tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
13.05.2009
Viễn Phương
Anh hùng mìn gạt (2)

2. Con ngựa ô dưới lòng sông Sài Gòn


Trong lúc thanh niên, phụ nữ đang chộn rộn chuẩn bị tiệc tùng thì Út khều chị Tám ra sau:


- Có tiền lẻ cho em mười đồng.


Chị Tám vừa mở gói giấy vừa hỏi:


- Bộ em hết tiền xài rồi hả Út?


Chị lựa tấm một trăm đồng mới nhứt và xếp kỹ nhứt đưa cho Út. Út lắc đầu:


- Không, xin mười đồng thôi!


Rồi không đợi chị Tám trả lời, Út chộp gói tiền lấy hai tờ giấy năm đồng, còn bao nhiêu đút lại trong túi chị.


Út đi rồi, chị Tám cứ đứng nhìn theo em, đôi mắt hơi đo đỏ. Mỗi lần thấy Út là chị Tám nhớ đến anh Sáu. Hồi chín năm anh Sáu làm du kích. Một hôm đi công tác, anh Sáu bị giặc phục kích bắn tại ngã ba ông Tình. Xế chiều, giặc rút, chú Út A ra cõng anh Sáu về. Anh bị thương nặng lắm. Chị Tám đứng nhìn anh lặng lẽ khóc. Anh Sáu đưa tay run run vuốt tóc em, biểu em đừng khóc, rồi anh trối:


- Em ráng nuôi thằng Út để lớn lên nó trả thù cho anh.


Anh Sáu chết.


Út đã lớn rồi. Thằng Pháp không còn nữa, nhưng còn thằng giặc Mỹ nó tàn ác gấp trăm, gấp nghìn thằng Pháp. Mối thù của anh Sáu, của đồng bào càng chồng chất gấp trăm, nghìn. Út đang lo trả mối thù lớn ấy.


Chị Tám vẫn nhớ lời anh Sáu. Chị hết sức lo cho Út. Nhưng từ khi thoát ly đến giờ Út ít nhờ đến chị. Chị Tám biết Út thương chị nghèo, nhưng sao chị vẫn thấy lòng mình tủi tủi.


Út đi khuất rồi, chị vẫn đứng nhìn theo, đôi mắt hơi đo đỏ.


Anh Ba Ánh bước vô tới cửa thì nghe tiếng Út vọng ra:


- Chiều nay cho tụi em ăn cơm với gì đó chị Minh?


Tiếng Minh đáp:


- Đãi mấy em rau mớp([1]) luộc chấm với cá rô chiên giằm nước mắm.


Giọng Út vui vẻ:


- Cha, ngon quá!


Tiếng Minh chậm rãi:


- Bữa nay mấy em đi đào bom chị lo quá! Phải có anh Ba ở nhà cũng đỡ.


Út cười:


- Chị làm như anh Ba đỡ miểng bom cho tụi em được vậy.


Tuy nói thế, nhưng Út cũng cảm thấy y như chị Minh vậy. Việc gì khó khăn nguy hiểm, hễ có anh Ba thì Út thấy vững dạ hơn nhiều.


Ba Anh bước vào tươi cười:


- Hai người nói xấu gì tôi đó?


Út reo lên:


- A! Anh Ba về!


Minh buông đôi đũa chiên cá đứng dậy, chầm chậm bước tới cười cười. Ba Ánh đi thẳng vào, vỗ nhè nhẹ lên đầu Minh, hỏi nho nhỏ:


- Có khỏe không? Có khỏe không em?


Chị Minh mắc cỡ, bẽn lẽn. Út quay mặt chỗ khác mỉm cười.


Bỗng Ba Ánh quay lại:


- Cái gì khét quá vậy Út?


Chị Minh đáp:


- Út nó mới cho nổ cái gì đó.


Út nói tỉnh khô:


- Có gì đâu. có gì đâu.


Rồi Út đứng dậy, bước ra sân để hai người được tự do trò chuyện. Út đang có một niềm vui lớn.


Đã khuya lắm rồi, Út vẫn chưa ngủ được. Nghe tiếng võng đưa cót két mãi gian bên, Út hỏi vọng sang:


- Nửa đêm rồi, sao không ngủ cứ nằm đưa võng hoài vậy anh Ba?


Ba Ánh bỗng nhổm dậy bước lại khều Út nói nho nhỏ:


- Đi ra đây tao nói cái nầy cho nghe.


“Chắc phê bình rồi đa!” - Út nghĩ.


Ra tới bờ giếng, Ba Ánh nắm tay Út kéo ngồi xuống, vô đề ngay:


- Nè, nhắm đánh tàu được không Út?


Út thản nhiên:


- Sao lại không được?


- Chi ủy đã nhận chỉ tiêu của quận rồi. Ngặt cái không có trái([2]).


- Trái mới đào về, thiếu gì đó!


- Nhưng không ai gắn râu. Mấy trái đầu banh([3]) gởi lên trên nhờ gắn râu đã bốn năm tháng rồi chưa thấy trả về.


Út đáp tỉnh queo:


- Thì mình gắn mình xài!


Ba Ánh nhổm lên như bị mối càng cắn:


- Bộ mình gắn được hả?


- Được chớ sao không được!


Ba Ánh vỗ vai Út hai ba cái thiệt mạnh:


- Nói thiệt hay nói giỡn mậy?


Út cười:


- Ai gạt anh làm gì? Không tin mai tôi thử đầu banh cho anh coi.


Rồi xô Ba Ánh đứng dậy, Út tiếp:


- Thôi khuya rồi, đi vô ngủ đi ông.


Ba Ánh hiểu ý bỏ đi vô, bụng vẫn nửa tin nửa ngờ.


Việc thử trái thành công mỹ mán. Xem chừng Ba Ánh khoái chí lắm, Út mới khai thiệt:


- Mấy trái mìn bộ đội gởi dưới đó mà anh không cho đụng tới đó, tôi lén mở coi ráo. Tôi thấy mình bắt chước làm được. Chiều hôm qua, hồi các má đãi tiệc, tôi thấy nhà không có ai liền về làm thử xem sao. Tôi xin tiền chị Tám tôi mua bóng đèn về làm y vậy. Tôi gắn râu trái lựu đạn cũ, đem ra khúc địa đạo chín năm nhí([4]) điện, nó nổ cái ầm! Tôi khoái quá. Kế anh về tới nói có mùi gì khét. Sợ anh rầy tôi ém([5]) luôn. Thiệt mừng quá! Sáng đêm không ngủ được!


Ba Ánh gật gật đầu, nghĩ thầm:


“Thằng nhỏ nầy đặc biệt lắm! Phải tạo điều kiện cho nó phát huy sáng kiến. Rồi cái gì nó cũng làm được cho mà coi”.


Kế hoạch đánh tàu đã được thảo luận chu đáo. Trái trăn đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Theo ý kiến xã đội, Út gắn râu trái bom hai trăm năm mươi ký rồi ràng cho nó thêm bốn cái chân lớn như bốn cột nhà. Xong khiêng nó thả đứng giữa lòng sông như một con ngựa ô. Thả nó xuống lòng sông rồi ai cũng khoái chí. Anh Tư Sưa xã đội cười nói bô bô:


- Nó hí một tiếng thì chiến hạm, lồng cu cũng chìm nữa chớ nói chi cái thứ tàu nhái, tàu tép nầy!


Chắc ăn là vậy đó.


Dây chạc kiểm tra đàng hoàng, toàn dây mới.


Theo tin đồng bào thị xã báo về thì bữa nay đoàn công voa sẽ từ Bình Dương đi tiếp tế Dầu Tiếng, rồi nó đổi lính Dầu Tiếng luôn.


Du kích đã bố trí sẵn sàng. Mọi người hồi hộp chờ đợi! Bảy giờ sáng hai con đầm già vè vè quần đảo. Nửa giờ sau, nghe súng nổ “Tương đường! Tương đường!”.


Đúng là tàu lên. Ai nấy như mở cờ trong bụng. Ai nấy đinh ninh rằng con ngựa cu([6]) đứng dưới lòng sông nước chảy cuồn cuộn kia, đợi khi tàu tới sẽ ré lên một tiếng oai hùng, chôn vùi quân giặc.


Út ngồi nhà cũng thấy cồn cào trong ruột, hết đi vô rồi đi ra, nghĩ giận thầm sao anh Tư Sưa, anh Ba Ánh không cho mình ra mặt trận. Nhưng rối rít nhứt vẫn là thằng Tặc, thằng Khiêm. Không được ra mặt trận, hai đứa rủ nhau leo lên ngọn cây điệp ngó ra ngoài sông coi trái nổ chơi! Út ra réo chúng nó xuống. Không đứa nào nghe. Phải đợi triệu chú Út xách roi ra hai đứa mới chịu tuột xuống. Thằng Tặc vừa khóc, vừa càu nhàu.


Chú Út nhịp roi trên đầu nó nói:


- Nè, muốn chết thì ra ngoài mặt trận mà chết, tao không cản. Đừng có làm bậy, chết lảng([7]) mà còn bị kiểm thảo phê bình. Bộ mầy không biết hễ tàu lên là nó bắn vô xóm Cây Điệp nầy hay sao?


Thằng Tặc chưa kịp cãi lại thì: “Sí. ầm! Sí. ầm!”, rồi “đùng đùng, rốp rốp”.


Tía([8]) con, chú cháu hè nhau nhảy xuống công sự. Bây giờ thằng Tặc mới cười ngỏn ngoẻn nói với thằng Khiêm:


- Phải không tuột xuống, bây giờ ở trên ngọn cây sợ quýnh đít hén mậy([9])?


Út thò đầu lên la:


- Nè, nè! Lắng nghe trái nổ nghe! Tàu lên rồi đó!


Mọi người đều hồi hộp chờ.


Ba phút trôi qua, rồi năm phút. Đoàn tàu vẫn chạy bình yên. Nghe tiếng máy xập xình, Út biết là tàu đã qua khỏi điểm phục kích. Út nghĩ: “Có lẽ mấy cha tính làm chiếc chót.”.


Nhưng bảy phút, rồi mười phút.


Tiếng tàu ngày một xa dần. Nó vẫn chạy bình an, thỉnh thoảng còn thụt mọt chê([10]) qua hai bờ sông như khiêu khích.


- Sao con ngựa cu không hí kìa? - Khiêm hỏi.


- Chắc nó chứng, mầy à! Ờ! Mà chắc ở dưới nó uống nước nhiều quá “phát ách”([11]) hí không nổi!


Hai đứa lại cười rúc rích dưới công sự. Chú Út nói xuội lơ?


- Hay là trái thúi?.


Út nóng như hơ, thót lên công sự:


- Để tôi chạy ra ngoải([12]) coi.


Vừa lúc ấy, Tư Sưa phóng xe đạp hớt hơ hớt hải chạy vào.


- Sao? Sao? - Út hỏi.


Tư Sưa vụt xe đạp, gạt mồ hôi trán, thở ra:


- Mẹ. tàu nó qua. nhí điện êm rơ, tưởng là trái lép. Lặn xuống mò thì ra nước chảy xiết([13]) đạp con ngựa cu chỏng gọng trôi đâu mất.


- Bây giờ làm sao?.


- Làm trái khác được không? Chiều đánh bận về!


Út ngần ngừ:


- Sợ không kịp chớ!


Tư Sưa nhăn nhó:


- Không lẽ để bể kế hoạch? Nhận chỉ tiêu rồi!


Út bỗng cương quyết:


- Được! Thôi, để tôi lo!. Mà lần này làm phao chớ không làm chân nghen anh Tư! Làm phao rồi neo cho nó nổi lờ đờ.


- Lấy cái gì làm phao?


- Độ vài chục thùng thiếc([14]).


- Cha, làm sao có đủ?


Chú Út, tự nãy đứng im, tay nắm chặt chòm râu, bây giờ mới lên tiếng:


- Thùng thiếc tao lo. Cái đó tao lo được.


Nói xong, chú quày quả bước đi.


Út nói với anh Tư:


- Anh chạy ra ngoải cho du kích hay, cứ chuẩn bị sẵn sàng, chiều nay trái ra.


Tư Sưa mừng húm, phóng lên xe, đạp miết. Út day lại:


- Hai đứa chạy về nổi lò([15]) nấu chì rồi coi hàn thùng. Tao đi kiếm thêm ít vật liệu.


Thằng Tặc không trả lời, đá thằng Khiêm một đá rồi bỏ chạy. Thằng Khiêm tốc rượt theo, la inh ỏi.


Út vừa cười vừa đi lại nhà chị Tám.


Chị Tám đang tiếp má Ba khui thùng dầu lửa.


- Khui chi vậy má? - Út hỏi.


Má không nhìn lên, chậm rãi:


- Thì nói tụi bây cần thùng thiếc.


- Má khui rồi dầu để đâu?


- Ờ, tao tính đổ trong cái lu đựng nước uống đó.


- Rồi lấy cái gì đựng nước uống?


- Ờ. thủng thẳng rồi lo tới. Còn bây giờ nói bây cần việc quân sự thì phải có cho bây.


Út xách thùng dầu qua trút vô lu cho má rồi trở về nói với chị Tám:


- Chị lại bác Tư thợ bạc xin cho em cục chì đi chị Tám!


Chị Tám vừa xỏ áo bà ba thì thằng Ca chạy ra hớt:


- Để cháu đi cho, cậu Út!


Rồi không đợi trả lời nó chạy u. Chị Tám hỏi nhỏ:


- Bộ tính đánh tàu hả Út?


Út mỉm cười, nói nửa chơi nửa thiệt:


- Bộ chị sợ hả chị Tám? “Cầu an” dữ ha!


Chị Tám nhìn em lo lắng:


- Chị sợ đánh nó rồi xóm nầy khổ chớ!


Út vẫn mỉm cười:


- Vậy không đánh nó thì xóm nầy sướng sao? Chị không nhớ hồi đó mình có đánh nó đâu mà anh Hai phải đi ở đợ coi trâu cho địa chủ, anh Ba đi ở chăn ngựa cho Tây, anh Tư đi ghe mướn, ba già vậy mà cũng phải đi nấu đường mướn. Ở đợ mà cả nhà mình cũng đói hoài.


Út không mỉm cười nữa, nhìn đôi mắt chị bắt đầu ửng đỏ, Út tiếp:


- Còn em, chị có nhớ không? Em chỉ có một cái áo bằng “thao”([16]) mặc suốt bốn mùa. Cả gia đình chỉ ăn khoai củ, mình em là út thì ba má cho ăn cơm với muối. Có bữa em đòi ăn nước mắm cứ ngồi khóc đạp đạp chén cơm hoài, chị dỗ em không nín chị cũng khóc theo. Không đánh nó thì như vậy đó.


Giọng Út bỗng dìu dịu lại:


- Từ ngày đánh nó tới bây giờ. Chị coi. thằng Ca có cơm có cá ăn, có quần áo mặc, lại được đi học. Em mừng lắm.


Út dừng lại một chút rồi buồn buồn tiếp:


- Chị quên anh Sáu dặn chị em mình điều gì rồi sao.


Chị Tám bỗng day mặt chỗ khác như muốn giấu đôi mắt đỏ hoe:


- Chị nói là nói vậy chớ bây muốn làm gì thì làm. Chị không có “cầu an” đâu Út à!


Giọng chị ướt nước mắt, chị muốn khóc rồi. Út thấy thương chị quá. Tánh chị Tám như vậy đó, hay lạt lòng. Hồi nhỏ chị Tám giữ Út mà mỗi lần Út khóc, chị Tám khóc theo.


Thằng Ca chạy về tới, đưa Út một cây chì lớn, nói tía lia:


- Ông Tư thợ bạc không có chì. Ông Tư biểu cháu chạy qua hỏi ông Bảy hàn thùng. Ông Bảy cũng nói không có, rồi ông hỏi cháu xin làm chi. Cháu nói xin cho Út hàn súng đánh giặc. Ông Bảy làm thinh vô buồng lấy đưa cho cháu một cây bự tổ bà dềnh([17]).


Út cúi xuống hôn cháu. Thằng Ca ôm lấy chân cậu không cho đi. Út kề tai cháu nói nhỏ:


- Để cậu về lo đánh giặc. Nó bắn đùng đùng hồi sáng đó.


Ca nghe nói liền buông cậu ra. Út ngó chị cười làm lành. Chị Tám cười lại, đôi mắt vẫn đỏ hoe.


Út ra tới đường thì thấy chú Út A đang gánh một sào([18]) dài thùng thiếc đi xấp xãi([19]) phía trước. Út ghé tạt qua quán dì Năm mua bóng đèn, kim tây([20]), pin, rồi đi rút về công trường. Dọc theo đường, thấy nhà nào cũng để sẵn một hai cái thùng thiếc mới trước cửa, Út tức cười, nói thầm: “Chắc chú Út “bá cáo” thùng thiếc khắp xóm rồi đa! Làm lộ bí mật hết. Về phê bình ông già chơi!”.


Vừa gặp chú, Út giả bộ nghiêm:


- Chú đi rao thùng thiếc rùm beng khắp xóm, làm lộ bí mật hết rồi, còn đánh chác gì nữa!


Chú Út lộ sắc giận:


- Bí mật là bí mật với ai kìa, chớ bí mật với xóm nầy sao được mậy. Mầy còn nhỏ không biết nên nói vậy, chớ tao, tao biết bà con ở đây từ hồi chín năm đánh Pháp lận kìa. Nhuận Đức, khu Năm bất khuất là đây nè. Bà con ở đây đã từng bao năm ăn củ theo Cụ Hồ đánh giặc thành công. “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” đó mầy.


Thằng Tặc chẳng hiểu “ninh thọ tử bất ninh thọ thục” là cái gì, nhưng thấy cũng cần nhắc ông già về nguyên tắc bí mật nên nó ngừng tay quạt lò, đọc hai câu ca dao mà nó học thuộc lòng được trên các bảng treo dọc trên đường:


- Nè ba, dầu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”, chớ cũng phải nhớ: “Ở đây tai vách mạch rừng, những điều bí mật xin đừng nói ra” chớ!


Bị thằng nhỏ phê bình khéo, chú Út nổi giận. Nhớ như hồi còn ở nhà, chú chỉ mặt nó quát:


- Cái thằng trèo leo! Đi chỗ khác chơi!


Thằng Khiêm đang gõ sét([21]) mấy cái thùng thiếc, sợ thằng Tặc bỏ đi chơi thiệt thì không ai quạt lò nấu chì, liền ra miệng:


- Ý! Đâu được bác Út! Ở quạt lò chớ đi chơi đâu được! Giờ công tác mà!


Cả công trường cười rộ. Chú Út cũng cười theo. Út dã lã:


- Nói chơi với chú vậy chớ bây giờ người ta tập trung cả trăm thùng thiếc ngoài xóm kia kìa. Chú làm sao được đó thì làm.


Chú Út cười hề hề:


- Thì làm trái đánh tàu chớ làm sao. Đánh Mỹ còn đánh lâu dài chớ đánh một ngày một buổi gì sao? Để tao biểu bà con cất để dành sẵn đó cho mình. Chừng nào cần, hô lên một tiếng là có. Đánh cho nó hết dám lên xuống con sông Sài Gòn nầy. Đánh cho nghe tới xã Nhuận Đức là run eng phát rét([22])! Đánh chừng nào kêu Giônsơn  nó dạ mới thôi!


Nhờ có chú Út tiếp tay nên làm đến hai giờ trưa thì xong xuôi mọi việc.


Bốn người è ạch chuyển trái ra bờ sông. Du kích kiếm chiếc xuồng trọng trọng([23]) để kè trái ra giữa dòng, nhưng chạy khắp đầu trên xóm dưới đều không thấy. Tàu lên bắn dữ quá, đồng bào đem giấu xuồng rồi tản lên xóm hết rồi.


Có ý kiến nên hoãn lại kỳ khác. Út vẫn kiên quyết:


- Nếu không có xuồng thì tôi lội dẫn trái ra sông.


Bỗng thằng Tặc chỉ vườn chuối ông Út Đẩu, mừng húm:


- Xin ít cây chuối làm bè đi.


Tư Sưa ngần ngại:


- Ông già đó khó “vàng trời mây”([24]).


Tặc cố thuyết phục:


- Ông Út coi khó vậy chớ ông thương du kích dữ lắm. Đốn rồi năn nỉ sau chớ gì.


Ba Ánh gật đầu.


Ba Ánh chưa dứt lời, thằng Tặc, thằng Khiêm đã vác rựa nhào vô quất rạp chín cây chuối lớn. Ngó quanh quất không có bụi tầm vông nào, chợt thấy cái giàn bầu, Tặc áp lại rút mấy cây tầm vông vạt nhọn đóng suốt qua. Nháy mắt đã có ba chiếc bè chuối.


Trái đã neo xong. Anh Tư Sưa điều chỉnh điểm.


Tàu xuống([25]) sắp tới. Súng nổ rất gần. Canông Bến Cát câu qua ầm ầm. Út và anh em du kích lội vừa tới bờ thì đạn lửa đã xẹt đỏ trên mặt sông. Tất cả vọt lên liền phóng vào công sự. Tàu đã tới.


“Ầm!”. Một tiếng nổ long trời lở đất rồi lặng hơ! Út ngóc lên, khói mù mịt. Nước tràn lên tận ruộng. Tặc nhóng qua hỏi:


- Chắc nó chết hết rồi anh?


Súng lại nổ như bắp rang, súng đủ cỡ. Mọtchê thụt ì ầm, rồi canông Bến Cát, Trung Hòa, Lai Khê câu qua tới tấp.


- Chắc nó đổ bộ anh? - Tặc lại nhóng qua.


- Nó phản ứng chớ không dám đổ bộ đâu. Núp kỹ coi chừng miểng([26]). Út dặn.


Tiếng súng và tiếng tàu mỗi lúc một xa dần về hướng Phú Hòa Đông.


Lịnh rút lui. Thằng tặc còn rủ thằng Khiêm ra mò coi nó có chìm chiếc nào không. Với lại coi cho biết mặt thằng chổng Mỹ([27]).


Hừng sáng, Út đã kêu anh Ba Ánh:


- Tính sao cái vụ vườn chuối anh Ba?


Anh Ba gãi đầu:


- Thì chú mầy xuống dưới năn nỉ thử coi. Chừng nào không êm tao xuống.


Út cười cười nghĩ bụng: “Coi bộ ớn ông Út dữ rồi đa!”. Anh em mình ai cũng vậy. Đánh giặc đánh giã không ngán, chớ có điều gì không phải với đồng bào thì thật ngán trân!


Cơm sáng vừa xong, Út chưa kịp lên đường thì Hai Phùng tới. Hai Phùng xách lùm đùm([28]) tay phải một cặp gà cồ([29]), tay trái mấy trái bầu xỏ lụi bằng sợi lạt trúc. Ngoài ra còn chai rượu cặp nách. Chưa tới cửa Hai Phùng đã lên tiếng:


- Có thơ ông Út nè!


Không biết dữ lành, Ba Ánh vội giở xem. Mọi người vây lại.


Thơ viết:


Các cháu du kích công trường,


Các cháu đánh giặc giỏi, bác thưởng cho cặp gà. Còn bây giờ phá vườn chuối của tao, thì phạt bây phải uống cho hết lít rượu.


Các cháu ơi!


Phải đánh như vậy mình mới mau độc lập, bác mới mong gặp được Cụ Hồ.


Thôi bác chúc các cháu lập được nhiều công lớn. Đi công tác ngang nhớ ghé thăm bác, bác mừng.


                                                                                    Bác Út


Bây giờ Ba Ánh mới vỗ đùi, lên giọng:


- Tao đã nói mà! Bà con mình ở đâu cũng vậy. Ai cũng tốt hết mà.


Út lại ngó anh cười cười:


- Ai cũng tốt hết mà cứ xúi người ta đi.


Ba Ánh thấm ý cười ha hả. Hai Phùng tiếp:


Mấy má biểu ăn cơm sáng rồi tập trung ra Cây Điệp.


- Chi vậy? - Út hỏi.


- Đi vớt thằng chổng. Tàu chìm tụi nó chết trượng([30]) lắm.


Tặc khoát tay:


- Ối! Bỏ, bỏ! Cái giống đó vớt chi cho mất công.


Hai Phùng nghiêm chỉnh nói rành rọt:


- Phải vớt lên chớ để thúi xóm thúi làng ai chịu cho nổi. Đây là ý kiến của ban y tế xã. Còn mấy má nói: ban đấu tranh chánh trị đã quyết định chở thây ma xuống Phú Hòa Đông tranh đấu. Trả xác cho vợ con nó, rồi vạch mặt bọn cầm đầu Mỹ ngụy ác đức, hồi sống thì bắt chồng con người ta làm tôi mọi cho nó, tới chết thì bỏ xác lình bình như chó chết trôi. Với lại tranh đấu không cho nó bắn canông ẩu vào xóm vào làng nữa.


- Thôi đi bây! Lịnh mấy bà, đừng có cãi. - Ba Ánh nói.


Tất cả chuẩn bị.


Tiếng thằng Khiêm hỏi thằng Tặc dưới hầm:


- Đi vớt mà lận([31]) lựu đạn theo chi mậy?


Thằng Tặc trả lời:


- Đem theo để có thằng Mỹ nào thành ma nhát([32]), tao liệng thấy bà.


Tất cả cười ồ.


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.







([1]) Một loại rau rừng mọc ven mương máng.




([2]) Mìn.




([3]) Đầu đạn.




([4]) Gí điện, chập hai đầu dây điện.




([5]) Giấu.




([6]) Ngựa nhỏ con mà nhanh nhẹn, chạy giỏi.




([7]) Chết vô lý.




([8]) Cha.




([9]) Phải không mầy?




([10]) Moócchê.




([11]) No quá.




([12]) Ngoài ấy.




([13]) Chảy mạnh quá.




([14]) Thùng sắt tây.




([15]) Nhóm lửa đốt lò lên.




([16]) Tơ gốc, loại tơ tằm xấu nhất, sù sì.




([17]) Thật to.




([18]) Cây tre dài.




([19]) Đi phóng nhanh.




([20]) Kim băng.




([21]) Gõ gỉ, cạo gỉ.




([22]) Run như người bị sốt rét, run như cầy sấy.




([23]) Hơi lớn.




([24]) Khó tính lắm.




([25]) Trở về.




([26]) Mảnh đạn.




([27]) Xác Mỹ chết trôi.




([28]) Bề bộn đủ thứ.




([29]) Gà sống to.




([30]) Xác chết trôi nhiều lắm.




([31]) Mang.




([32]) Nát.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »