi tăng hu([9]), gặp mùa sai trái thì có thể sống đủ suốt năm.
Còn như có được mười gốc thì mức sống bằng trung nông vậy. Ông già bà cả thường nói: gặp thời loạn lạc phải bỏ xóm bỏ làng tha phương cầu thực, nghe hơi sầu riêng, thấy trái măng cụt là nhớ quê nhà đứt gan, đứt ruột. Vậy mà bây giờ dứt bỏ hết ra đi, sầu riêng rụng nhớt đất không ai lượm. Rồi Tết đến, tiền đâu mua sắm, tiền đâu đóng góp nuôi quân.
Út đến ngồi xuống bên chú Út:
- Phải đào mấy trái bom lên mới được chú Út à! Đào hết bom cho đồng bào trở về!
Đôi mắt nhỏ của chú Út bỗng ánh lên dưới trăng:
- Mầy nhắm làm xuể không?
- Gì mà không xuể? Có điều là sợ anh Ba nự([10]). Ảnh dặn tôi đợi ảnh đi họp về hãy tính.
Chú Út trầm ngâm:
- Nó về tới thì sầu riêng rụng hết rồi! Mầy nhắm làm được, mai tao rủ thêm du kích.
- Khỏi([11]), đông quá lỡ có bề gì thiệt hại nhiều. Công trường tụi tôi đủ sức! Chỉ cần có chú để “hòa giải” với anh Ba mà thôi!
Chú Út đứng dậy:
- Cái đó tao lo. Mai ráo mù sương thì bắt đầu nghe!
Út cũng đứng dậy, nhìn trăng mỉm cười, nói bâng quơ:
- Tối nay in([12]) là ít lạnh hơn mấy đêm trước.
Bây giờ là Út thấy lo, lo lắm. Cái vá đã xắn trúng lưng “nó” cụp cụp. “Nó” đã lòi lên mảng da đen thui. Chú Út bước tới ngóng nhìn rồi nói:
- Ý! Nó giống in con cá nược!
Thằng Tặc và thằng Khiêm thì cãi nhau, đứa nói giống lưng con trâu nghé, đứa nói giống cái hông khạp da bò.
Tóm lại mọi người ở đây, cả Út nữa, mới gặp nó lần nầy là lần thứ nhứt. Cái đề-tò nắm đâu? Vặn cách nào? Không ai biết! “Nó” là bom lép hay bom nổ chậm? Cũng không ai biết. Phạm tay một chút là rồi. Tiêu hết.
- Phải thấy rõ điều đó. Thấy rõ mà không được run tay. Út nghĩ.
- Nhưng sao lại run tay? Mấy lần đụng trận nổ súng, tay mình có run chút nào đâu? Bộ([13]) bây giờ ngán sao? Út lại nghĩ như vậy và mỉm cười một mình.
Vừa lúc ấy, một chú nông dân phóng xe đạp tới. Thấy lu bu chú dừng lại, chống một chân xuống đất, hất hàm:
- Nè, đào bom nữa hả? Hôm qua bên Bàu Đưng mới ì một trái. Bốn người hốt lại còn không đầy quảo([14]) đó!
Thằng Tặc vọt miệng:
- Tác động tâm lý hoài vậy ông nội!
Chú nông dân không trả lời, nhấn bàn đạp phóng tuốt, ý chừng cũng không muốn trù trừ ở cái ngàn cân treo sợi tóc nầy.
Chú Út rầy thằng Tặc:
- Mầy sao không biết kính trên nhường dưới gì hết.
Thằng Tặc chỉ nhăn răng cười hề hề. Thằng Tặc là con út của chú. Vì thuở nhỏ tánh nó hung hăng([15]), hay phá phách nên chú Út kêu nó là “Lục Tặc”([16]). Riết rồi thành danh. Mới mười lăm tuổi, nó nằng nặc đòi đi bộ đội đánh giặc.
- Cái thằng! Bộ tưởng đánh giặc dễ như đánh lộn với con nít trong xóm vậy sao chớ? Bạc đầu như tao vậy mà có bữa nó rượt chạy muốn đứng râu! Chú Út phân trần với anh Ba đại đội. Chú nói lớn tiếng, ý muốn thằng Tặc nghe cho nó ớn.
Nào ngờ chú vừa dứt lời nó đã trở miệng:
- Tại ba chạy nó mới rượt. Gặp tôi, tôi đứng lại rút chốt lựu đạn liệng thấy bà!
Anh Ba đại đội nghe thằng nhỏ đối đáp chan chát khoái chí cười ha hả.
Chú Út vừa giận, vừa tức cười lại vừa đuối lý liền rầy áp:
- Con nít đừng có trèo leo([17])! Đi chỗ khác chơi!
Nó xụ mặt vùng vằng bước đi:
- Không cho đi cũng trốn!
Nhắm thế không cầm chân nó được, chú Út mới tính kế hoãn binh, tạm cho nó vô công trường xã. Đợi nó lớn lên chút nữa sẽ tính.
Từ khi vào công trường thằng Tặc làm ăn chí thú lắm, nó làm hùng hục suốt ngày, chẳng kể nặng nhẹ sớm khuya. Có điều nó hay khóc, chị Minh giảng bài nó không hiểu, nó khóc: nó tức sao nó ngu. Làm việc nặng không lại thằng Khiêm nó cũng khóc: nó tức sao ba nó sanh nó nhỏ con.
- Ê! Ê! Đi chỗ khác chơi! Nó nổ chết bây giờ! Để đàn ông người ta làm việc.
Thằng Tặc la mấy cô nữ thanh coi đào bom đang đứng loáng thoáng đằng nhà chị Tư Liệt.
Một cô trề môi vọng lại:
- Thôi, thằng nhỏ vô duyên khó thương!
Thằng Tặc không chịu thua:
- Ừ, tui vô duyên khó thương, còn anh Út Đực có duyên dễ thương.
Mấy cô mắc cỡ thụt mất.
Thằng Tặc nói ẩu mà đúng. Út có duyên thật. Năm nay Út chưa đầy hai mươi lăm tuổi. Người dong dỏng cao, nước da trắng hơi xanh. Đôi chân mày rậm thường làm tối sẫm cặp mắt hơi sâu và như có nhiều suy nghĩ. Đôi môi đo đỏ lúc nào cũng như mỉm cười nhưng ít khi cười. Út trầm ngâm, bình tĩnh, ít nói. Nhiều cô có cảm tình với Út. Song nếu ai nói thế thì các cô sẽ phản đối dữ lắm.
Đánh trúng một đòn tâm lý, Tặc khoái chí cười hí hí rồi quay lại:
- Thôi! Tránh hết, để tôi xuống vặn cái đề tô.
Út mải suy nghĩ, vội lên tiếng:
- Khoan, để lập thế đã!
Rồi quay sang chú Út:
- Bây giờ cột dây vô đuôi nó kéo nhích thử. Nếu nó không nổ sẽ tính tới.
Chú Út gật đầu:
- Ừ! Phải đa!
Rồi chú ra lịnh:
- Thằng Tặc chạy rút về nhà lấy sợi dây da trâu. Thằng Khiêm chạy u([18]) lại ấp đội lấy sợi dây cáp tàu hôm trước. Vác không nổi thì kêu Hai Phùng khiêng giúp cho con.
Hai sợi dây nối lại cũng được trên ba mươi sải. Cột vô đuôi trái bom rồi đầu kia vừa chí mí chiến hào. Út dặn:
- Tay rị([19]) mà mắt nhìn cho kỹ. Hễ thấy khói xịt, tót xuống chiến hào gấp nghe!
Vừa nắm dây sắp rị thì thấy hai cô nữ thanh đi ra. Tặc day lại la:
- Ê!. Rồi bỗng im day lại nói nho nhỏ:
- Dừa tươi ủy lạo nghen!
Hai cô bưng ra bốn trái dừa tươi vạt sẵn. Thiệt là vừa lúc. Út cười cười hỏi:
- Mấy cô nói lén gì tụi tôi trong nhà đó?
Từ nãy Út thấy mấy cô chỉ trỏ xầm xì dữ lắm.
Cô Út bẽn lẽn:
- Có ai nói gì đâu!
Cô Chín thật thà:
- Mấy chị bàn với nhau nói mấy anh còn trẻ quá, đào bom sợ nó nổ, chết uổng. Mấy chị muốn ra cản.
Chú Út vuốt râu:
- Còn già như tao chết không uổng phải không?
Tất cả cười ồ. Hai cô mắc cỡ([20]) đỏ mặt tía tai bỏ chạy vô. Thằng Tặc uống xong, liệng trái dừa xuống đất, xây lưng đá một đá văng tít tới đằng kia, rồi nói lớn:
- Thôi, ráp vô!
Năm người bắt đầu rị. Tiếng la ó xôn xao:
- Nó nhúc nhích rồi nghe!
- Coi có xịt khói không?
- Êm rơ mà!
- Bom thúi([21])! Bom thúi!
Thằng Tặc buông dây, nói:
- Thôi, không có nổ niếc gì đâu. Để tôi xuống tháo cái đề tô cho rồi!
Thằng Khiêm, thằng Bình giành:
- Để tao!
- Để tao, mầy!
Út gạt ngang:
- Thôi, bây không quen bằng tao!
Tặc hỏi vặn:
- Anh làm hồi nào mà quen!
Út lúng túng:
- Không! Nói là nói. tao lớn tuổi. Tao bình tĩnh hơn bây.
Chú Út lên tiếng:
- Kể về tuổi tác thì tao lớn hơn mầy nhiều đó Út!
Út không đáp, chống tay tuột xuống lỗ. Út nghĩ: “Tôi đảng viên, tôi đi đầu!”. Và Út dặn:
- Chú Út dẫn tụi nó lại chiến hào núp kỹ đi.
Chú Út ngồi đứng không yên, bụng dạ cứ thắc tha thắc thỏm. Hai tay chắp sau đít hết đi tới lại đi lui. Trán chú rịn rịn mồ hôi. Mặt hơi cau có. Đôi mày rậm châu gần dính lại nhau. Môi chú hơi mím làm cho hai ngạch râu trên chúi xuống chớ không ngoách lên hiên ngang như thường lệ.
Tặc nhìn chú mỉm cười. Nó nghĩ: “Ông già làm gì mà luýnh quýnh giống y như hồi má mình sanh thằng Thù Ngô. Hồi đó ổng cứ đi xăng văng([22]) quanh buồng sanh, luýnh quýnh như bây giờ vậy!”. Rồi nó lại nghĩ tiếp: “Bộ đi như vậy rồi nó không nổ sao? Ối, mà trái bom bằng cái lu([23]) hay viên đạn bằng mút đũa([24]) cũng vậy. Chơi với thằng Mỹ phải có gan chớ!”. Và nó lại yên lòng ngồi nhìn chú Út cười cười.
Bỗng có tiếng “cảng! Cảng!”.
Chú Út giựt mình, nhóng lên dòm rồi hỏi lớn: “Được không Đực?”.
Im lặng.
Thằng Tặc nóng ruột, lò dò lại lỗ bom ngó xuống.
Út đang đỏ mặt tía tai, răng nghiến chặt, hai tay siết cái đề tô vặn. Sắc đỏ từ hai lỗ tai lan dần xuống cổ, xuống lưng và lan cả ra hai cánh tay gân guốc cuồn cuộn. Mồ hôi chảy ròng ròng. Trái bom vẫn nằm đó đen trũi, trơ trơ. Hình như nó cũng đang nín hơi chống chọi lại Út.
Thấy Út có vẻ đuối, Tặc lên tiếng:
- Tôi xuống tiếp nghen Út!
Thoạt nghe tiếng, Út liền buông tay, ngẩng lên la:
- Trời đất! Đi chỗ khác! Nguy hiểm.
Tặc càu nhàu:
- Nguy hiểm gì! Anh vặn không nổi tôi xuống tiếp mà!
Vừa nói nó vừa thòng chân tuột xuống. Biết tánh thằng bướng, Út đứng dậy chụp lấy hai chân nó đẩy lên, dỗ ngọt:
- Thôi, chạy đi kiếm cho anh một miếng cao su, anh cầm cho hít tay thì vặn ra liền.
Tặc chạy đi rồi, Út lại tiếp tục vặn. Dưới chiến hào chú Út lại thắc tha thắc thỏm đi tới đi lui.
Bỗng có tiếng la: “Được rồi!”. Nhìn lại đã thấy Út chồm lên trên lỗ bom, tay giơ cái đề tô. Chú Út thở hắt ra, cất tiếng cười ha hả. Đôi mắt chú cũng cười. Hai ngạnh râu trên lại theo đôi môi cười, ngảnh lên, phấn khởi. Thằng Khiêm, thằng Bình reo vang:
- Được rồi! Được rồi! Gỡ được rồi!
Mấy cô nữ thanh cũng ùa ra mừng quýnh.
Nửa giờ sau tin Út Đực đào bom đã lan ra khắp xóm. Thanh niên du kích kéo tới rần rần. Út tổ chức ngay một cuộc họp phổ biến kinh nghiệm đào bom và mở đề tô.
Học tập kinh nghiệm xong, du kích và thanh niên chia nhau làm nhiều tốp đi đào bom. Tổ công trường của Út cùng với chú Út được cử làm ban cố vấn kỹ thuật.
Nữ thanh thì được phân công đi phá bom bươm bướm. Các cô áo xanh áo đỏ phân nhau luồn rừng, luồn xóm phá không sót một quả nào. Tiếng bươm bướm nổ ì ầm, hòa với tiếng reo cười, xã Nhuận Đức vui như ngày Tết.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|