tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
22.05.2009
Viễn Phương
Ông địa đạo

Bọn nhỏ trong cơ quan thường xầm xì với nhau. “Ông già Sáu ốm nhom vậy mà chịu chơi lắm đa! Trận bố nào cũng vậy, ai di chuyển thì đi chớ ổng thì nhứt quyết ở lại giữ cứ với tụi thanh niên mình”.


Tôi nghe chúng nói vậy chỉ cười thầm trong bụng.


Thằng Mỹ đổ sang Việt Nam trên nửa triệu quân, mỗi lần đi bố, chúng kéo có lô, có lóc năm, bảy ngàn thằng, một vạn đứa. Người yếu bóng vía nghe vậy đã giựt mình.


Kỳ thật, năm, bảy ngàn thằng, một vạn đứa thì đã thấm vào đâu. Cố gắng lắm, cũng chỉ đủ rải trong một xã. Trận càn Xêđaphôn, muốn “bóc vỏ quả đất” mấy xã thuộc hai huyện Củ Chi, Bến Cát nằm ven sông Sài Gòn, chúng phải điều động bốn mươi lăm ngàn quân với đủ bộ sậu xe pháo, thủy lục không quân. Du kích mình cũng dàn ra đủ một bộ sậu thủy lục không quân mà chơi với nó. Về thủy binh, nó có hải thuyền, giang thuyền, hạm đội nhỏ trên sông gì đó, thì kỹ sư Út Được mình chế cái đội quân thủy lôi, đào bom lép thứ bốn năm trăm ký gắn đầu nổ vào. Giang thuyền nó đi ngang, du kích giựt nổ “hị” một tiếng, giang thuyền nhào tuốt lên bờ, lủng một lỗ toác hoác. Có mấy thằng giặc cũng chết nhăn răng, chưa nói tới mục cá chết trắng sông, mặc sức vớt về mà bồi dưỡng. Còn không quân, thua nó cái mục máy bay, kỹ sư Út Được bày ra cái vụ giàn hỏa tiễn bom bi, phóng đi một lần mấy chục trái, nói thiệt, nó nổ còn hơn B52 - Bọn Mỹ nó ớn cái thứ này còn hơn cơm nếp nhão.


Lại nói qua cái chuyện bộ binh, thì thôi khỏi chê. Chưa kể chủ lực, du kích “dàn đều” ngó thiệt mát mắt. Nói thiệt, nếu tôi là Ních Xơn thì chắc tôi cũng cho “vãn” cái vụ đi càn cho rồi! Ngọn cỏ nào cũng nổ, hòn đất nào cũng nổ, binh gia đâu mà đánh cho xiết.


Bởi vậy, trong mỗi trận càn, sau khi nó ồ ạt rải quân, mình nắm rõ phạm vi càn bố của nó là mấy ấp hoặc mấy xã rồi thì cơ quan sắp xếp, cho số già yếu cùng đàn bà con nít di chuyển ra khỏi vùng bố - Thanh niên khỏe mạnh thì ở lại tổ chức chiến đấu giữ cứ giữ làng - Trận nào cũng vậy, ai đi thì đi. Tôi ở.


Cái tính của tôi cũng lạ, bom pháo bao nhiêu tôi không ớn, nhưng tôi ớn cái vụ trực thăng rượt bắt sống như con diều xớt gà con. Bởi vậy tình hình căng tới đâu tôi nào có ngán. Bom pháo, mặc bom pháo, “cá rô cá lẹp” mặc cá lẹp cá rô, bom trộm bom đìa, thây nó! Hễ bước vô vườn khuất lưng là tôi dạn, còn ra đồng trống, lộ lưng nhứt là mấy cánh đồng cò bay thẳng cánh miệt Nhà Bè, Tân Trụ, đi xa hai cây số, còn ngó thấy cái gót chân, thì tôi ớn còn hơn ăn thịt mỡ.


Còn ruồng bố, mặc kệ nó. Tôi tót xuống địa đạo rồi là êm rơ. Khỏe thì đốt đèn cầy đọc sách đọc báo chơi, mệt thì nằm ngủ lấy sức. Còn cái chuyện nó chui xuống địa đạo để kiếm mình thì còn lâu. Địa đạo kiến trúc theo kiểu của tôi, tôi chấp nó mười tôi một.


