tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
01.06.2009
Viễn Phương
Hoa trong đất (2- tiếp theo và hết)

Nhưng tình thế giờ đây đã khác hẳn rồi. Không nên chọc tức nó, mà phải kéo dài thời gian để anh em kịp rút vào xương sống. Cứ để nó hùng hổ gào thét.


Chúng sẽ giết chúng tôi bằng cách nào đây? Tôi nghĩ suy, căng thẳng. Chúng sẽ xua lũ chuột cống chui xuống mong bắt sống chúng tôi.


Chúng sẽ bơm hơi độc vào, hay đánh mìn hủy diệt?


Nếu bọn “chuột cống” chui xuống thì với cấu trúc của con địa đạo này tổ bảo vệ chúng tôi có thể đương đầu với một trung đội hoặc một đại đội Mỹ và đủ sức tiêu diệt chúng.


Nhưng nếu nó đánh mìn hoặc bơm hơi độc thì chúng tôi chỉ còn cách chui vào xương sống và chạy thật xa. Tôi đã thấy chúng đánh mìn. Hàng trăm mét địa đạo sâu năm, bảy thước, bị mìn nổ nổi nhồng lên như một vồng lang. Chắc chắn là ở dưới không còn một vật gì nguyên vẹn nữa.


Nhưng trong giờ phút nguy hiểm này, tôi vẫn tin rằng: chúng tôi sẽ sống!


“Phải tranh thủ thời gian”, tôi nghĩ và quay sang Sự: “Rút vào xương sống”.


Sự cằn nhằn: “Để coi nó làm gì cho biết mà! Rút chi sớm!”.


“Cái thằng! Chuyện giặc giã mà mày nói như trò chơi con nít. Láng cháng nó đánh banh không còn còn một hột thịt”. Tôi vừa nói, vừa nắm tay Sự lôi đi.


Bỗng tôi sực nhớ. Phải báo anh Hai Trần! Vì phải xây địa đạo gấp mà cơ quan ít người nên anh Hai không đào thẳng vào xương sống. Từ nơi anh vào xương sống khoảng cách khá xa, anh chỉ đào một lạch xương sườn trỗ qua địa đạo chúng tôi. Khi lâm sự, phải luồn qua địa đạo chúng tôi mới vào xương sống được. Bây giờ địa đạo chúng tôi đã lộ, nếu nó đánh địa đạo chúng tôi, e rằng sẽ có ảnh hưởng đến địa đạo của anh, tuy rằng từ đó đến đây phải qua mấy thượng, mấy trầm.


- “Sự à! Em vào nói với anh em chung tuốt vào xương sống, càng sâu càng tốt. Anh phải qua anh Hai Trần một chút!”.


- “Về mau nghen! Người ta đợi đó!”. Sự vừa lom khom chạy vừa nói.


Tôi chạy tẻ qua hướng Hai Trần.


Tiếng loa của địch vẫn đuổi theo đe dọa: “Các người đã bị phát hiện rồi. Đầu hàng sẽ được khoan hồng, ngoan cố sẽ bị tiêu diệt. Chiêu hồi hay Tử thần!”.


Tiếng loa phóng vào địa đạo rền vang đinh tai, nhức óc. Tôi vẫn lom khom lúc bò lúc chạy cố bỏ tiếng loa lại sau lưng. Khi tôi chui xuống trầm và đậy kín nắp lại thì sự yên tĩnh đã trở lại. Không còn nghe tiếng loa nữa. Tôi ngồi thở lấy sức một phút rồi tiếp tục đi, lại lên thượng, lại xuống trầm, lại lên thượng.


Tôi đội nắp lên thì thấy anh Hai đang lui cui nấu nước bằng cái “rề sô” dầu. Có lẽ anh đang chuẩn bị cữ cà phê sáng. Anh ghiền cà phê nặng. Hôm đi công tác ở Bù Đốp về tôi có mang cho anh một ký cà phê hột. Không xay được, anh rang như đậu phộng và khi tới cử anh lấy cối đá đâm lộp cộp như đâm tiêu.


Không kịp chào hỏi, tôi đã nói ngay:


- Nguy rồi anh Hai ơi! Địa đạo bị lộ rồi.


Nụ cười chớm nở trên môi anh vụt tắt ngấm. Anh vội khoác tay ra hiệu và chỉ vào trong. Tôi hiểu ý anh, vội leo lên, đến gần bên anh kề tai, thì thầm:


- Nó phát hiện miệng địa đạo rồi, Tám Quan bị thương không biết nặng nhẹ. Anh em đã rút vào xương sống.


Anh nhìn tôi như dò hỏi:


- Anh cũng nên đưa khách vào xương sống cho an toàn.


Tôi vừa nói vừa đưa mắt vào trong cùng địa đạo. Nơi ấy, có một ngọn đèn dầu tù mù đỏ quạch và bên cạnh có cái chai cắm mấy đóa hoa mua.


Tôi biết người con gái đang ở gần nơi ấy.


Tôi giục:


- Phải đi gấp thôi! Anh Hai!


Vừa nói, tôi vừa tuột xuống trầm.


- Thôi tôi về với anh em. Gấp rút lắm rồi!


Anh Hai vẫn bình tĩnh gọi cậu bảo vệ dặn dò nho nhỏ.


Khi tôi đội nắp thượng chung qua địa đạo của tôi thì không còn nghe tiếng loa của giặc nữa. Tôi lui cui đậy nắp kỹ càng. Bỗng một mùi hôi kỳ lạ làm tôi tối tăm mặt mũi.


- “Chất độc!” - Tôi nghĩ vậy và vội bụm miệng mũi chạy bán sống, bán chết vào hướng xương sống. Mắt tôi cay xè. Nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Tôi không còn thở được nữa rồi. Tôi không mở mắt được nữa rồi. Tôi vấp ngã xuống. Tôi cố đứng dậy. Nhưng sao trời đất quay cuồng, tôi bước đi lảo đảo. rồi lại ngã vật xuống. Tôi không đi được nữa rồi. Tôi nghe cháy trong tim, trong phổi. Tôi bò, tôi trườn. Tôi đã kiệt sức. Ôi! Tôi phải chết ở đây sao? Tôi cố nhích chân tay. Tay chân tôi tê liệt cả rồi.


Bỗng tôi nghe như trong mơ: “Đây rồi! Đây rồi!”. Tôi cố mở mắt, có mấy ánh đèn. Có mấy bóng người mặt mày quái dị! Mỹ ư? Tôi nhắm mắt lại và thiếp đi. bồng bềnh, bồng bềnh như trong chiếc thuyền trên ngọn sóng.


*


*           *


Giặc rút vào ngày thứ mười hai. Cuộc càn chấm dứt. Một sự im ắng đến kỳ lạ. Trên bầu trời, mới mấy giờ trước đây, máy bay bay lượn như ruồi, giờ đã hoàn toàn vắng lặng. Và xe tăng, và bộ binh, và pháo, tất cả đã rút đi hết để lại một cảnh hủy diệt hoàn toàn. Tất cả nhà cửa đều bị đốt cháy, chỉ còn lại những đống tro tàn gạch vụn bên cạnh những xác người xác thú cháy dở, dập nát, sình trương. Đồng bào, gia súc, lúa thóc chúng đều xúc chở đi hết. Thứ gì không mang đi được, chúng phá tan, hủy diệt. Người, chúng bắn, gia súc chúng giết, thóc lúa chúng đốt, giếng nước chúng phá sụp hoặc quẳng đầy xác người, xác thú. Đến người chết chúng cũng không để nằm yên, mồ mả chúng đánh bom, mìn tan nát.


Một sự im ắng đến kỳ lạ. Không một tiếng trâu bò, không một tiếng chó sủa, không một tiếng gà gáy, không một tiếng chim kêu. Trong những ngày lửa máu, chim chóc hoảng loạn táo tác đã bay trốn sang một vùng trời khác.


Sau những ngày sống trong sấm sét, bão giông, trong đạn bom gầm rú, bây giờ trong im ắng vô cùng, mình nghe tiếng nói của mình, mình nghe tiếng nói của bạn bè sao như lạ hẳn, và bóng mình bước đi trong cảnh tận cùng hủy diệt sao xem như thất thểu chập chờn. Tôi cứ có cảm giác như mình đang sống trên một hành tinh nào xa lạ. Một số lớn đồng bào bị giết. Hầu hết bà con bị xúc tát chở đi, những người còn sống sót như đang trong cơn ác mộng.


Anh em chúng tôi, một mặt lo đưa Tám Quan đi bệnh viện, mặt khác tiếp sức cùng du kích đi chôn xác người, xác thú. Trong những trận càn vô cùng ác liệt về sau, xác người cũng không ai còn sức lo chôn cất nữa, xương phơi trắng mặt đường.


Lượm cây cháy dựng dựng lên những chiếc chòi tạm bợ, phủ mấy tấm ni lông, chúng tôi cùng bà con tạm sống những ngày này. Đến bữa cơm chiều tôi sực nhớ:


Anh Hai Trần đâu? Người con gái ở đâu? Bảo vệ cơ quan anh đâu?


Mọi người xôn xao bàn tán. Mỗi người một ý.


Thằng Sự tỉnh bơ:


- Mấy thằng bảo vệ “chết nhác” của chú Hai không lo “bám”. Giặc rút về tới bên Mỹ cũng không hay. Giờ nầy đám thầy trò đang ngồi uống trà đâu ở dưới.


Thằng Hoàng bàn góp:


- Chắc nó “quần” dữ quá ông chịu không kham, ông tróc địa đạo, thầy trò kéo lên Lộc Thuận ngồi ăn hủ tíu ở trển.


Tụi trẻ thì nói năng cười cợt với nhau, nhưng người lớn thì lo lắng thật sự. Tư Hạ khều tôi ra ngoài, kề tai:


- Không chừng địa đạo bị lộ, bị bắt sống hết rồi.


Tôi trầm ngâm không trả lời, nhưng suy nghĩ miên man: “Có thể bị bắt sống, cũng có khả năng hy sinh tất cả. Trong cuộc chiến tranh ác liệt này, cái sống và cái chết luôn kề sát bên nhau, chỉ một phút, một giây, một đường tơ, một kẽ tóc. Sau một trận pháo, một trận bom, sau một trận càn, trận bố, người còn sống mới sực nhớ: “À mình còn sống đây!”. Và tại sao mình còn sống được đến lúc này lắm lúc thật khó lòng giải đáp. Hay chăng? Không! Khéo chăng? Không! Chỉ là do may mắn mà còn! Không ai dám nói là do mình giỏi, mình hay mà còn sống được!”.


- Sự ơi! Em với Hết đi lên Hố Bò, Lộc Thuận tìm chú Hai đi! Đi đường cho kỹ, coi chừng chiến thuật “bừa rụng răng” của nó! Tôi phân công cho Sự và Hết.


Tư Hạ dặn thêm:


- Coi chừng mìn trái du kích tháo gỡ chưa hết.


Sự và Hết đi rồi, còn lại bao nhiêu, chúng tôi ùa vào rừng mò từng tấc đất, cố tìm cho ra miệng địa đạo của anh. Nhưng mãi đến nửa đêm, không ai tìm được. Anh giấu miệng địa đạo kỹ quá. Bấy giờ bọn thằng Sự, Hết đã về! Anh Hai Trần và khách của anh không có ở Hố Bò, cũng không thấy ở Lộc Thuận.


Một nỗi lo lắng bao trùm. Lịnh Đảng ủy phải xác minh cho kỳ được xem anh Hai đã hy sinh hay bị bắt? Chúng tôi hiểu rất rõ tầm quan trọng của sự việc này. Nếu anh Hai và các đồng chí hy sinh thì là một mất mát không gì bù đắp được, một nỗi đau đớn cho tất cả chúng tôi. Nhưng nếu anh Hai và các anh chị bị giặc bắt thì nỗi lo lắng cũng to lớn vô cùng. Bao nhiêu căn cứ, bao nhiêu cơ sở nội thành, cả một phong trào, bao nhiêu sinh mạng đều nằm trong bàn tay của anh Hai và các anh, các chị. Vốn là người từng hoạt động bí mật ở nội thành chúng tôi hiểu rất rõ thế nào là tác hại lớn lao của một đầu mối, một cơ sở bị bể, huống chi đây là trường hợp của đồng chí lãnh đạo phong trào.


Chỉ còn cách cuối cùng là chui xuống địa đạo chúng tôi, rồi từ đó luồn qua địa đạo anh Hai như tôi đã đi hôm trước. Nhưng một điều khó khăn nan giải là địa đạo của tôi bây giờ đầy hơi độc và miệng địa đạo giặc đã đánh sụp rồi.


Nhưng tất cả đều hạ quyết tâm! Chấp hành chỉ thị của Đảng ủy quyết tâm xuống kỳ được địa đạo để tìm anh Hai, để làm sáng tỏ vấn đề này, để có mọi biện pháp chủ động, ngăn ngừa đối phó.


Giữa đêm khuya chúng tôi đốt đèn lên ra khai miệng địa đạo đã bị đánh sụp. Phải hết sức kỹ lưỡng vì còn sợ bọn chúng gài mìn. Miệng địa đạo vừa khai, hơi độc đã bốc lên ngùn ngụt, hai người đã té xỉu vì thở nhằm hơi độc.


Chúng tôi liền lấy khăn nhúng nước buộc chặt ngang mũi, đốn cây để nguyên tàng lá bó lại thọt xuống miệng địa đạo kéo lên kéo xuống như thụt bễ lò rèn cho tan hơi độc.


Độ nửa giờ sau, đốt nùi giấy thả xuống thấy còn cháy leo lét, biết rằng nồng độ đã giảm nhiều chúng tôi liền cho Sơn và Hoàng đội bọc “phòng hóa”, cột dây luộc ngang eo ếch bò xuống. Đây là hai thanh niên gan dạ, xông xáo nhất và cũng là “lưng nách” nhất trong cơ quan. Phải cột dây eo ếch là phòng khi bất trắc, các cậu có cần tiếp cứu thì giật dây báo hiệu cho mình xuống. Hoặc giả các cậu có ngất đi vì chất độc thì mình cũng có thể kéo ra nhanh hơn.


Mười phút qua, mọi người hồi hộp chờ đợi. Bỗng thấy dây báo hiệu rung lia rồi nghe như các cậu hấp tấp bò ra.


- Xỉu rồi! Xỉu rồi! - Sơn vừa kéo bạn, vừa la thảng thốt.


Vừa ra đến miệng hầm thì Sơn cũng ngất xỉu. Anh em phải kéo lên làm hô hấp nhân tạo, gần nửa giờ sau hai đứa mới tỉnh dần. Bọc phòng hóa thô sơ không chịu nổi loại chất độc này.


Bây giờ trời đã đâm mây ngang, chúng tôi vào nghỉ một lát lấy sức. Ngày mai rồi lo tiếp. Tuy mệt mỏi rã rời tôi không tài nào nhắm mắt. Trong đêm, như có một cặp mắt to buồn xoáy thẳng vào tim. Tôi nghĩ: Phải xuống hầm? Làm sao để xuống hầm. Xin một lần nhìn thấy mặt em. Anh Hai ơi!


Tôi sực nhớ! Trong trận Mỹ càn đầu tiên ở Bến Cát, du kích có hạ được mấy tên lính sử dụng hơi độc và thu được mấy chiếc mặt nạ phòng hơi độc.


Tôi trở dậy, nhóm lửa pha trà, dặn anh em ở nhà tiếp tục thụt cho tan hơi độc, rồi tôi lội sông Sài Gòn sang Bến Cát.


Giữa trưa tôi về đến. Đã có mặt nạ rồi. Mặt nạ Mỹ để chống hơi độc Mỹ đây!


“Các em can ngăn tôi, nhưng xin để tôi vào lòng địa đạo. Tôi muốn tự mình xác minh sự việc”. Tôi nói với các em trong cơ quan như thế, nhưng ai nghe tôi nói với lòng: “Em ơi! Anh muốn gặp lại em. Anh Hai ơi! Tôi muốn gặp Anh”.


Tôi có ý nghĩ rằng: nếu hôm nay tôi không gặp em. Nếu hôm nay tôi không gặp anh Hai Trần thì mãi mãi tôi sẽ không bao giờ còn gặp nữa. Và tôi mang mặt nạ chui vào địa đạo.


Ánh đèn pin lóe lên xanh xao. Địa đạo hôm nay như âm u buồn hơn mọi bữa. Trong địa đạo không có dấu vết gì mới lạ. Bỗng dưng trong lòng tôi dâng lên một nỗi buồn da diết. Từ năm năm nay chúng tôi sống chết với đoạn địa đạo này. Nhưng hôm nay là lần chót tôi vào địa đạo. Từ đây vĩnh biệt rồi, địa đạo sẽ mãi mãi tối om trong lòng đất, mãi lạnh lẽo và sẽ không còn bao giờ nghe hơi ấm áp của con người. Một nỗi buồn ly biệt thăm thẳm sâu xa. Địa đạo ơi! Bao nhiêu ngày địa đạo đã che chở, ấp ủ chúng tôi, nhưng hôm nay đành xa vĩnh viễn.


Tôi bò qua nhánh địa đạo rẽ sang anh Hai. Bỗng tôi giật mình suýt kêu lên. Nắp thượng đã mở trống rồi! Tôi vẫn nhớ rõ, hôm ấy khi qua đây, tôi đã đóng nắp nầy rất kỹ! Thế mà hôm nay nắp đã bị mở trống rồi. Ai? Ai mở và đi đâu?


Nếu là anh Hai và các đồng chí thì đến đây chỉ còn hai ngả: một là vào xương sống thì đã gặp chúng tôi ở đấy, hai là chỉ một con đường đi ra hướng giặc mà thôi. Lòng tôi bấn loạn. Hay là các anh các chị đã chết ngạt tất cả trên con đường đi vào xương sống? Điều ấy rất có thể. Như tôi hôm ấy. Nếu chỉ trễ vài phút thôi. Nếu bọn thằng Hoàng, thằng Sơn, thằng Sự, thằng Hết không đội “bọc phòng độc” chui vào địa đạo, xông qua vùng chất độc để tìm tôi và đã gặp tôi khi tôi vừa ngã xuống. chỉ trễ vài phút thôi. thì giờ đây tôi đã nằm im mãi mãi trong góc địa đạo ấy rồi. Lòng tôi như lửa cháy. Anh Hai ơi! Em ơi!.


Tôi hối hả bò vào. xuống trầm. lên thượng. xuống trầm. Bỗng tôi khựng lại. trố mắt sững sờ: Ngay dưới nắp thượng một chiếc dao găm Mỹ, một chiếc đèn pin Mỹ và một vũng máu khô quánh, đen ngòm. Tôi nhìn kỹ mấy lỗ đạn khoét sâu trong đất. Thằng chuột cống Mỹ đã chui vào tới đây rồi. và nó đã bị bắn chết tại đây.


Tôi đứng thẳng dậy, xô bật nắp ra. Hai chiếc xác người ngồi đó. Tôi rọi đèn pin và kêu lên: “Anh Hai!”. Anh Hai vẫn ngồi đó. Anh đã chết rồi, chết trong tư thế chiến đấu. Anh ngồi dựa vào tường, đầu ngoẻo xuống gối, khẩu súng nằm lỏng lẻo trong bàn tay. Sau lưng anh, chú bảo vệ tí hon Bé Cưng, chú bé chưa tròn 15 tuổi cũng đang ngồi dựa vào vách đất, vẫn cái dáng vô tư, cái vẻ tinh nghịch, trái lựu đạn nằm lỏng lẻo trong bàn tay cứng lạnh.


- “Chết cả rồi!”. Tôi nói như kẻ mất hồn. “Chết cả rồi!”.


Tôi rọi đèn pin quanh địa đạo. Một đống tro dày. Trước lúc ra đi, anh Hai đã cố đốt sạch những tài liệu mật.


“Anh Hai ơi!” - Tôi lại kêu lên!


Và tôi đã hiểu ra tất cả.


Cuộc chiến đấu cuối cùng đã xảy ra tại đây. Anh Hai thủ tiêu tất cả tài liệu và sắp sửa di chuyển thì thằng chuột cống Mỹ bò vào tới. Nó đội nắp hầm chui lên. Anh Hai đã bắn nó tại đây, nhưng chất độc đã lọt vào hầm và cả hầm đều chết ngộp.


“Anh Hai ơi!” - Tôi lại kêu lên.


Tôi lách qua hai xác người, bước vào trong cùng địa đạo. Người con gái đang nằm kia, nhắm mắt và yên tĩnh, mảnh khăn rằn nghi trang vẫn che nửa mặt. Bên cạnh em, ngọn đèn cạn dầu đã tắt tự bao giờ. Hai đóa hoa mua đã héo rũ, chỉ còn trơ vơ mấy chiếc lá nhạt vàng.


“Em ơi! Lần cuối cùng, xin cho anh được nhìn thấy mặt em. Anh Út ơi! Thôi hôm nay đừng ngăn cắt nữa!”.


Tôi từ từ giở tấm khăn rằn. Gương mặt em đẹp lồ lộ dưới ánh đèn. Môi em hé một nụ cười trang trọng. Lúm đồng tiền duyên dáng điểm trang cho gương mặt xanh buồn.


Em nằm ngay ngắn, bình thản và yên tĩnh. Tóc em hơi rối lòa xòa trên trán. Tôi nhẹ nhàng vuốt mái tóc lại cho suông.


Mái tóc nầy, gương mặt nầy dáng hình nầy sẽ mãi mãi ở trong tôi.


Và mối thù này sẽ mãi mãi ở trong tôi.


Vĩnh biệt em!


Anh Út ơi!


Bé Cưng ơi!


VP


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »