Mìn gạt tung hoành
Mìn gạt ra hàng loạt. Du kích các ấp vô cùng phấn khởi. Vành đai diệt Mỹ Sân Dù càng siết chặt lại. Các mũi biệt kích xe lội nước bị đánh thun đầu([1]). Số xe bị hạ tăng lên rõ rệt. Thơ khuyến khích, hoan nghênh các nơi gửi về tới tấp.
Công trường ngày đêm náo nức. Mùa đông xuân, mùa lập công đã đến. Các ổ chiến đấu đã dựng xong. Các bãi mìn, các trận địa chông đang chuẩn bị ráo riết. Chú Út, Đực và những anh em lớn tuổi còn giữ được vẻ bình tĩnh, cứ cặm cụi làm, âm thầm chuẩn bị. Nhưng đám trẻ, thằng Tặc, thằng Khiêm, thằng Bình, thằng Nhỏ, thằng Cá. thì cứ rối rít lên. Buông cái mỏ hàn, cái nồi thuốc là chạy ra thăm ổ chiến đấu, sửa cành cây nghi trang, sửa các bệ tì, chui vào ổ chiến đấu kê súng lên lỗ châu mai, ngắm nghĩa bên trái, bên phải, rồi chui lên, moi moi, sửa sửa. Sáng nào cũng thế , trưa nào cũng thế, chiều nào cũng thế, chúng cứ làm thế mãi, làm thế mãi mà không biết chán. Rồi chúng bàn cãi với nhau, phán đoán tình hình địch, dự kiến về kế hoạch hành quân sắp tới, rồi hè nhau réo chửi thằng Mỹ sao không chịu bố. Quả thật là một bộ tham mưu tí hon và lộn xộn.
Tình hình đã chín muồi lắm rồi. Bọn Mỹ điều binh rục rịch khắp nơi. Máy bay các loại hoạt động suốt đêm ngày. Hết đầm già thì đến ba đuôi([2]), hết trinh sát, B52 thì đến xương cá.
Nhưng con cá lăng đã quần quần đảo đảo thì chắc chắn là sắp có chuyện. Năm nào cũng vậy, gần Tết là nó phải bố. Nó bố phá cái Tết.
Chiều nay con cá lăng quần nhiều, quần mãi đến sẩm tối.
*
Giặc đã trút quân rồi!
Trận bố nầy lớn thật. Theo tin được biết thì chúng trút xuống ba vạn quân và bố hai bên bờ sông Sài Gòn cùng một lúc. Đó là một chiến thuật mới.
Trận bố nầy giặc kêu là “Bốc vỏ”, ý chúng muốn lột vỏ cả vùng đất thép nầy. Lột tróc ổ chiến đấu, tróc địa đạo, tróc công sự, tróc tất cả, như một con thỏ lột da đỏ hỏn chỉ còn một mớ gân xương và thịt chết. Chúng bắt đầu ở Phú Hòa Đông. Chúng ủi sạch nhà cửa, vườn tược, rừng rú. Phú Hòa Tây cũng thế. Chúng đã lột Bến Súc rồi. Thị trấn Bến Súc đã thành bãi đất hoang. Chúng đang tàn phá Rạch Kiến và đốt rừng Long Nguyên.
Ngồi trong ổ chiến đấu, Út nói với Tặc và Khiêm, giọng trầm tĩnh như thường ngày:
- Lột không nổi đâu. Vỏ này là vỏ thép. Lột thì tróc cả móng tay và gãy cả bàn tay nữa đó.
Ở đây tình hình cũng khó khăn. Trước mặt, sau lưng đều có giặc. Biệt kích hoạt động liều mạng lắm. Nó luồn rừng ngay cả ban đêm.
- Nhưng, - Út nói với Tặc - đừng tưởng nó gan. Có thằng vừa đi vừa khóc đó. Cũng đừng mất cảnh giác. Mất cảnh giác là chết với nó ngay.
Út bám giặc rất sát. Bám từng toán biệt kích, từng đội xe lội nước, từng bước tiến thoái của chúng. Thế trận địa lôi của Út cũng biến hóa liên hồi. Suốt ngày và cả một phần đêm, Út, Tặc và Khiêm hết đón đánh biệt kịch thì vác mìn chận đầu, khóa đuôi giặc Mỹ. Trên khoảng đường nầy, đoàn xe mới chạy qua an toàn, bảy phút sau trở lại, một hai chiếc tan xác. Hình như bọn Mỹ lúc nầy ít nhai kẹo mà cũng ít cười.
Trên trời suốt ngày đêm, trực thăng, đầm già, đakôta quần đảo, léo nhéo kêu gọi chiêu hồi([3]), tuyên truyền tin chiến thắng láo. Không ai thèm nghe. Ở đây du kích bàn bạc những tin khác:
- Bộ ông Út Đực ổng muốn làm khô Mỹ sao hả?
- ???
- Ổng đặt thứ mìn gì mà nó nổ văng thịt mỹ có lát([4]), có lát vắt đầy trên cây điệp coi như phơi khô trâu vậy đó.
- Hèn chi tối qua tao đi ngang thúi thấy bà.
- Nè! Ba Nì liểm([5]) hai chiếc M41 rồi nghe!
- Ừ! Ông già đó nhỏ con mà ham thứ lớn không hà! Trái nhỏ ông chê, đòi trái mười hai ký, đòi trái cực nhanh. Đụng M113 ổng thả, không thèm đánh, cứ mò theo tăng 41.
- Trời ơi! Trái gạt mà ăn trực thăng mới ngon chớ.
- Sao? Sao? Mìn gạt mà ăn trực thăng à?
- Đâu! Ở đâu?
- Ngoài Dược Á! Du kích bắn lụy([6]) con đầm già tại lò gạch. Tụi lội nước ào tới tiếp cứu, nổ luôn hai chiếc nữa.
- Đụng bãi gạt mà! “Sức mấy” mà ào vô?
- Tụi trực thăng nóng ruột sà xuống hốt xác. Mìn gạt “hị” cho một cái, banh luôn. Tụi còn lại hoảng kinh bay loạn xị như diều.
- Còn dám xuống nữa không?
- Tởn luôn, bỏ xác lỉnh nghỉnh ở ngoải.
*
Chiều nay có một tin buồn.
Trực thăng quần sát, phát hiện một người trốn trên bờ ruộng. Nó sà xuống gọi đầu hàng. Chạy cũng vô ích, người ấy đứng dậy, từ từ giơ thẳng hai tay lên đầu. Đó là một nông dân già, tóc lốm đốm bạc. Trực thăng đáp xuống. Người ấy bỗng nghiến răng, vung tay. Trái lựu đạn bay tót vào trực thăng. Nhưng lựu đạn không nổ. Hai thằng Mỹ nhảy xuống lôi người ấy lên trực thăng. Đợi trực thăng lên cao, lên thật cao, người ấy nhảy tới ôm cổ thằng Mỹ vật nó nhào xuống đất. Nhưng, một phát súng nổ, một xác người rơi.
Người ấy là chú Bảy, nông dân xã Nhuận Đức nầy. Bây giờ chú nằm đó, ngửa mặt lên trời xanh, hai tay ví xuống đất, như không bao giờ muốn lìa mảnh đất yêu thương nầy.
Người nông dân Nhuận Đức đã chết hẳn rồi. Nhưng bọn giặc sợ lắm. Từ bữa ấy nó không dám bắt sống ai nữa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài trên hai mươi ngày. Du kích vẫn bình tĩnh và ung dung. Anh em có ý chờ xem thằng giặc còn giở ngón gì mới nữa không? Đây là trận bố lớn, trận bố bốc vỏ trái đất mà! Nhưng rồi cũng chẳng thấy gì mới. Thì cũng B52, rồi pháo bầy, bom, trực thăng, biệt kích và các loại xe tăng thiết giáp.
Tại ổ chiến đấu thằng Khiêm ngồi nhai kẹo nhóc nhách, nói bâng quơ:
- Coi cũng chẳng nhằm nhè gì!
Út đứng ngó chăm chăm ra lỗ châu mai, nghĩ cách chặn đường quân giặc. Từ sáng đến giờ, vác mìn gạt chạy theo nó hai chập đều trớt([7]) cả.
Thằng Tặc, mặt ỉu xìu, cằn nhằn:
- Cũng tại anh đó! Làm cái ổ chiến đấu gì thụt tuốt trong lùm. Chừng nào nó mới vô!
Cái thằng thiệt kỳ. Bữa nào cũng vậy. Hễ kiếm được một vài xe thì nó vui cười hỉ hả, không hạ được thì nó dằn tô([8]), xán([9]) bát, kiếm chuyện cằn nhằn, gây khó khăn đủ thứ.
Không thấy ai trả lời, nó cằn nhằn tiếp:
- Đánh giặc thì cản đầu mà đập mẹ nó! Cứ vác trái chạy theo đuôi hoài. Bộ tính chạy theo đặng lượm thuốc điếu. Nè thuốc. thuốc.
Vừa nói nó vừa móc gói “Salem” của Mỹ ra xét từng điếu.
Út không chịu nổi nữa:
- Thôi! Tặc ơi! Mầy để yên tao tính thế. Mầy con nít vừa vừa nó chớ.
Khiêm chêm vào:
- Nó có người lớn hồi nào đâu mà anh rầy nó con nít.
Tặc nổi nóng:
- Ừ! Tao con nít, còn mầy người lớn. Ít bữa nữa tổng kết thành tích thua đội nữ, tới chừng đó gặp họ, “người lớn” mới cắt rừng “người lớn” chui đa.
Bỗng nghe tiếng “rụ rụ” dữ dội. Hai chiếc M41 đâm sầm chạy vào.
Mặt thằng Tặc vụt sáng rỡ lên.
“Ầm!”
- Đụng trái gạt rồi! - Tặc la.
- Còn nữa! - Út nói nhẹ nhàng, bình tĩnh. - Chiếc sau hoảng quá, de([10]) lại tính quày đầu chạy thì “ầm!”.
- Còn cằn nhằn nữa thôi mậy? - Khiêm hỏi.
Tặc cười ngỏn ngoẻn. Tiếng xe rụ tung cả ổ chiến đấu. Nó cụm lại đông lắm.
- Tập trung lựu đạn! - Út ra lịnh.
Mọi người sẵn sàng “đón” nó vào.
Nhưng nó cứ bắn. Gần một tiếng đồng hồ rồi, nó cứ bắn miết. Tặc nóng ruột:
- Tui ra “xạ” ít phát nhử nó vô nghen anh?
- Để tao! - Út vừa nói, vừa xách súng lom khom chui ra khỏi ổ chiến đấu.
Tặc trề môi:
- Cái gì cũng giành hết.
Khiêm cau mặt phê bình:
- Ảnh là chỉ huy. Ảnh có trách nhiệm. Ảnh giành chuyện nguy hiểm, khó khăn, chớ ảnh có giành ăn với mầy đâu mà mầy cứ cằn nhằn hoài vậy?
Tặc biết mình quấy([11]), nhưng rồi cũng cố cự lại một câu:
- Thôi, đừng có lên lớp tao!
Út đã thấy rõ. Xe nó đậu đông lắm, lổn ngổn như bầy trâu, đếm không hết. Bửng sau đều đóng kín. Không thằng nào dám xuống đất. Chúng chỉ hé nấp trên nóc, ló nửa người lên, vừa la hét, vừa siết cò.
Út chọn một thằng. Thằng Mỹ già, ốm nhom, mặt như khỉ, tóc vàng hoe, mắt xanh lặc lìa mà sâu hoắm. Thằng nầy siết cò mà không nhai kẹo. Nó nghiến chặt răng.
Út nâng súng lên, nín thở:
- Lật nè!
Thằng Mỹ văng ra sau. Cái bửng cửa xô nó ngã dập trên cây súng.
Út quay mũi súng sang thằng thứ hai. Thằng Mỹ mập núc ních, đỏ ké, mặt đầy râu và ngực đầy lông vàng như lông chó phèn([12]).
- Lật nè!
Thằng nầy khuỵu xuống thùng xe.
Tiếng la ó vang dậy. Cả bọn thụt cả vào xe. Có vài tiếng khóc ré. Út bắn thêm ba phát nữa rồi chậm rãi rút lui. Út chờ nó rụ xe đuổi theo. Nhưng không, chỉ có súng nổ, súng nổ dữ dội.
Út nói với Tặc và Khiêm:
- Thằng Mỹ bây giờ khác. Lúc trước nghe súng du kích là nó hùng hổ rượt theo. Bây giờ nghe súng du kích, ý nó muốn chạy trốn, xe tăng cũng vậy! Khó dụ nó lắm!
Bỗng “Zi. đùng! Zi. đùng!”.
- Pháo!
Tặc cười:
- Giống nó coi hì hà([13]) vậy mà phón([14]) dữ ha!
Vẫn ầm ầm tiếng pháo.
Út nói:
- Thằng Mắc Namara nó có chủ trương: không đưa thằng lính công tử Mỹ đến bất cứ nơi nào có thể đưa tới một trái bom hoặc một trái pháo.
Tặc thét trả lời:
- Hèn chi đánh dở như cứt!
Pháo vừa dứt.
- Chuẩn bị! - Út ra lịnh.
Nhưng nó lại chỉ bắn ào ào và la chí chóe.
- Thiệt phón hết thế([15]) mà! - Tặc lại muốn quạu với thằng Mỹ.
Út bàn:
- Bây giờ nó không dám vô thì mình ra chận đường rút của nó. Khiêm giữ ổ chiến đấu. Tặc đi với anh, gom mìn gạt đặt dài theo đường lui của nó. Như vậy nó lướt tới cũng tiêu, mà rút lui cũng rụm([16]).
Tặc được đi khoái chí, nhìn Khiêm nheo mắt cười.
Đúng ba giờ rưỡi, đoàn xe hùng hùng hổ hổ rút lui. Súng bắn ào ào tứ phía. Cây ngã đùng đùng. Con sóc, con chuột, con nhen đều chạy hoảng.
Út, Tặc và Khiêm núp dưới công sự bên đường chờ coi con thịt vào bẫy. Xe rụ dữ. Đất rung chuyển. Cây chồi và bù xích cũng rung theo. Những chiếc xe đầu đã tới và hùng hổ chui vào tử địa. Trên xe, bọn Mỹ không ngớt siết cò, nhưng mặt nó có tươi hơn lúc nãy, thoáng thoáng có những nụ cười. Út nghĩ:
- Những thằng Mỹ nầy nếu nó không giết người thì nó cũng không đến nỗi xấu xí và khi nó ngồi ăn cơm bên mẹ nó chắc trông cũng không đến nỗi khó thương.
Bọn Mỹ vẫn siết cò. Trên môi vẫn loáng thoáng nụ cười. Có lẽ nó nghĩ: hết giờ chiến đấu rồi. Năm phút nữa! Chỉ năm phút nữa nó sẽ về tới chỗ cụm quân. Sẽ có nước mát để tắm. Nước trong xanh, nước tinh khiết, nước đã khử trùng, nước từ Sài Gòn do trực thăng đem tới. Sẽ có những bộ quần áo mới, giặt ủi thẳng nếp, sạch sẽ, thơm tho cũng do trực thăng từ Sài Gòn chở tới. Rồi rượu, rồi đồ hộp, thịt hộp, bánh hộp từ Huê Kỳ chở sang, với gái, những cô gái thuộc địa giá rẻ mạt nhưng vô cùng hấp dẫn. mê ly.
Chỉ còn ba phút nữa thôi. Ba phút trên con đường bình yên chúng đã đi qua buổi sáng. Chắc sống rồi. Chắc chắn hôm nay chúng sống rồi. Mặt chúng hân hoan lên: Lạy Chúa!
Bỗng “Ầm! Ầm!. Ầm!”.
Việc gì đã xảy đến! Việc gì? Chúng không còn kịp hiểu nữa rồi!
Trong khói lửa, Út vẫn đứng im.
- Chị Minh ơi! Chú Bảy ơi! Bà con cô bác ơi! Em đang trả thù cho bà con cô bác.
Giặc rút chạy! Rút thật êm! Nó không lột được một miếng vỏ nhỏ nào của Nhuận Đức cả. Trái lại, nó đắp thêm lên một lớp vỏ khá dày bằng thịt xương và bằng mảnh trực thăng, cơ giới.
Anh em công trường lũ lượt kéo về. Út đón hỏi từng người:
- Có mấy chiếc hả?
- Năm chiếc!
- Sáu Lập bao nhiêu?
- Ba.
- Xén?
- Bốn.
- Còi?
- Hai.
Thấy vắng chú Út, Tặc xăng văng xéo véo([17]):
- Ba tôi đâu? Ba tôi đâu?
Sáu Lập nói:
- Ổng còn ở sau mà!
Tặc hỏi tới:
- Ba tôi ở sau làm gì?
- Ổng o bế cái chồi cây điệp!
Nghe nói cái chồi cây điệp, mắt Út vụt sáng lên. Khiêm cũng mừng quýnh, hỏi tía lia([18]):
- Thiệt sao? Cây điệp lên chồi thiệt sao?
Cá đáp hước:
- Nó mới lên một chồi bằng cườm tay, mập ú thấy mê. Còn bốn cái lá lớn bằng cây quạt, xanh dờn, coi thiệt đã con mắt.
Út cười cười:
- Tao nói nó không có chết được mà!
Tặc lại hỏi:
- Rồi ba tôi làm gì ở ngoải?
Sáu Lập đáp:
- Cái trái ai nổ gần đó, máu Mỹ văng tùm lum, dính đầy chồi điệp.
Bình xen vào:
- Có thịt nữa!
- Ừ, có thịt Mỹ nữa. Ông già nói máu Mỹ làm nhơ cái chồi, ổng không chịu. Với lại ổng nói thịt Mỹ thúi lắm, sợ cái chồi non nó chịu không nổi nên ổng ở lại dọn dẹp cho sạch sẽ rồi xách nước rửa chồi điệp tiện thể tưới nó luôn.
Lúc ấy chú Út đủng đỉnh về tới. Chú vác một bó thuốc nam lớn xộn mới chặt được dưới suối Sa Nò.
Vừa thấy chú, Tặc vọt miệng:
- Mấy chiếc, ông già?
- Tao ba chiếc, thứ lớn! Còn mầy?
- Năm! - Tặc tiếp - Ông già mà làm cũng khá quá, kỳ này thưởng ông một lít([19]).
Chú Út hỏi lại con:
- Còn mầy, muốn thưởng cái gì?
- Đường hè! Tặc vừa nói vừa nuốt nước miếng ực ực.
Chú Út quay nhìn giáp vòng. Đứa nào cũng ốm xanh. Cả tháng rồi, ăn toàn cơm vắt([20]), ngày đêm vật lộn với kẻ thù. Người chiến sĩ, người anh nuôi già thấy cổ mình nghèn nghẹn - thương, thương tụi nó quá! Chú lẳng lặng đặt bó thuốc nam xuống, vô hầm lấy cái bòng([21]) bước lên nói:
- Tao đi Gò Nổi đây! Kiếm cái gì bồi dưỡng.
Bỗng tiếng Khiêm la:
- Chị Tám! Chị Tám!
Chị Tám về. Chị gánh hai cái giỏ đầy nhóc, nặng quằn.
Tặc, Khiêm xáp lại đỡ hai cái giỏ. Chị Tám cầm nón lá vừa quạt, vừa nói:
- Nóng ruột muốn chết! Cái đuôi nó vừa tới Trung Hòa là tôi theo du kích bám về liền.
Anh em vây chị Tám hỏi chuyện.
Thằng Tặc, thằng Khiêm thì chỉ mừng hai cái giỏ. Hai đứa đang kiểm tra.
Tiếng thằng Tặc:
- Đường cát nè! Đậu xanh nè! Sữa nè! Cà phê nè! Kẹo! Thuốc rê nè! Thuốc rê nè, bây ơi!
Bên kia thằng Khiêm tiếp theo:
- Thịt heo nè, rau sống nè! Bánh tráng nè! Bún nè! Rượu, rượu nè, bác Út ơi!
Chú Út vuốt râu cười:
- Tao tưởng bây quên cái đó chớ?
Chị Tám cũng cười:
- Quên đâu được chú Út. Mấy má còn gởi đồ nhiều lắm mà nặng quá, quảy không nổi. Mấy má nhắn chú ra đó.
Chị Tám xắn tay áo tính xắt([22]) nấu nướng thì mấy đứa nhỏ xô chị đi.
- Thôi! Thôi! Để tụi em, chị nói chuyện với Út đi!
Hai chị em dẫn nhau ra gốc tre nói chuyện.
Mấy anh em khác tản ra rải rác theo mấy gốc cây trụi lá, phì phèo thuốc rê. Cả tháng trời nay mới được một chiều yên lặng. Chú Út cũng vấn một điếu thuốc lớn. Chú mượn cây viết bơm([23]) của thằng Khiêm vạch bao thuốc “Ara” kê lên đầu gối vuốt vuốt. Chú mang kiếng lên. Thằng Tặc biết ý “Ba đang hừng chí, ba muốn làm thơ”. Nó bưng lại một ly nhỏ. Chú nâng ly, khà một tiếng rồi hí hoáy viết.
- Em mạnh hả Út?
Út cười:
- Thì nè! Như chị thấy nè! Em có giấu giếm gì đâu.
Chị Tám thấy mình hỏi hơi thừa cũng bật cười.
Út hỏi lại:
- Chị về thăm em hay có việc gì nữa?
- Cũng có việc chớ. - Rồi chị thấp giọng - Em cho chị ít trái mìn gạt nghen. Nghe danh tiếng dữ lắm đó.
Út ngạc nhiên:
- Xin chi vậy?
- Đánh giặc chớ chi.
- Chị giỡn hoài!
- Chị nói thiệt. Quyết nghị của chi bộ đó nghen!
- Chị lãnh công tác rồi hả?
Chị Tám chỉ cười cười không đáp.
- Chị đi ngả nào? - Út lại hỏi.
- Ngả Trung Hòa.
Út lại trố mắt nhìn:
- Đi ngả Trung Hòa mà đem mìn nó bắt chết, không được! Tụi Trung Hòa ác ôn lắm!
Chị Tám nghiêm mặt:
- Sao em cầu an quá vậy Út? Có cách chị mới đi! Quyết nghị của chi bộ mà.
Út bỗng bật cười. Út nghĩ: không biết mình có cầu an không mà chị Tám quy mình như vậy? Trước kia tuy nhỏ hơn chị ba bốn tuổi, nhưng Út vẫn thấy mình vững vàng hơn chị Tám. Út thấy mình có nhiệm vụ hướng dẫn chị, nâng đỡ chị. Nhưng bây giờ chị Tám đã khác nhiều lắm rồi. Chiến tranh, đau khổ, căm thù đã biến chị Tám thành một con người khác hẳn, một con người lớn hẳn. “Bà” Tám mà chê mình cầu an thì quả là đổi đời rồi đó! Út nghĩ thế và lại bật cười:
- Thì chị nói đầu đuôi cho em nghe đi chớ. Bí mật với em nữa hả?
- Bí mật chớ sao không? - Chị Tám đáp thế rồi ngồi gần lại em nho nhỏ:
- Chị đến đó chưa đầy mười ngày thì chi bộ tìm đến giao công tác. Chị hỏi sao dám tin chị. Các đồng chí nói: có điều tra rồi. Hơn nữa chị là người Củ Chi. Người Củ Chi ở đâu cũng vậy. Nhớ lời em dặn, nhớ lời anh Sáu, nhớ thằng Ca, chị lãnh công tác ngay và chị công tác rất giỏi. Nói tới đây giọng chị bỗng thấp xuống và như reo lên: - Nè, báo tin mừng cho em, chị đã được kết nạp Đảng rồi nghen!
Út mừng quá, nắm tay chị lắc lắc hỏi:
- Thiệt, thiệt hả chị?
Chị Tám cười. Như để đáp lại tin mừng ấy, Út nói:
- Kỳ nầy em dũng sĩ rồi nghen!
Tặc đang ngồi xắt thịt, nghe thấp thố thấp thửi([24]) ngỡ là Út khoe dũng sĩ với chị Tám cũng lên tiếng khoe:
- Em cũng dũng sĩ nữa nghen chị Tám!
Khiêm đâu có chịu thua:
- Em cũng dũng sĩ nữa!
Anh em khác cũng nhao nhao lên:
- Tui.
- Tui.
- Tui cũng dũng sĩ nữa.
Khi mọi người im lại, chú Út mới ngẩng lên:
- Tao cũng là dũng sĩ.
Út chợt nhớ ra, bỗng reo lên:
- A! A! Cả công trường Nhuận Đức mình đều là dũng sĩ cả rồi!
- Dũng sĩ cả rồi! Dũng sĩ cả rồi!
Anh em cùng reo.
Chị Tám thấy lòng nôn nao, nói nho nhỏ với em:
- Cho chị một mớ mìn nghen! Chị cũng sẽ là dũng sĩ nữa.
Hai chị em nhìn nhau cùng cười. Đằng kia chú Út cất tiếng ngâm thơ sang sảng:
Dùng mìn gạt đánh ba cơ giới
Mười tám tên tan xác tại chiến hào
Khoái chí vuốt râu cười ha hả
Mặc cho bom đạn đổ ào ào.
Tiếng hoan hô và tiếng cười thích thú vang dội.
Ráng hồng chiều nay đẹp quá! Những lỗ bom pháo cũng ửng một màu hồng.
VP
Truyện về anh hùng LLVT Tô Văn Đực.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|