Bởi vậy, trong mỗi trận càn, giặc đổ quân xong, già cả, ốm yếu ai đi thì đi, tôi thì tôi xung phong ở lại. Mấy đứa nhỏ vỗ tay rầm rầm: “Hoan hô ông già Sáu chịu chơi!”. Tôi chỉ cười thầm trong bụng: “Mẹ tổ! Nằm địa đạo khỏe ru không chịu. Dại gì tróc công sự đưa cái lưng trần cho “cá rô” nó rỉa!”.


Nói như vậy, chớ chui địa đạo không phải là chuyện dễ đâu nghe!


Hôm trước, có hai chú thanh niên từ trên Trảng Bàng chạy hàng chuyến xuống đây. Tới Phú Bình đụng trận bố. Giặc đổ quân tứ phía. Bà con rút ra địa đạo hết. Đường sá vắng tanh vắng ngắt. Hai đứa chạy a vào nhà tôi quýnh quýu: “Chú Hai ơi! Cứu cháu với! Cho cháu ra địa đạo! Ở đây cháu lạ đường lạ sá, đi lần quần một hồi lọt hầm chông, vấp lựu đạn cũng chết, chú làm ơn làm phước cho cháu ra địa đạo với chú Hai”. Hai đứa năn nỉ cái miệng dẻo quẹo. Tôi gạt ngang: “Đừng có nói giỡn! Lạ quắc lạ quơ, ở đâu tới lại đòi ra địa đạo! Bộ muốn dò la hả?”.


- Trời ơi! Bác Hai không thương bác Hai nói vậy chết cháu rồi.


- Tụi cháu ở Trảng Bàng xuống bán thuốc rê hoài, ở đây ai mà không biết!


Từ chú nó đề bạt tôi lên bác rồi, nồ nó một hồi chắc nó thăng tôi lên ông.


Theo nguyên tắc thì không được đưa người lạ ra địa đạo, nhưng gặp trường hợp sanh tử này mình phải uyển chuyển, lôi thôi để giặc bắt nó thì mình có tội với Tổ quốc. Hơn nữa, mấy cái thằng này chắc chỉ tại ham tiền, đi buôn thôi chứ không phải người xấu. Phải lo cứu nó chớ. Với lại thật ra, bây giờ có muốn ra địa đạo một mình cũng không thoát được với hai thằng này. Mới bước ra gốc chuối, xắn quần lên, ngó trực lại đã thấy hai đứa hai bên.


- Mấy cái thằng ôn dịch này tao đi đái mà làm gì đeo sát vậy.


Nó nói, nửa cười nửa mếu:


- Con sợ bác bỏ con.


Tôi bỏ cái ống quần xuống:


- Thôi! Đi theo tao.


Nó dạ rân coi bộ mừng hết lớn. Tôi dẫn nó ra miệng địa đạo trình với du kích. Thằng Tám Tốt cự tôi liền:


- Sao chú không bịt mắt nó lại! Lộ hết!


Hai thằng xanh mặt, thấy thương, tôi nói:


- Bây coi cặp giò đóng phèn vàng khè, cỏ bắt cứa sạch bóng không còn một sợi lông, thì cũng dân ruộng lội năng lội lác như tụi mình chớ ai đâu lạ.


- Dân gì thì cũng cảnh giác chớ! Chuyện giặc giã chớ bộ.


Tôi chống chế:


- Thì tao cảnh giác chớ sao không? Tao cho nó xuống trước, mình ém miệng.


Thằng Tám Tốt vẫn quạu đeo:


- Thôi giao chú đó! Chú chịu trách nhiệm đa nghen!


Tôi nhỏ nhẹ:


- Ừ! Thì tao chịu trách nhiệm. Thôi! Chui xuống đi hai cháu.


Nghe nói vậy, hai đứa mừng quýnh. Một thằng liền thò cái đầu xuống, rồi rút lên liền vừa rùng mình vừa nói:


- Lạnh ngắt, tối thui, ghê quá! Thôi! Cho tôi ngồi trên miệng.


Trời đất! Địa đạo, mà đòi ngồi trên miệng - Thằng Tám Tốt ngó tôi, cái môi trề trề. Tôi vừa giận vừa tức.


- Thôi! Tao cũng hết nước với bây rồi. Bây giờ tao giao bây cho du kích, nó dắt bây đi đâu thì dắt.


Nó tía lia:


- Không! Không! Con đi theo bác! Bác đâu con đó, không có theo ai hết.


- Ờ, theo tao thì chui xuống!


Nó năn nỉ:


- Bác chui xuống trước, cháu xuống sau.


Thôi tôi cũng đầu hàng nó. Tôi chỏi hai tay, thòng cái mình đu đưa rồi buông nhẹ xuống địa đạo. Còn đang mò đường thì nghe một cái đụi:


- Chết con rồi bác Hai ơi!


Tôi vừa mò vừa hỏi:


- Có sao không?


- Dạ không sao! Địa đạo gì mà sâu dưới âm phủ!


Tôi chỉ vẽ: Có mấy cái lỗ đào hai bên vách đó, chỏi chân vô đó mà lần xuống. Buông tay nhảy ẩu có ngày gãy cổ.


Mới nằm im được một chút nó đã kêu giựt giọng:


- Bác Hai ơi!


- Ơi! Cái gì?


- Có thuốc không! Cho cháu một điếu!


Tôi nói:


- Xuống địa đạo mà đòi hút thuốc! Chết còn sướng hơn!


Thằng kia nói:


- Nằm đây mà không có thuốc! Chết còn sướng hơn!


Ủa! Nó nói trả treo đây. Hai thằng này cũng không vừa. Tôi bò ra nằm ém cái miệng hầm.


Suốt mấy ngày, nước chai, cơm vắt, ghiền thuốc, ghiền trà hai thằng con mắt sâu hóm, cái mặt đừ câm.


Ngày thứ tư giặc rút, hai thằng cóm róm trèo lên.


Vừa đụng mặt đất nó đã chắp tay xá xá cái miệng địa đạo: “Vĩnh biệt ông, ông địa đạo! Con về Dương Minh Châu, giặc có bố, con tuông rừng con “đổng” khỏe rơ”. Từ đó, không thấy hai thằng léo hánh đến đất Củ Chi nầy. Chắc nó ớn địa đạo. Đó thấy không? Không phải nằm địa đạo dễ đâu!


Khoảng năm 1966, 1967 chiến tranh đặc biệt chuyển sang cục bộ. Mỹ đổ quân ồ ạt. Bom pháo đêm ngày.


Địa đạo Củ Chi lớp sụp, lớp đứt. Hầm hố hết bị chuột cống moi đến bị xe tăng ủi. Phải gấp rút đào hàng loạt địa đạo mới. Từ đó tôi phát cái nghề đào địa đạo. Địa đạo tôi đào rất tối tân. Mỗi địa đạo có bốn năm thượng, sáu bảy trầm có nơi ngủ, nơi ăn, nơi núp chiến đấu, nơi chứa lương thực. Để tấn nắp trầm, nắm thượng, tôi đốn cây thao lao một ôm, khi cần tôi chống lên nóc hầm tấn cái nắp xuống thì một đại đội cũng không đánh bung được. Kế bên, tôi còn đổ sẵn một đống cát, phòng khi nó bơm hơi độc thì mình đậy nắp lại rồi đổ cát lên trên.


Có địa đạo, tôi cao hứng đào luôn cái giếng ở dưới. Giặc bố dài ngày, mình ở dưới địa đạo dùng bếp dầu, nấu cơm ăn luôn. Có dự trữ sẵn đường bột, cứ năm ba ngày tụi nữ nó tổ chức làm bánh, nấu chè liên hoan một bữa. Mới kể sơ chắc có người thèm nằm địa đạo rồi.


Tôi cứ đào hết địa đạo này đến địa đạo khác. Luôn luôn phải có vài địa đạo “xơ cua”. Có khi một trận càn phải di chuyển hai ba địa đạo. Có khi địa đạo vừa làm xong, chưa kịp chui thử lần nào, máy bay nó thảy cho một trái bom đìa, tiêu luôn.


Suốt mấy năm liền, tôi chuyên việc xây cứ và đào địa đạo. Trình độ kỹ thuật ngày càng cao, xứng đáng được đề bạt chuyên viên cao cấp.


Nhưng tôi khoe là khoe với ai chớ gặp mấy thằng du kích là tôi êm re, chịu phép. Vậy mà nó còn kêu tôi thành danh: “Ông địa đạo cầu an”.


Lúc đầu, tự ái tôi muốn “loi bản họng” nó. Nhưng càng nghĩ càng thấy tụi nó có lý.


Địa đạo tôi làm chủ yếu là để trốn. Còn tụi nó thì khác. Nó đào địa đạo mục đích là để đánh. Hèn chi nó nói địa đạo của nó là địa đạo chiến đấu, còn địa đạo của tôi là địa đạo cầu an. Mấy thằng thanh niên nói bá láp, đáng lẽ nó phải nói địa đạo của tôi là địa đạo phòng thủ còn địa đạo của nó là địa đạo tấn công nghe có phải được hơn không?


Từ đường xương sống nó đào nhánh tủa ra các ổ chiến đấu. Có ổ chiến đấu lớn nó làm năm sáu lỗ châu mai, chứa cả nửa tiểu đội. Phía trước nó dàn một bãi tử địa chôn nào mìn gài, mìn đạp, mìn gạt, bom bi. Cả tiểu đoàn giặc Mỹ cũng không tiến tới nổi. Xe tăng thiết giáp càn vô cũng bỏ xác như không. Tụi Mỹ phải dùng máy bay thả bom để đối phó.


Có ổ chiến đấu nhỏ nó khoét ra tận vách đường hố, cho một đứa ngồi trong đó rình. Lâu lâu tụi Mỹ đi qua nó tỉa “đùng” một phát, ngã một thằng. Lai rai một ngày hạ năm bảy đứa.


Có ổ chiến đấu nó khoét ruột gò mối. Con Mộng, con Mơ ngồi thu lu trong đó với khẩu cạcbin. Tụi Mỹ kéo quân hàng ngang đi qua vừa nhai kẹo cao su vừa hát. Thì thằng Ních Xơn đã chẳng nói với nó là sang Việt Nam như đi nghỉ mát mà. Cái xứ nhiệt đời này thiếu gì con gái xinh và phong cảnh đẹp. Thấy thằng Mỹ đi sát vách, con Mộng nổ “đùng” một phát, thằng Mỹ té nhào, cục kẹo văng xa lắc - Mấy thằng kia bò lăn bò càng. Con Mơ giành súng nổ đùng đùng hai phát.


Con Mộng cự:


- Sao mày bắn tới hai phát, tiết kiệm đạn chớ! Đạn cạcbin khó kiếm lắm nghen!


Con Mơ vừa ghìm súng vừa nói:


- Thằng Mỹ dềnh dàng như con trâu chương mà viên đạn cạcbin có bằng mút đũa, bắn một viên làm sao nó chết.


Bỗng một thằng Mỹ phát hiện ra cái lỗ châu mai nhỏ bằng cái hang dế, không biết là cái gì, nó quýnh quáng vừa la vừa lấy bàn chân đè bịt lại.


Con Mơ nổ đùng một phát. Thằng Mỹ ngã cái rật. Bọn còn lại khóc rống lên ồ ồ!


Nó xây lại kêu con Mộng cười nói tía lia:


- Ngộ quá mầy ơi! Nó khóc như con nít vậy hà.


Bỗng “hịnh” một tiếng! Cát bụi mịt mờ, hai đứa tối tăm mặt mày. Cái gò mối lở một mảng ngó thấy trời xanh.


Nó bắn thứ gì dữ quá. Hai đứa tức muốn mất thở. Không ai bảo ai, hai đứa tuột xuống địa đạo, mò qua ổ khác. Bỏ tụi Mỹ ở đó loay hoay suốt buổi sáng vật lộn với cái gò mối lở.


Đó! Tụi nó đánh giặc như vậy đó!


Qua trận đầu đánh Mỹ, huyện đội Củ Chi có tổ chức hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm nóng hổi mà bây giờ tôi chỉ còn nhớ có ba bốn cái đầu, đại để là:


1. Ở đây cũng đánh được Mỹ.


2. Ai cũng đánh được Mỹ.


3. Vũ khí gì cũng đánh được Mỹ.


Huyện đội lại đề ra cái vụ dũng sĩ diệt Mỹ. Diệt được ba thằng là dũng sĩ cấp một. Diệt được năm thằng là dũng sĩ cấp hai. Diệt bảy thằng là dũng sĩ ưu tú.


Tụi trẻ thi đua rần rần. Số nào rảnh rang thì tót lên vành đai, tìm Mỹ mà diệt. Số nào không đi được thì ở nhà chuẩn bị trái trăn ổ chiến đấu, bái tử địa. Nó trông Mỹ càn còn hơn hạn trông mưa. Có thằng tức quá, chửi đổng: “Đ.M. thằng Mỹ sao lâu quá không chịu đi càn!”.


T.28 quần luôn mấy đêm. Có tin mật kêu chuẩn bị. Nghe Mỹ sắp càn, tụi du kích nó mừng như lân thấy pháo. Nó chợp rợp suốt ngày đêm, thay cái trái này, đổi cái trái khác. Tám chín giờ tối nó còn xăm xoi mấy cái ổ chiến đấu. Một hai giờ khuya nó còn bàn tính nào là thằng Mỹ đổ quân ở đâu, kéo đi ngả nào, mình chận cách nào. Nó làm như nó là ông nội thằng Mắc Namara, cái gì cũng biết hết trọi. Tụi nó làm quá tôi cũng bắt nôn. Tôi có cây cạcbin mới chong, nòng báng thoa dầu láng o.


Nghe tin bố, tôi tháo ra lau chùi.


Mấy thằng thanh niên xề lại, dòm lé con mắt.


Thằng Chấn mại hơi:


- Mới cảo ta!


Tôi không thèm ngó lên:


- Ngon lành mà!


Thằng Lắc vô đề liền:


- Cho cháu mượn chống càn đi bác!


Tôi chậm rãi đáp:


- Thằng nói không duyên dùng gì hết! Bộ tao không biết đánh Mỹ à?


Nó không chịu thua:


- Bác già rồi, đánh chác gì?


- Cái thằng! Còn ăn cơm thì còn đánh giặc chớ!


Tôi đưa súng lên nhắm thử.


Coi bộ tụi nó thèm nhễu nước miếng. Ngồi im một lát, con Lý, chị thằng Lắc khều tôi nói:


- Bác cho tụi cháu mượn đi! Đánh được tụi cháu chia cho bác.


Từ hôm bày ra cái vụ dũng sĩ diệt Mỹ tới nay hay có cái vụ đó.


Nó lên vành đai đánh Mỹ rồi về chia chác thành tích với nhau, cho mượn qua lại như nông dân mình cho mượn phân tro vậy.


Như hôm rồi, hai anh em thằng Bền, thằng Bỉ lên vành đai một tuần. Tư Bỉ diệt được tám thằng Mỹ, Ba Bền được bốn! Anh em bàn tính với nhau; thằng Tư Bỉ cho thằng Ba Bền mượn một thằng Mỹ thì thằng Tư Bỉ còn bảy, thằng Ba Bền được năm. Hai anh em, một thằng dũng sĩ diệt Mỹ cấp hai, một thằng cấp ưu tú, ngon ơ! - Mà nó tính như vậy cũng gọn. Nông dân mình phải biết đoàn kết tương trợ chớ!


Tôi ngẩng lên:


- Chia làm sao? Chia hai nghen!


Tụi nó cười rộ:


- Gì dữ vậy bác. Ăn lời vừa vừa vậy chớ!


Tôi nói:


- Thôi! Chi tứ lục.


Con Lý hỏi:


- Tứ lục là sao bác?


- Thì bây sáu tao bốn!


- Thôi! Bác ơi! Tám một đó! Chịu hổng chịu thì thôi.


Tụi nó đứng dậy bỏ đi.


- Đi thì đi chớ! Tao đâu có cần. Tôi nói thầm trong bụng, tiếp tục chùi súng.


Một lát tụi nó dáo lại:


- Thôi! Bác khỏi có chiến đấu đi! - Con Lý vừa cười vừa nói.


- Ai cấm tao? - Tôi hỏi gằn, hơi quạu.


- Xã đội nói rồi! Hợp đồng chiến đấu với cơ quan thì hợp đồng với thanh niên, chớ ai đi hợp đồng với ông già lụm cụm. - Thằng Lắc nói một hơi.


Mấy đứa này nó nói đúng rồi đây! Mấy bữa rày tụi thanh niên nó cũng bàn với nhau, không cho tôi chiến đấu, bắt tôi lo tiếp tế hậu cần. Tôi đâu có chê cái chuyện này, nhưng được đeo cái huy chương dũng sĩ diệt Mỹ thì khoái hơn nhiều. Tôi đấu tranh, nhưng tụi nó kiên quyết lắm.


Nó nói tôi già rồi, sức khỏe không được dai dẳng, với con mắt con mũi không được lanh lẹ. Tôi nói thầm trong bụng: “Đố thằng thanh niên nào kéo tay lại tao?”.


Thấy tôi hơi núng thế, thằng Chấn “tán” thêm:


- Thôi sáu một đó ông!


Tôi còn do dự thì thằng Lắc tiếp:


- Không cho tụi này mượn thì Mỹ tới bác cũng ôm cây súng nằm chèo queo trong địa đạo thôi.


Tôi đưa cây súng cho thằng Lắc, nói xụi lơ:


- Thôi cho bây mượn đó! Ráng giữ cho kỹ.


Tụi nó cười rộ như chọc tức tôi.


Đi một quãng, con Lý còn quay lại đưa bàn tay lên nói:


- Sáu một nghen bác!


 


*          


Trận đó thằng Lắc được tám thằng Mỹ.


Nó đem trả súng rồi nói với tôi:


- Súng bác còn y, không có hư mẻ gì hết. Tám đứa thì chia bác một, tôi bảy - như vậy thì tôi mới đậu dũng sĩ cấp ưu tú.


Tôi nói:


- Như vậy cũng hẹp cho tao.


Nó làm thinh coi bộ không vừa bụng. Tôi cũng làm thinh, tính thầm: “Bữa nào tụi thanh niên nó đi vắng mình tót lên vành đai kiếm thêm hai thằng Mỹ nữa thì cũng được cái dũng sĩ cấp một. Kệ, tích tiểu thành đại. Năng nhặt chặt bị. Bây giỏi, bây đánh một hai trận bây được ưu tú. Tao già tao đánh một chục trận cũng được ưu tú như bây. Cái việc đánh Mỹ này tao biết quá! Đánh cả đời chưa hết chớ bộ đánh một ngày một bữa gì sao mà vội mà vàng!”.


Bữa hội nghị báo cáo thành tích, tôi vác cây cạcbin đến dự. Trong trường học, ba bề bốn bên bà con đông nghẹt. Người ngồi trên băng ghế kẻ ngồi trên bàn, có mấy đứa thanh niên trèo trên trính nhà ngồi vắt vẻo, kỳ dư ngồi dưới đất. Thấy tôi vào, bọn trẻ ngồi nhích lại kêu rần:


- Bác Sáu! Bác Sáu! Ngồi đây bác!


Tôi dựng cây súng vô vách, phủi chân ngồi dựa cột nhà vừa nói:


- Thôi! Người phải ngồi đâu cũng phải!


Thằng ấp đội ra vỗ tay bốp bốp. Mọi người im lặng, cuộc họp bắt đầu.


Tuần tự từng người đứng lên báo cáo. Người thì giết ba thằng Mỹ, người thì mìn nổ một xe tăng, tổ thì hạ một trực thăng, tổ thì diệt một trung đội.


Tiếng cười nói râm ran, tiếng vỗ tay rôm rốp.


Bỗng thằng Lắc đứng lên lớn tiếng:


- Phần tôi, suốt trận càn tham gia tám trận, giết được sáu thằng rưỡi.


Bà con cười cái rần.


Có tiếng hỏi lao xao:


- Sao lại sáu thằng rưỡi? Sao lại có cái rưỡi?


“Đúng là cái thằng nói ba láp”. Tôi nghĩ.


Bỗng nó tiếp:


- Tôi bắn được tám thằng nhưng vì mượn cây cạcbin của bác Sáu nên phải đóng cho bác một thằng rưỡi. Còn lại sáu thằng rưỡi.


Bà con cười ngả nghiêng ngã ngửa. Mặt mũi tôi đỏ rần, trong bụng chết điếng - Cái thằng đâm hơi thiệt!


Mấy đứa thanh niên cơ quan mắc cỡ lây, cự tôi:


- Cho mượn súng thì cho mượn chớ làm cái gì mà bày đặt chia chác kỳ vậy?


Tôi vừa giận, vừa mắc cỡ cũng lớn tiếng cự lại:


- Ai biểu bây không cho tao đi chiến đấu, cứ bắt tao nằm địa đạo riết, tao thành danh ông địa đạo cầu an, bây thấy không?


Bà con cười lăn chiên lăn giác. Mấy thằng thanh niên cũng cười theo.


Bỗng nghe “hục” một tiếng.


Đứa nào la bài hãi: “Pháo Lai Khê!”.


Bà con nhào xuống hầm. “Ầm” một tiếng!


Tôi quơ cây súng, tót xuống giao thông hào vừa thả về nhà, vừa nói thầm trong bụng:


“Đù hỏa”! Bữa nay thằng pháo Lai Khê này bắn “có lý” lắm!


 


Quê hương địa đạo. Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I.


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »