tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
31.05.2009
Viễn Phương
Hoa trong đất (1)

Đêm đã khuya lắm rồi. Nằm trên chiếc võng giăng qua hai cây cột gần bên mái giọt, tôi thao thức nhìn trời. Đầu mùa mưa, mây là sà xuống thấp, những tảng mây nặng như chì và đen như vũng mực. Tiếng sấm rền âm âm từ xa. Trận mưa lái phái ban chiều làm mùi hơi đất xông lên ngai ngái. Mùi hơi đất miền Đông cũng giống như mùi hơi đất miền Tây. Tôi chợt nhớ những cánh đồng rộng ngút ngàn miệt Long Xuyên, Châu Đốc. Tiếng sấm âm âm đầu mùa. Những đám khói đốt đồng bay lửng lơ, mênh mông.


Trên hai mươi năm nổi trôi chiến đấu, vẫn có những đêm nỗi nhớ nhà quay quắt, cháy lòng.


Tôi thao thức nhìn trời, cuối chân mây, le lói vài ngôi sao thưa thớt.


Bỗng phía ven rừng một đốm lửa lòe lên, rồi ánh lửa ngoằn ngoèo trong gió, chốc chốc lại lóe lên sáng rực. Ai đó đang ngậm điếu thuốc đi ngược gió về phía tôi. Một dáng người thon thon, cao gầy: anh Hai Trần.


Tôi chưa kịp hỏi, anh đã lên tiếng:


- Ngủ chưa, anh Sáu?


Tôi lồm cồm ngồi dậy:


- Còn thao thức đây! Tôi vừa nói vừa đỡ khẩu cạcbin dựng xuống, rọi đèn pin nhìn kỹ rồi mới bỏ chân xuống đất.


Nhà gần rừng nhiều rắn rít. Ban đêm cạp nia, chàm quạp nó hay bò lên dép râu của mình nằm cho ấm. Không cẩn thận, bỏ chân xuống đạp nhằm là nó cắn ngay.


- Đêm nào nghe Trần Thị Tuyết ngâm thơ là tôi không ngủ được. - Anh Hai đã bước vào nhà vừa cười vừa nói.


Tôi sực nhớ có lần anh nói với tôi: Tiếng Trần Thị Tuyết ngâm thơ giống tiếng vợ anh lắm. Vợ anh là người Bắc.


- Thôi! Để mình nấu nước pha trà uống chơi! - Tôi vừa quẹt hộp quẹt mồi cái đèn bánh ú vừa nói.


- Qua nhà mình có cà phê, “khách” mới vào. Cà phê “mạc te” ngon lắm.


Tôi không chối từ, đi theo anh về phía ven rừng.


Anh Hai Trần phụ trách một mảng công tác đô thị. Trước, anh ở Hố Bò nằm sâu trong căn cứ địa, “khách” thành vô ra hoài bất tiện nên anh dời ra đây. Ra xóm, ở chung với đồng bào anh cũng thấy không ổn. Toàn là khách “ngăn cắt”, chung đụng với dân dễ lộ mặt nên anh cất chòi ở riêng trong bìa rừng.


Gần đến ven rừng, anh đã lên tiếng:


- Ngăn cắt! Ngăn cắt nghen!


Tôi chậm lại một chút để “khách” có thì giờ che mặt, bước vào sau.


Bỗng tôi dừng lại, sững sờ. Khách đang vụng về choàng chiếc khăn rằn ngăn cắt qua đầu, mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to và buồn, một nỗi buồn sâu thẳm. Đôi mắt đen và hiền dịu như xoáy thẳng vào tim tôi. Đôi mắt này tôi nhớ:


Có phải đã quen nhau trên một đường phố?


Có phải đã quen nhau dưới một mái trường?


Có phải đã gặp nhiều trong những cuộc đấu tranh?


Giữ đúng nguyên tắc ngăn cắt, khách từ từ day mặt sang hướng khác. Từ ấy cho đến lúc tôi về, cô không nhìn lại nữa.


Anh Hai Trần nói chuyện huyên thuyên, anh phân tách ngợi khen giọng ngâm thơ của Châu Loan, của Trần Thị Tuyết, nhưng sao tôi có cảm giác anh nói để cố lấp bớt đi nỗi trống trải trong hồn.


Những giọt cà phê sóng sánh rơi trong ly, giọt vui, giọt buồn, giọt thương, giọt nhớ. Tôi lặng lẽ nhìn những giọt cà phê rơi, cố ra vẻ chú ý nghe anh nói chuyện, nhưng kỳ thật tôi cố moi trong trí nhớ ánh mắt này, cái nhìn này. Tôi cố gắng nghe hơi thở của người con gái không quen tên, không biết mặt và vì tuân thủ nguyên tắc bí mật tối cần thiết cho cuộc chiến đấu này, tôi sẽ không bao giờ được quyền biết mặt, quen tên cho dù chỉ một ánh mắt nhìn thôi. Tôi bỗng thấy rất đỗi mến thương như đã thân thiết tự bao giờ.


Cô vẫn ngồi yên trên võng, nhìn ra trời đen, cất tiếng hát buồn buồn trong đêm mênh mông.


. . .


Tờ mờ sáng, có giao liên hỏa tốc. Lịnh chống càn. Tôi bỏ dở ấm nước đang réo sôi, đi sang nhà anh Hai. Mặc dầu đêm rồi thức khuya, sáng nay anh vẫn dậy sớm. Thời chiến tranh, ai cũng “quân sự hóa”. Sáng sớm phải gọn gàng, sẵn sàng đối phó nếu giặc có đổ quân hay biệt kích.


Anh đang lặng lẽ pha cà phê. Tôi đưa mắt nhìn, cô gái đêm qua vắng bóng.


Tôi đưa cái lịnh chống càn cho anh. Anh kê vào đèn đọc. Nét lo âu hiện rõ trên mặt anh.


Tôi hỏi:


- Địa đạo đào xong chưa?


- Xong cả rồi, tốt lắm!. - rồi anh tần ngần nói tiếp: - Nhưng còn việc nghi trang coi mòi chưa ổn.


Bao nhiêu đất moi lên từ địa đạo phải đem cất giấu cho kỹ. Hàng trăm, hàng ngàn mét khối, giấu đâu cho hết?


- Tôi định đổ thành gò mối. - Anh Hai nói và nhìn tôi như dò hỏi.


- Cụm rừng này ít gò mối, mình tạo nhiều gò mối giả quá, nó sanh nghi. Nên đổ xuống hố bom hoặc đổ những chỗ trũng. Rồi tôi giúp thêm kinh nghiệm. “Anh nói mấy cháu tìm chỗ đất trũng, hốt sạch lá ủ, dẫy lớp mặt đất cũ đổ qua một bên rồi đổ đất mới xuống đó. Xong xuôi, đầm dậm cho thật dẽ dặt rồi trải đất cũ lên trên. Ở trên nửa rải một lớp dày lá ủ. Làm kỹ như vậy thì người ở tại đây cũng không phân biệt được đất cũ đất mới, nói gì tụi Mỹ ngụy”.


Anh trầm ngâm một lúc rồi nói:


- Nhưng mưa lớn vài trận, đất bột mới đổ thắm nước mềm ngay, dặm lên đất lún, biết liền.


Anh nói đúng. Phải qua vài mùa, đất bột mới dẽ dặt thành đất thịt được.


Thấy anh chưa thật yên lòng, tôi nói:


- Hay là trận nầy chung tạm địa đạo chúng tôi.


Anh lắc đầu:


- Để tính lại coi sao? Phải “tự lực cánh sinh” chớ, nhờ vả hoài hoài sao tiện.


Tôi cằn nhằn:


- Anh sao hay câu nệ! Thì “đông có mầy, tây có tao”! Gặp lúc thắt ngặt phải biết nương tựa vào nhau chớ? Có ai đứng một mình mà sống được trong trận chiến tranh nầy.


Anh vỗ mạnh vào vai tôi, cười hề hề:


- Thôi đồng ý! Để tính, để tính.


Tôi nhắc anh một câu: “Ráng chuẩn bị chống càn gấp!”. Rồi tôi từ giã ra về.


Bước ra khỏi nhà, tôi bỗng sững sờ đứng lặng. Người con gái ấy đang lửng thửng đi vào.


Chiếc khăn rằn ngăn cắt vẫn che nửa mặt, nhưng đôi mắt to và buồn vẫn nhìn thẳng vào tôi, cái nhìn sâu thăm thẳm.


Tôi bối rối chưa kịp cúi chào cô đã lặng lẽ bước đi, im lặng. Bàn tay trắng xanh mân mê đóa hoa mua tím còn long lanh mấy giọt sương mai.


Ánh mắt này, dáng đi này, tôi nhớ.


Ngày xưa tôi có cô bạn cùng trường.


Bạn tôi cũng có đôi mắt to và cái nhìn thăm thẳm như em. Chúng tôi đã xa nhau từ những ngày đầu khói lửa và hẹn nhau ngày về chiến thắng. Người đi như cánh chim bay, hai mươi năm dài đăng đẳng.


*


*           *


Trận càn diễn ra sớm hơn dự định, một trận càn ác liệt hơn bao giờ hết.


Kể từ tờ mờ sáng ngày hôm kia, khi trái pháo đầu tiên nổ tung ngôi trường ấp Xóm Thuốc cho đến nay thì suốt ngày đêm tiếng pháo, tiếng bom, tiếng súng, tiếng hỏa tiễn, tiếng lựu đạn v.v. không hề dứt trên đất Củ Chi. Lửa khói dậy khắp nơi, thiết giáp, xe tăng quần nát làng, nát xóm, phản lực oanh tạc, trực thăng, sâu đo, sâu rọm quần đảo trên bầu trời đầy khói bom như những đàn mối bay tung trong một chiều nồng trước cơn mưa.


Ban đêm, hàng trăm quả pháo sáng phất phơ lơ lửng bay trên bầu trời Trung Hòa ảo ảo mờ mờ như đêm hội của bầy quỷ sứ. Nơi ấy, bọn giặc Mỹ chỉ huy cuộc càn đang đóng.


Khác với bọn ngụy sáng đổ quân, trưa xế đã rụt rịt rút về, bọn Mỹ càn bố đã ba ngày tròn mà chưa thấy có dấu hiệu gì là chúng muốn rút quân cả. Mỗi người chúng tôi ai cũng nghĩ suy, lo lắng. Hay là nó định đóng đồn chiếm luôn vùng đất Bắc Chi này.


Chật vật tối ngày thứ ba, tôi ra gác miệng hầm, Tám Quan mò vô bìa rừng nhận đồ tiếp tế. Đi gần tới gốc cây cầy, bỗng Tám Quan khựng lại. Có bóng ai ngồi.


Tám Quan định thần nhìn kỹ. Người ấy giơ tay ngoắc! Má Tám.


Tám Quan vội vã đi tới. Má Tám kề tai Tám Quan nói lào khào:


- “Tụi bây ráng kỹ lưỡng. Mỹ nó luồn vào rừng rồi. Bà con lo lắng lắm”.


Vội vội vàng vàng, má đẩy thúng xôi và ơ thịt gà về phía Tám Quan rồi quày quả trở vào. Giặc Mỹ đang đóng tại nhà má. Chúng đang theo dõi từng hành vi cử động của má.


Một thoáng nghi ngờ, chúng bắn chết ngay.


Đêm ấy, tôi bàn với Tám Quan cho anh em rút sâu vào lòng địa đạo và phân công nhau suốt đêm canh gác miệng hầm.


Cuộc chiến đấu với giặc Mỹ gay go thật. Cách đây mấy tháng khi Mỹ chưa đổ quân vào, bọn ngụy đi bố cũng có khi ở lại đêm trong làng. Nhưng dù đêm hay ngày gì, đố có thằng nào dám bén mảng đến bìa rừng. Chúng chỉ rút trong xóm, rút trong nhà. Súng nổ lẹt đẹt đôi nơi, pháo bắn lưa thưa vài trái. Tối đến, chúng tôi giăng võng trong rừng. Bọn trẻ hát dấm da dấm dí, người già hái củi rừng nấu nước pha trà, cùng nhau đàm đạo như quên đi lũ giặc đóng quanh mình. Chỉ có bọn du kích là đua nhau suốt đêm đi mò giặc. Quả là một cuộc săn thú vô cùng hào hứng.


Còn bây giờ thì khác hẳn, ác liệt muôn phần.


Cái thằng “Anh cả đỏ”, “Anh cả đen” gì đây nó dữ dằn hung hản lắm. Từ bữa trút quân xuống đến nay, nó vãi đạn bom như vãi trấu. Thật là ngóc đầu không nổi với nó. Bọn nầy ở bên Mỹ mới qua chưa biết thế nào là chiến tranh du kích, nó đánh theo kiểu liều mạng, nghe súng du kích nổ ở đâu là nó càn ào lên bất kể gai gốc lùm bụi, chông mìn, bảng tử địa. Nó rượt mấy thằng nhỏ chạy vắt giò lên cổ. Đánh mấy ngày đầu chưa nắm được quy luật, bọn du kích thật là bị động khổ sở với nó. Đánh qua ngày thứ ba, tụi du kích rút kinh nghiệm, thì tình thế đã mười phần thay đổi. Đánh du kích chẳng qua là ăn nhau ở cái gan dạ, cái thông minh, cái nghệ thuật, cái sáng tạo chớ còn thứ ngu ngốc nóng nảy, ẩu tả, liều mạng, đánh theo kiểu điếc không sợ súng thì thật ra có lúc nó cũng làm cho mình hú hồn, lên ruột, nhưng đánh kiểu đó thì mình cũng dễ lập thành tích lắm.


Cái bộ mặt của thằng Tám Quan mấy bữa trước nhăn đùng như cái bong bóng xẹp, bữa nay mới hơi dãn ra. Nó cười hì hì nói với đám du kích cơ quan:


- “Chịu cực một chút! Làm ăn được đó bây!”.


- Coi mòi còn dễ hơn ba thằng ngụy!


- Tụi ngụy vừa xảo vừa nhác, khó chơi hơn nhiều!


Đó là bọn chuyên “đánh đá” nó bàn bạc với nhau. Còn số nằm hầm như tôi, nghe Mỹ nó đánh bom đánh pháo ầm ĩ suốt ngày thật ê đầu nhức óc.


Nhưng khổ nhứt là đồng bào cô bác, các má, các ba. Cái chỗ mạnh trước nay của bà con cô bác mình là đấu tranh chánh trị “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, làm rệu rã thêm cái tinh thần bạc nhược của ba thằng ngụy. Bây giờ gặp lũ Mỹ đầu quăng, môi trớt, mũi lỏ, mắt xanh, nói tiếng líu lo, miệng nhai chành chạnh thì hết phương đấu tranh với nó. Vừa mở miệng chưa kịp nói là nó đã đá nhào lăn, rồi nó xách giò thảy lên trực thăng chở đi mất dạng. Thế nên “tam thập lục kế dĩ đào vi thượng”. Nhưng trốn đâu cho thoát. Đầu bờ cuối bãi nào nó cũng lôi ra, lùa lên trực thăng chở đi hết ráo. Ngồi lên trực thăng ngó lại phía sau, thấy xóm làng cháy ầm ầm như cái biển lửa mà ứa mật ứa gan. Xóm làng hủy diệt, sự nghiệp tiêu tan, phen này sống chết gì cũng quyết liều với nó. Nghĩ là như vậy, nhưng còn phải chờ ý kiến của mấy thằng chi bộ.


*


*           *


Tờ mờ sáng, tôi ra đứng gác miệng hầm. Tám Quan ôm súng đi cảnh giới.


Tôi dặn dò:


- Đi cho kỹ lưỡng! Có lẽ nó đã vào rừng thật rồi đó.


Tám Quan với lấy tấm vải dù tôi quấn trên cổ choàng qua mình nghi trang rồi nhè nhẹ bước đi.


Tôi đứng dưới hầm, ló người lên ngang ngực vừa lắng tai nghe động tĩnh, vừa xếp lại những chiếc lá ngụy trang quanh miệng hầm.


Bỗng một loạt súng nổ vang! Tiếng AR16 chen lẫn tiếng AK.


Có biến rồi! Tôi nghĩ.


Vừa lúc ấy tiếng chân chạy huỳnh huỵch, tiếng la hét vang rền. Tám Quan lướt tới, thở hào hển, nói lấp bấp:


- Mỹ. Mỹ. Đậy nắp hầm!


Tôi đỡ Tám Quan xuống. Kéo sập nắp hầm.


Một dòng máu nhớp nháp, rỉ ướt tay tôi.


- Đụng độ! Bị thương rồi.


- Nặng nhẹ?


- Không biết!


Nghe động, anh em đã bò ra. Tôi kêu anh em đưa Tám Quan xuống “trầm”. Tất cả chuẩn bị vào xương sống. Mang tài liệu đi trước. Chỉ hai cậu bảo vệ ở lại cùng tôi giữ miệng, phòng khi bất trắc. Súng ngắn, lựu đạn, dao găm sẵn sàng.


Bấy giờ trên đầu tôi đã nghe bước chân thình thịch, rồi tiếng la hét, tiếng xom đất, tiếng chặt cây. Có lẽ chúng đông lắm. Chúng đang kiếm miệng hầm. Chúng tôi ngồi lặng im. Tim tôi không hồi hộp, nhưng cổ nghe khô đắng.


Mười lăm phút trôi qua. Thời gian! Thời gian bây giờ qua chậm lắm.


Sự khều tôi nói nhỏ:


- Nó kiếm không được chắc nó “buồm” thôi!


Tôi im lặng, không trả lời. Tôi không nghĩ như Sự. Không! Nó không bỏ đi đâu! Nó là thằng Mỹ độc ác kia mà! Nó tìm không được, nó sẽ dẫn chó bẹc giê đến. Chó bẹc giê tìm không ra nó sẽ cho xe càn ủi trốc hết cụm rừng này.


Nó là thằng Mỹ, nó thù dai và thù sâu lắm. Thấy một sợi khói nhỏ trong rừng nó bỏ bom một tháng. Thấy con cá quẫy dưới biền, nó bỏ bom một tuần. Nơi nào bắn rơi của nó một chiếc trực thăng thì nó sẽ bỏ bom, nó sẽ bắn phá không kể tháng không kể ngày gì nữa.


Tôi đang ngồi nghĩ miên man bỗng nghe: “Cộp” rồi tiếng la ó vang trên miệng hầm.


Tôi tưởng như có một nhát cuốc giáng trúng đầu tôi. Tôi thấy căn hầm như nghiêng ngả.


Tôi chưa kịp định thần “bựt”! Nắp hầm bật tung. Một mảng ánh sáng chói chang chiếu xuống. Tôi nhảy lui, xô thằng Hết, thằng Sự té vào trong góc:


- Coi chừng lựu đạn!


Nhưng không! Nó không liệng lựu đạn, nó chỉ đứng reo hò. Tôi chĩa súng hướng miệng hầm nói với Hết:


- Hết bò vào, kêu tất cả vào xương sống. Sự ở lại với anh.


Trên miệng hầm nghe lịt kịt. Ngón tay tôi đã lướt nhẹ trên cò súng. Bỗng tiếng thét vang lên hung hản:


- “Chiêu hồi hay Tử thần!”.


Đây là lời đe dọa quen thuộc của lũ giặc mà chúng tôi đã nghe hàng ngàn hàng vạn lần. Chúng muốn lấy cái chết để đe dọa chúng tôi và chúng tôi chỉ trả lời lại chúng bằng súng đạn.


Những tháng gần đây, bọn chiến tranh tâm lý Mỹ đã tìm ra một lối tác động mới.


Ban đêm, chúng cho “đầm già” thả rề rề trên các vùng căn cứ rồi phát ra những âm thanh ghê rợn như tiếng khóc nỉ non, tiếng kèn đưa đám, tiếng cú kêu và cuối cùng là câu “Chiêu hồi hay Tử thần”. Những lúc ấy dù nửa đêm hay gà gáy cũng phải có vài loạt AK mới đuổi nó đi được. Nó đi rồi nhưng vẫn chấm điểm, ghi tọa độ để ngày hôm sau, đêm hôm sau chúng sẽ trút pháo bầy, bom trộm trả thù.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »