tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
15.05.2009
Viễn Phương
Mìn bom bi và bệ phóng ra đời

4- Mìn bom bi và bệ phóng ra đời


Giặc đã bắt đầu hủy diệt Nhuận Đức trên tháng nay, mỗi sáng trời vừa tan sương là máy bay giặc lên bắn phá, bắn phá mãi cho đến chiều tối. Phản lực, khu trục thay phiên nhau trút xuống xã nầy đủ các loại bom: bom bi, bom miểng, bom đìa([1]), bom phá công sự, bom napan. Chúng hủy diệt từ ấp nầy qua ấp khác, từ xóm nầy qua xóm khác, từ nhà nầy qua nhà khác. Ngoài ruộng chúng gầm rú bắn giết từng con trâu, con bò đang hiền lành gặm cỏ. Chúng oán thù cả những đàn vịt non mơn mởn đang ríu rít tìm mồi trên dải ruộng xanh.


Chiều xuống, vừa dứt máy bay thì pháo bắt đầu hoạt động: pháo chụp([2]), pháo bầy, pháo phá công sự, pháo lân tinh, pháo cực nhanh, pháo cực mạnh. Pháo từ các hướng tới tấp câu sang, loạn xạ: pháo Củ Chi, pháo Bến Cát, pháo Trung Hòa, pháo Lai Khê, pháo Tân Quy.


Rồi từng bầy, từng bầy trực thăng kéo nhau đi soi([3]), đi bắn suốt đêm ngoài sông, ngoài ruộng, trong xóm, trên rừng. Và khi bình minh trong sáng hé lên thì từng đàn máy bay đen sì kéo nhau đi rải chất độc. Chất độc bay che lấp cả mặt trời, ngày lại âm u. Lá rụng tơi bời, màu xanh tàn nhạt. Ngày nầy qua ngày khác, tháng nầy qua tháng khác, trên đất Nhuận Đức nầy cho đến nay không còn một tấc đất nào, không còn một cành cây nào không nát mảnh đạn bom.


Rừng cao su bạt ngàn rủ lá đứng trơ trơ như những bộ xương khô rồi đổ ngổn ngang. Cây ngã lấp đường lấp suối và cỏ dại đã trùm lên phủ cả. Ngày nay, ai đi công tác qua đây phải vạch gai, đạp gốc mà đi, dấu người ngày một thưa vắng.


Mộ mới mọc lên.


Con thú Mỹ đã điên rồi. Nó mưu toan giết cả.


Để bảo vệ đồng bào, chi bộ đã chủ trương cho tản bớt qua những vùng tương đối yên ổn. Chỉ ở lại những ai còn khả năng chiến đấu và sản xuất trong bom pháo.


. Xóm làng dần dần vắng lặng.


Một sáng chị Tám đến tìm Út.


- Chị đi, Út à!


Rồi chị òa lên khóc.


Út an ủi chị:


- Thôi, chị cứ đi. Nhưng dù đi đâu chị cũng nhớ mình là người Nhuận Đức, người Củ Chi bất khuất. Chị hãy nhớ anh Sáu, nhớ thằng Ca, nhớ em.


Chị Tám trao tận tay em mấy trăm đồng bạc:


- Thôi! Em ở lại mạnh giỏi. Ráng mà chiến đấu.


Rồi chị quảy gánh đi. Chị đi một mình. Thằng Ca không còn nữa. Nó đã chết vì pháo cách nay bốn bữa. Chị bước đi, lưng còng xuống.


Người già và trẻ em lần lượt ra đi.


Trẻ em nhìn các anh khóc ngất. Người già nắm tay các anh im lặng hồi lâu rồi nói nho nhỏ: “Hãy bám lấy đất nầy! Hãy giữ lấy đất nầy, con!”, rồi quay mặt bước đi, những bước đi nặng nề, chầm chậm dường như bàn chân không nỡ rời mặt đất nầy.


*


 


Út và Tặc chạy trong trăng và trong pháo. Trăng sáng mênh mông và pháo giã liên hồi. Mùi thuốc pháo nồng nặc.


Mỗi người ôm một quả mìn mới mượn của anh Tám quân giới. Có tin ngày mai giặc bố([4]).


Chạy gần tới cây điệp trong khói pháo nhờ nhờ bỗng thấy một bóng người.


Tặc kêu lên:


- Ba!


Phải! Chú Út. Chú đứng im lặng, đầu hơi gục xuống.


Trước mắt chú lù lù một vật gì óng ánh dưới trăng.


Tặc cúi xuống:


- Con công! Con công lớn quá!


Bây giờ chú Út mới lên tiếng:


- Ừ con công. nó mới bị pháo chụp.


Tặc xách con công lên. Máu chảy ròng ròng:


- Đem về nhậu([5]) ba!


- Không! - Chú Út đáp khô khan và nghiêm nghị, rồi chú cúi xuống, hai tay nâng con công lên đem để dưới một lỗ công sự. Chú vuốt lông công, sửa cánh con công và nói lầm rầm những điều gì đó.


Tặc ngẩng lên nhìn cây điệp.


Mới hôm nào cây điệp nầy còn đứng ngay đầu dốc, hùng vĩ, sầm uất, bóng rợp một vùng. Bây giờ nó đứng đó trơ trụi, không lá, không cành, chỉ còn cái gốc khô cháy, nám đen, đầy thẹo vít([6]). Nó đứng một mình như một vồ đá trơ vơ trên đất cháy. Quanh nó, tất cả đều sụp đổ. Tặc nói buồn buồn:


- Chắc nó chết.


Chú Út bỗng đứng thẳng lên, nhìn thằng Tặc nói lớn tiếng như để cỏ cây sông suối đều nghe:


- Nó không chết! Chất độc hóa học đã rứt hết hoa lá nó. Bom đạn đã phạt hết nhánh cành nó. Nhưng rễ của nó, nhìn coi, rễ nó cuồn cuộn, cuồn cuộn như con rồng trườn lên mặt đất. Rễ nó cũng to lớn, hùng vĩ như cành nó. Rễ nó ăn sâu tận đất đen. Rồi mưa xuống, nó lấy sức từ lòng đất vọt lên, đâm chồi nẩy tược, nó sẽ lên xanh tươi, hùng vĩ. Nó không chết.


- Nó không chết. - Út cũng nói theo chú.


Không bao giờ Út nghĩ rằng cây điệp nầy sẽ chết. Ngay bây giờ, đứng trước gốc cây trơ trụi nầy, trong đầu Út vẫn có một cây điệp xanh tươi, cành lá đu đưa theo gió. Cây điệp đã sống lâu đời lắm rồi, trong vinh quang, trong đen tối.


Một tiếng pháo hú qua đầu.


- Thôi, đi! Chú Út! À! Mà chú đi đâu? Út sực nhớ hỏi lại.


Chú Út trả lời trong tiếng pháo nổ xa xa:


- Đi kiếm bây xin ít trái lựu đạn. Có tin bố([7]).


- Thôi đi! Chỗ nầy điểm pháo nguy hiểm lắm.


Ba người lại cùng chạy trong trăng.


*


 


Tặc đưa cho ba nó năm trái lựu đạn mới tinh rồi dặn dò:


- Ba ráng kỹ lưỡng nghe! Cây tự tạo của ba không bắn lủng xe lội nước đâu. Nghe nói ba ẩu lắm.


Chú Út bỗng bật cười:


- Ẩu thằng cha mầy chớ ẩu. Lo thân mầy đi!


Ra tới miệng hầm chú bỗng quay lại:


- Còn cái gì ăn chống càn không bây?


- Còn mắm ruốc với muối tiêu. Khiêm đáp.


Tặc nói:


- Hồi nãy tính xách con công về kho cũng đỡ.


Chú Út bỗng sựng lại, bước trở vào. Chú ngồi xuống ghế, mặt như đanh lại. Chú bắt đầu nói, giọng trang nghiêm:


- Các con còn nhỏ, không hiểu sự tích quê mình. Con công nầy nó ở đây lâu lắm rồi từ hồi thằng Út, thằng Tặc, thằng Khiêm bây đều chưa đẻ. Hồi đó nó có hai vợ chồng. Cứ mỗi năm, khoảng tháng nầy nó lại bay về đậu trên chót vót cây điệp và cất tiếng kêu “tố hộ”. Đôi công lớn, đẹp lắm, ai thấy cũng mê. Ông già bà cả cho đó là đôi công thần về đây để tô điểm quê hương đất nước mình. Không bao giờ ai nghĩ đến việc bắn giết ám hại nó.


Nhớ một năm, năm ấy quê mình vừa giải phóng. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới trên chót vót cây điệp nầy. Một sáng, mặt trời vừa lên, đôi công về, nó bay lượn quanh lá cờ. Cả xóm kéo ra nhìn, đẹp lắm!


Đôi mắt chú bỗng ánh lên rồi sầm tối lại.


- Rồi chiến tranh bùng nổ. Thằng Tây râu ria xếp bót An Nhơn rình rập bắn chết con công chồng. Con công vợ bay thoát. Hằng năm nó lại trở về. Nó chỉ trở về một mình, im lặng. Nó không “tố hộ” nữa, nên ít ai chú ý đến nó. Rồi giặc giã khắp nơi, người ta cũng dần quên mất nó. Không dè đêm nay nó lại về đây, nó lại chết vì mảnh pháo của thằng Mỹ, nơi mà chồng nó đã chết trước kia. Như vậy, nó đã tròn chung thủy.


Chú ngừng một chút rồi nhìn con, tiếp:


- Sống, nó làm đẹp quê hương mình. Chết, nó chết trên quê hương mình. Nó cùng mình có chung một kẻ thù: thằng Mỹ. Nghĩa tình như thế, nỡ nào ăn thịt nó sao con?


Giọng chú Út trầm xuống. Mọi người im lặng.


*


 


Súng du kích nổ đều bốn phía. Ngồi trong ổ chiến đấu Út biết rõ tiếng súng của nhóm nào. Phía dưới bưng, bắn có hơi dồn dập. Đó là tiếng súng của nhóm Bảy Mô. Phía Bầu Trăn súng nổ từng tiếng, khoan thai, tính toán, đúng là tiếng súng của Ba Nì, Bảy Nê, Út Nhở. Còn phía sân banh([8]), tiếng súng nổ đùng đùng từng cặp, quả là vợ chồng Tư Hiếu thi đua.


- Ba tôi nổ rồi đó. - Tặc la lên - Đúng rồi, tiếng súng ấp Bà Thiên.


Súng du kích nổ đến bốn phía. Nhưng tiếng xe lội nước cũng rụ đều bốn phía. “Đánh với thằng Mỹ cũng gay thật. Súng tự tạo của mình cũng không ngăn được xe lội nước. Phải có mìn! Thật nhiều mìn mới trị được nó!” - Út nghĩ.


Cây bù xích([9]) rạp rạp. Tặc ngóng lên nhìn bỗng la:


- Xe lội nước! Xe lội nước!


Út vỗ vào đùi nó:


- Đừng la! Đừng la!


Tặc vẫn tía lia:


- Thằng Mỹ đỏ! Thằng Mỹ đỏ như con gà nòi! Nực quá([10]). Bắn nghen anh!


Út vỗ nhẹ nhẹ vào lưng nó:


- Nè! Đừng có “nực”. Bình tĩnh chớ! Đợi nó tới sát sẽ chơi. Chơi bằng lựu đạn. Cây mút của mầy bắn M113 như gãi da nó vậy.


Rồi Út dặn:


- Nếu xe tới gần, trái không nổ, mầy kềm chế thằng Mỹ gà nòi. Tao trèo lên tọt([11]) lựu đạn vô.


Tặc vẫn lặng thinh. Không biết nó có nghe không. Mắt nó như vệt lửa, ngó trân trân thằng Mỹ. Nó như nuốt trọn thằng Mỹ bằng mắt.


Chiếc xe vẫn ầm ầm lướt tới. Út khều Tặc:


- Mầy coi trái ăn nó nghen!


Vừa dứt tiếng thì “ầm!”. Lửa bừng phủ đỏ cả chiếc xe.


Tặc la:


- Trái tôi nổ rồi!


Khi khói tan thì chiếc xe nằm im lìm như con bọ hung chết. Thằng Mỹ đã không thấy đâu nữa.


Sau trận càn du kích các ấp về xin vũ khí tới tấp.


Anh Tám Sa Nò ngồi trên miệng hầm nói oang oang:


- Cái dòng xe lội nước ở xa thì coi dữ, chừng xáp trận rồi thì cũng chẳng ra chi, bây([12]).


Sáu Các ấp Bàu Trăn tiếp:


- Mà đều đánh nó phải lớn gan mới được.


Tám Sa Nò biểu đồng tình:


- Ừ! Phải thiệt lớn gan. Tư Hê nó bắn kềm chế. Thằng Mỹ vừa hụp xuống là tao tót lên đưa “trái giải phóng” vô.


- Sao không vụt?([13])


- Đứng dưới vụt cũng được vậy.


Tiếng hỏi lao xao.


- Tao sợ vụt hụt. - Tám Sa Nò cười hề hề - Hồi nhỏ tao thảy lỗ([14]) dở lắm, thảy không có lọt([15]).


Rồi nói nửa như phân bua, nửa như móc ngoéo:


- Với lại, bây coi, Út Đực nó cho tao có một trái lỡ vụt không lọt rồi làm sao?


Tất cả cười ồ. Tặc giục:


- Rồi sao nữa? Nói hết nghe coi, anh Tám!


- Thì tao mới đưa cái tay vô là thằng Mỹ nó nắm nó rị xuống. Mẹ! Cái thằng Mỹ mạnh thiệt bây! Nó kéo tao muốn chỏng giò vô trỏng luôn. Tao buông mẹ trái lựu đạn vừa la: “Chia hai với mầy!”. Bỗng nghe trong xe nó chạy rầm rầm, nó la éc éc.


Thằng Khiêm ngắt ngang:


- Mỹ chớ bộ heo([16]) sao mà la éc éc?


Tám Sa Nò vặn lại:


- Chớ thằng Mỹ nó khác con heo chỗ nào mầy nói nghe thử coi?


Thằng Khiêm kẹt cứng, nhăn răng cười hề hề. Tặc nóng nảy.


- Rồi sao nữa? Kể nghe coi cha nội!


- Thì nó buông tay tao ra, tao té ngửa xuống, đập đầu vô đầu Tư Hê cái cốp. Rồi nghe nổ cái đùng, ngó bốn phía thấy lửa ánh hào quang, hai đứa bò càng vô công sự.


Tám Sa Nò ngưng lại, vấn thuốc.


- Rồi sao nữa, ngừng hoài, nực quá! - Tặc lại giục.


- Thì đầu mỗi đứa sưng một cục bằng cái chén đây chớ sao nữa?


- Không! Hỏi là hỏi về cái xe lội nước kìa! Ai mà hỏi về ông làm gì.


Tám Sa Nò vẫn chậm rãi, bốc cục than đốt thuốc.


- Ối! Chiếc xe thì nó cháy mẹ nó rồi chớ còn đâu mà hỏi. Tưởng mầy thương tao, hỏi thăm té có bịnh hoạn gì không chớ!


Mọi người lại cười rộ.


Út tự nãy ngồi im lắng nghe, bây giờ mới lên tiếng:


- Phải có mìn chắc đánh dễ hơn, hả anh Tám?


Mắt Tám vụt sáng lên:


- Ý! Nói gì mà được thứ đó!


Rồi anh thấp giọng nói như tỉ tê, phân trần:


- Út nè! Nói thiệt, nếu không có lựu đạn, mìn, trái các thứ. thì du kích tụi tao cũng lập thế đào hầm, gài bẫy bắt được xe lội nước mà thôi! Nhưng nếu có được mìn thì nó chết lớn với mình đó Út! Mà anh em cũng đỡ xương máu nữa!


“Mà anh em cũng đỡ xương máu nữa!”. Lời nói ấy như đập mạnh vào tim Út.


“Phải làm mìn! Phải làm mìn!” - Út nhủ mình như vậy.


Nhưng làm loại mìn nào? Loại mìn nào tiện và lợi nhứt? Út suy nghĩ lung([17]) lắm. Mìn điện Út đã biết rành rồi. Song mìn điện có nhiều bất tiện: tốn pin, tốn dây, tốn người canh gác, địch dễ phát hiện. Nếu dùng mìn điện thì mỗi du kích chỉ giữ được một bãi mìn thôi! Phải chôn chân ở đấy, đợi giặc đến châm điện nó mới nổ.


Làm được mìn cán như loại mìn kiềng thì đỡ biết mấy! Mìn cán như một chiến sĩ biết tự động chiến đấu. Với mìn cán, mỗi người có thể sử dụng đôi ba chục quả, ở hàng chục điểm khác nhau. Ta sẽ đặt cùng khắp như thiên la địa võng, ta sẽ biến xã nầy thành một vùng đất chết, một vùng đất nổ, một vùng đất chôn tăng.


. Nhưng đề tô. Út chưa làm được. Đợi xin trên thì chậm lắm. Với lại trên còn phải lo trăm ngàn việc quan trọng khác. Phải học làm cho được đề tô! “Người ta làm được thì mình làm được!” - Út nghĩ thế. Rồi sực nhớ: trái bom bi. Giặc nó rải khắp rừng, khắp suối và ta đã lượm hàng ngàn, hàng muôn.


Út đi tìm anh Tám quân giới hỏi:


- Bây giờ làm một trái mìn rồi để trái bom bi ở giữa. Xe nó cán nổ trái bom bi thì mìn cũng nổ luôn phải không anh Tám?


Anh Tám suy nghĩ rồi gục gặc:


- Được đó! Được đó!


Rồi anh cười, tiếp:


- Nhưng mà cậu về thử kỹ xem. Cái nghề của mình phải nghe nó nổ, phải thấy nó phá banh xe rồi mới dám kết luận.


Út lại lục đục suốt sáng. Hừng đông, trái mìn bom bi mười một ký([18]) đã hoàn thành. Đó là một loại nồi gò bằng thiếc Cao Bằng, bề hoành([19]) lớn hơn cái tĩn([20]) nước mắm một ít. Ở giữa hàn một cái hộp lon vừa trái bom bi. Quanh hộp lon đổ đầy thuốc nổ. Bỏ trái bom bi vào cái lon giữa đó. Bên trên có cái nắp chụp lại. Đạp trên nắp ấy, bom bi nổ, mìn nổ theo.


Út mời anh Ba Ánh và anh Tư Sưa đến xem thử trái - Út giải thích:


- Thứ mìn nầy không tốn gì hết. “Tôn” thì của đồng bào cho, thiếu gì! Thuốc thì bom lép hàng hà([21]), cứ đào mà lấy, còn hộp lon để bom bi thì Mỹ nó ăn đồ hộp bỏ láng xứ([22]), khỏi lo.


Lên giữa sở, Út bê trái để dưới một lỗ công sự. Trên miệng công sự gác hai khúc cây. Trên hai cây ấy, để một tấm tăng lớn. Anh Tư Sưa, anh Ba Ánh đã xuống chiến hào. Út cột sợi dây dài vào một trong hai cây ấy, rồi núp sau gò mối nắm đầu dây kéo từ từ.


Cái cây bẹt([23]) dần, bẹt dần. Tấm tăng nghiêng nghiêng, lắc lư rồi lật úp xuống. Trái mìn Út thót lại như muốn rớt theo. “Ầm!” - Một vầng lửa lớn bằng cái nhà phụt lên tận ngọn cao su. Miểng và đất bay ào ào.


- Thành công rồi! Đã quá!


- Chết mẹ thằng Mỹ rồi!


Anh Ba Ánh và anh Tư Sưa vỗ tay la lớn. Út lặng người, sung sướng.


Mìn bom bi đã thành công rồi! Nó phá một lỗ tròn bề sâu độ một thước và bề kính độ ba thước. Không thứ xe nào chịu nổi nó đâu.


Mìn bom bi đã thành công rồi! Từ đây sản xuất hàng loạt. Từ đây ngày đêm, công trường không bao giờ nghỉ nữa. Suốt đêm ngày ánh lửa công trường chiếu ửng hồng tấm khẩu hiệu treo trên vách:


                        “Thề trả thù cho bà con cô bác”


                        “Thề trả thù cho chị Minh”


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 







([1]) Bom to, bom tấn nổ khoét lỗ rộng như cái ao.




([2]) Pháo nổ trên không, ria mảnh xuống.




([3]) Chiếu đèn.




([4]) Càn.




([5]) Uống rượu, ăn.




([6]) Vết.




([7]) Càn (giặc càn).




([8]) Sân bóng.




([9]) Một loại cây lá hôi như mùi bọ xít.




([10]) Giận quá, tức quá.




([11]) Bỏ đúng lỗ.




([12]) Chúng mày ạ.




([13]) Ném.




([14]) Đánh đáo.




([15]) Rơi trúng lỗ.




([16]) Lợn.




([17]) Dữ, nhiều.




([18]) Mười một kilôgam, mười một cân.




([19]) Bề vòng.




([20]) Chĩnh.




([21]) Rất nhiều.




([22]) Khắp nơi.




([23]) Xiêng ra.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »